PDA

View Full Version : Góp nhặt Thành ngữ Tục ngữ



matbiec
28-11-2011, 06:31 PM
Mỗi ngày góp nhặt và ôn lại các câu thành ngữ, tục ngữ sẽ giúp ích rất nhiều cho chúng ta trong việc trau dồi tiếng Việt. Việc chú giải và trình bày tường tận về thành ngữ và tục ngữ Việt Nam chẳng những giúp chúng ta hiểu rõ hơn và đầy đủ hơn (để vận dụng chính xác) mà còn giúp trau dồi kiến thức về kho tàng văn học dân gian xưa của cha ông ta, góp phần làm cơ sở cho những hiểu biết một cách khoa học về những điển tích, điển cố, giá trị văn chương hay giá trị sử dụng, và có một thực tế là nhiều khi ý nghĩa (hiện thời hoặc nguyên gốc) của nó lại hoàn toàn khác xa với cách hiểu và cách sử dụng hiện tại.


1. Áo gấm đi đêm

Gấm là thứ hàng dệt bằng tơ nhiều màu có hình hoa lá sặc sở. Thời trước, gấm là một trong những thứ vải quý hiếm, thường dùng để may áo. Vì vậy, áo gấm (áo may bằng vải gấm) được coi là biểu tượng của sự giàu sang, phú quý trong sự đối lập với áo rách biểu tượng của sự nghèo hèn. So sánh:

“Chồng em áo rách em thương
chồng người áo gấm xông hương mặc người”
(ca dao)

Hơn thế nữa, áo gấm còn biểu trưng cho sự thành đạt trong học hành, thi cử. Những người học trò sau các kỳ thi hương, thi hội trở về quê (vinh quy bái tổ) đều mặc áo gấm để tỏ rõ sự thành đạt, công thành doanh toại của mình trước họ hàng làng nước. Nhân dân ta hay nói: áo gấm mặc về chính là nói về sự đỗ đạt trong thi cử, một mong ước chính đáng của những người lều chõng đi thi.

“Cũng đừng áy náy lòng quê
Bao giờ áo gấm mặc về mới thôi”
(Phan Trần)

Áo gấm chỉ mặc ban ngày mới được mọi người nhận thấy sự rực rỡ của nó. Đối với người giàu có, sự rực rỡ của áo gấm phô bày cho thiên hạ biết anh ta thuộc hạng người lắm tiền, nhiều của. Đối với các chàng học trò sau khi thi trở về, áo gấm, mách bảo cho mọi người về sự đỗ đạt của anh ta. Ấy thế mà mặc áo gấm ban đêm, đi trên đường làng thuở trứơc với khung cảnh tối tăm mù mịt như thế thì ai hay biết, ai phân biệt gấm vóc với các thứ vải khác được. Trong Hán sử (Trung quốc) có câu “Phú quý bất quy cố hương như cẩm y dạ hành” (giàu sang mà không trở về quê thì cũng mặc áo gấm đi đêm). Thành ngữ này được dùng trong tiếng Việt với hai nghĩa: (1) Của quý mà không dùng đúng lúc, đúng chỗ thì cũng hoài phí (giống như mặc chiếc áo gấm - loại áo may bằng vải gấm, biểu tượng cho sự giàu sang trứơc đây mà đi trong đêm thì ai nhìn thấy được, nên nó cũng giống như mọi áo may bằng vải thường khác mà thôi). (2) Lối khoe khoang phô trương sự giàu có một cách kịch cỡm, không phải lối, không tương hợp với hoàn cảnh hay chính con người đó.

Những điều phân tích, luận giải ở trên cũng cho thấy, đối lập với thành ngữ áo gấm đi đêm là thành ngữ áo gấm ban ngày. Cũng vậy, trái với gấm đêm (dạng rút gọn của áo gấm đi đêm) là gấm ngày (dạng rút gọn của áo gấm ban ngày):

“Vẻ vang rực rỡ gấm ngày
Ai ai chẳng muốn bạn bầy với tiên”
(Nguyễn Huy Tự, Nguyễn Thiện)

(Theo Kể chuyện thành ngữ, tục ngữ - Viện Ngôn ngữ học)

matbiec
28-11-2011, 06:33 PM
2. Áo vải, cờ đào

Áo vải cờ đào là hình ảnh biểu trưng cho Quang Trung Nguyễn Huệ, có nghĩa tương đương như tổ hợp từ “Anh hùng áo vải”. Thành ngữ “áo vải, cờ đào” bắt nguồn từ bài thơ khóc chồng của Ngọc Hân công chúa, bài “Ai tư vãn”.

Ngọc Hân công chúa chính là Lê Ngọc Hân, sinh năm 1770, mất năm 1799. con gái thứ 21 của Lê Hiến Tông. Bà được học hành đến nơi đến chốn, giỏi văn thơ. Năm 1786, Bà kết duyên với Nguyễn Huệ, khi ông ra Bắc phò Lê, diệt Trịnh rồi bà theo chồng vào Phú Xuân. Năm 1788, Nguyễn Huệ lên ngôi hoàng đế, lấy hiệu là Quang Trung, Lê Ngọc Hân được phong là Bắc cung hoàng hậu. Năm 1792, Quang Trung mất, Lê Ngọc Hân khóc chồng bằng bài thơ Nôm “Ai tư vãn: và bài “Văn tế Quang Trung”, “ai tư vãn” là bài thơ Nôm nổi tiếng không chỉ vì nó phản ảnh được một cách sâu sắc nỗi đau của một goá phụ trẻ, mà còn là tư liệu quí để người đời hiểu được đời sống tình cảm, sự nghiệp cứu nước, dựng nước của Quang Trung, người anh hùng dân tộc. Điều đó được Ngọc Hân gói lại trong hai câu:

“Mà nay áo vải cờ đào
Giúp dân dựng nước biết bao công trình”
(Ai tư vãn)

về sau này, hễ nói đến “áo vải, cờ đào”, hay “người anh hùng áo vải”, người Việt Nam ta ai cũng biết với lòng tự hào sâu sắc; đó là Quang Trung - Nguyễn Huệ!

(Theo Kể chuyện thành ngữ, tục ngữ - Viện Ngôn ngữ học)

harrybotbeo
28-11-2011, 08:23 PM
Mỗi ngày góp nhặt và ôn lại các câu thành ngữ, tục ngữ sẽ giúp ích rất nhiều cho chúng ta trong việc trau dồi tiếng Việt. Việc chú giải và trình bày tường tận về thành ngữ và tục ngữ Việt Nam chẳng những giúp chúng ta hiểu rõ hơn và đầy đủ hơn (để vận dụng chính xác) mà còn giúp trau dồi kiến thức về kho tàng văn học dân gian xưa của cha ông ta, góp phần làm cơ sở cho những hiểu biết một cách khoa học về những điển tích, điển cố, giá trị văn chương hay giá trị sử dụng, và có một thực tế là nhiều khi ý nghĩa (hiện thời hoặc nguyên gốc) của nó lại hoàn toàn khác xa với cách hiểu và cách sử dụng hiện tại.


1. Áo gấm đi đêm

Gấm là thứ hàng dệt bằng tơ nhiều màu có hình hoa lá sặc sở. Thời trước, gấm là một trong những thứ vải quý hiếm, thường dùng để may áo. Vì vậy, áo gấm (áo may bằng vải gấm) được coi là biểu tượng của sự giàu sang, phú quý trong sự đối lập với áo rách biểu tượng của sự nghèo hèn. So sánh:

“Chồng em áo rách em thương
chồng người áo gấm xông hương mặc người”
(ca dao)

Hơn thế nữa, áo gấm còn biểu trưng cho sự thành đạt trong học hành, thi cử. Những người học trò sau các kỳ thi hương, thi hội trở về quê (vinh quy bái tổ) đều mặc áo gấm để tỏ rõ sự thành đạt, công thành doanh toại của mình trước họ hàng làng nước. Nhân dân ta hay nói: áo gấm mặc về chính là nói về sự đỗ đạt trong thi cử, một mong ước chính đáng của những người lều chõng đi thi.

“Cũng đừng áy náy lòng quê
Bao giờ áo gấm mặc về mới thôi”
(Phan Trần)

Áo gấm chỉ mặc ban ngày mới được mọi người nhận thấy sự rực rỡ của nó. Đối với người giàu có, sự rực rỡ của áo gấm phô bày cho thiên hạ biết anh ta thuộc hạng người lắm tiền, nhiều của. Đối với các chàng học trò sau khi thi trở về, áo gấm, mách bảo cho mọi người về sự đỗ đạt của anh ta. Ấy thế mà mặc áo gấm ban đêm, đi trên đường làng thuở trứơc với khung cảnh tối tăm mù mịt như thế thì ai hay biết, ai phân biệt gấm vóc với các thứ vải khác được. Trong Hán sử (Trung quốc) có câu “Phú quý bất quy cố hương như cẩm y dạ hành” (giàu sang mà không trở về quê thì cũng mặc áo gấm đi đêm). Thành ngữ này được dùng trong tiếng Việt với hai nghĩa: (1) Của quý mà không dùng đúng lúc, đúng chỗ thì cũng hoài phí (giống như mặc chiếc áo gấm - loại áo may bằng vải gấm, biểu tượng cho sự giàu sang trứơc đây mà đi trong đêm thì ai nhìn thấy được, nên nó cũng giống như mọi áo may bằng vải thường khác mà thôi). (2) Lối khoe khoang phô trương sự giàu có một cách kịch cỡm, không phải lối, không tương hợp với hoàn cảnh hay chính con người đó.

Những điều phân tích, luận giải ở trên cũng cho thấy, đối lập với thành ngữ áo gấm đi đêm là thành ngữ áo gấm ban ngày. Cũng vậy, trái với gấm đêm (dạng rút gọn của áo gấm đi đêm) là gấm ngày (dạng rút gọn của áo gấm ban ngày):

“Vẻ vang rực rỡ gấm ngày
Ai ai chẳng muốn bạn bầy với tiên”
(Nguyễn Huy Tự, Nguyễn Thiện)

(Theo Kể chuyện thành ngữ, tục ngữ - Viện Ngôn ngữ học)


Nhân đọc câu thành ngữ này Harrybotbeo xin chia sẻ câu chuyện từng nghe như sau,

Chuyện kể:

Có một người học trò học dốt, nhưng hay khoác lác. Chàng ta nói với vợ:

- Ta phen này đi thi nhất định đỗ. Nhà rồi sẽ thấy, ta sẽ có áo gấm mặc về làng, cả làng ra đón. Bọn quan lại nhãi nhép ở cái tổng này phải ra mà cúi lạy ta. Lúc ấy ta thật là danh giá, mình cũng thơm lây.
Người vợ chẳng chút nghi ngờ, nàng vẫn ngày đêm tần tảo lo toan cho chồng ăn học và mong có ngày chồng đỗ đạt cho cả nhà vinh hiển.

Kỳ thi đến, chàng trai khoác lác kia không học đến bến, trượt đầu nước. Nghĩ lời ngày nào đã trót hãnh diện với vợ rằng sẽ được ban áo gấm, nên chàng xấu hổ lắm không dám về làng. Nhưng đi đâu cho được, chàng ta đành làm thân với một người học trò thi đỗ đã được bổ làm quan, mượn cái áo gấm. Anh chàng mừng lắm, nhưng không biết mặc nó vào lúc nào để về làng. Mặc ban ngày thì không tiện, sợ có người biết mình thi trượt sẽ kêu quan. Anh ta đành chờ đêm tối, mặc áo gấm vào rồi lẻn về nhà. Về đến nhà, vợ thấy chồng mặc áo gấm mới lấy làm vinh dự lắm. Đoạn nàng nói với chồng:

- Sáng mai, tôi sẽ mời nội ngoại đến nhà mình, ta ăn mừng thầy nó được ban áo gấm.

Anh chàng sợ, sáng ra mới cởi áo cất vào tay nải. Người trong làng được tin kéo đến đông lắm. Người thì mừng cho anh chàng nọ, kẻ thì hiếu kỳ muốn được xem áo gấm thực hư thế nào. Chờ mãi, sốt ruột, một người bảo:

- Áo gấm đâu, mặc vào cho cả làng thơm lây.

Anh chàng học trò nọ, mới lúng túng nói:

- Áo gấm của tôi, vua ban chỉ được mặc đi đêm thôi.

Biết chuyện, từ bấy làng có câu:

Vẻ vang gì áo gấm đi đêm
Khác gì cái mảnh chăn mền vắt vai.
(Theo Đi tìm điển tích thành ngữ của Tiêu Hà Minh – NXB Thông Tấn)

matbiec
29-11-2011, 03:25 PM
3. Ăn cháo đái bát/ Ăn cháo đá bát

Thành ngữ ăn cháo đái bát gồm hai vế:
- vế thứ nhất nói về việc nhận ân nghĩa (ăn cháo)
- về thứ hai nói về sự bội bạc ân nghĩa đó (đái bát)

\/ề thành ngữ này, một số người còn băn khoăn, không hiểu dạng đích thực của nó là ăn cháo đái bát hay ăn cháo đá bát. Thực ra, điều đó chẳng có nghĩa lý gì, bởi vì hành vi đái bát hay đá bát đều biểu thị sự phũ phàng đến thô bạo của người đời. Dĩ nhiên, hành vi đái bát gây ấn tượng mạnh mẽ, nặng nề hơn và phù hợp với cách nói khoa trương, phóng đại mà dân gian vẫn ưa dùng. Hơn nữa, trên thực tế sử dụng, hầu như ta chỉ gặp dạng ăn cháo đái bát mà thôi.
Như vậy, chẳng cần biện luận nhiều, chúng ta cũng dễ dàng chấp nhận dạng thức ăn cháo đái bát là dạng đích thực của thành ngữ đang xét. Vấn đề đáng quan tâm hơn là tại sao dân gian lại dùng cụm từ ăn cháo để biểu hiện việc ân nghĩa? Có bao nhiêu thứ khác, quý hiếm hơn, đáng giá hơn sao không được chọn dùng, trong khi đó lại dùng cháo, một thức ăn bậc thấp nhất, để chỉ cái ân cái nghĩa do người khác mang lại?
Thông thường cháo là món ăn nhẹ, dễ tiêu thích hợp với người bệnh đuối sức, không ăn được cơm. Bát cháo từ tay người khác mang lại chăm sóc lẽ nào người bệnh chẳng biết nâng niu trân trọng? Hơn nữa, cháo trong dân gian các cụ bà thường dùng để cúng lễ ở các miếu dưới gốc đa, sau đó ban phát cho trẻ để lấy phước. Vì thế mà có chuyện “cướp cháo gốc (lá) đa”. Khi gặp nạn đói kém nhiều người quẫn bách cơm không có ăn, áo không có mặc, sống thoi thóp trong hoạn nạn, những người có lòng nhân đức thường nấu cháo để phát chẩn, giúp cho người bị nạn bát cháo cầm hơi. Bát cháo cứu giúp con người ra khỏi cái đói đến chết người cũng chẳng đáng ghi lòng tạc dạ hay sao? Một miếng khi đói bằng mót gói khi no là thế!
Những điều liên tưởng ở trên cho thấy cách lập ý lập tứ của thành ngữ ăn cháo đái bát vừa cụ thể vừa rất sâu sắc. Với quan niệm sâu kín đó, nhân dân đã khéo léo tạo nên một sự đối lập gắt gao giữa một bên là ân nghĩa với một bên khác là hành vi phụ bạc đến mức thô bạo nhằm toát lên giá trị phê phán của thành ngữ ăn cháo đái bát đối với những kẻ sống không có trước có sau, sống vô ơn bạc nghĩa.
VD: “Cậu nào lấy mất bi đông người ta rồi. Chỉ được cái ăn cháo đái bát, uống cho khỏe vào rồi vất cả bi đông người ta đi”. (Lê Khánh. “Những ngày vui”).
Cùng nghĩa với ăn cháo đái bát, trong tiếng Việt còn có những thành ngữ như qua cầu rút ván, qua sông đấm vào sóng... Tuy vậy, khi sử dụng cần chú ý đến sự khác nhau rất tinh tế về sắc thái ý nghĩa của chúng.

matbiec
29-11-2011, 03:38 PM
4. Ăn cơm nhà, vác (thổi) tù và hàng tổng

Tù và làm bằng vỏ ốc hay bằng sừng trâu, dùng để báo hiệu khi có việc quan hay có động dạng trộm cướp, cháy nhà v.v… Việc thổi tù và báo hiệu ngày xưa thuộc nhiệm vụ tuần tráng. Tuần tráng là những người trai tráng không có bằng cấp, chức vị được cắt cử ra để trông coi trật tự và an ninh trong làng.
Ngày trước ở nông thôn, tổng là đơn vị hành chính cấp cơ sở (theo cách nói bây giờ) bao gồm một số xã, nhiều tổng mới hợp thành một phủ (tương đương huyện bây giờ). Trong tổng, to nhất là chánh tổng rồi đến lý trưởng các làng xã và bé nhất là anh mõ làng, tức là người đàn ông cùng đinh, không có tấc đất cắm dùi, chuyên đi làm thuê và kiềm nghề làm mõ. Hể có việc gì của làng: ma chay, đình đám, cưới xin thuế má thì anh mõ có trách nhiệm phải đi gõ mõ báo tin cho cả làng, cả xã biết. Anh mõ phải làm nhiệm vụ ấy như một nghĩa vụ với làng mà không được trả công, không được hưởng một quyền lợi gì cả. Ngoài một công cụ thông tin là cái mõ, ngày xưa còn cái tù và tức là vỏ một con ốc biển hoặc một cái sừng trâu thông hai đầu dùng hơi thổi để báo tin tức, việc làng. Việc dùng tù và đi thổi khắp làng, khắp tổng mà chẳng được hưởng lợi lộc gì chính là cơ sở để xuất hiện thành ngữ ăn cơm nhà thổi tù và hàng tổng hay ăn cơm nhà vác tù và hàng tổng.
Thành ngữ trên thường được dùng trong tiếng Việt để nói cái ý những người làm việc công, và không được hưởng tí quyền lợi gì.
Dần dà, thành ngữ ăn cơm nhà thổi tù và hàng tổng hay ăn cơm nhà vác tù và hàng tổng được mở rộng ý nghĩa ra. Tất cả những việc làm tốn công, vô ích vì không mang lại được hiệu quả gì đều có thể được ví bằng thành ngữ này.
Gần nghĩa với thành ngữ này, trong tiếng Việt còn có thành ngữ ăn cơm nhà vác ngà voi.

matbiec
03-12-2011, 09:39 AM
5. Ăn cơm chúa, múa tối ngày

Tương truyền, ở một phủ chúa nọ, có một quan thái giám dâng cho chúa một con công quý. Con công không những đẹp sặc sỡ mà còn có điệu múa chẳng khác gì kỹ nữ. Từ ngày có con công, chúa quên cả đội kỹ nữ, suốt ngày thả công ra khuê văn để xem công xoè cánh, xoè đuôi, liệng chân, lấy làm mãn nguyện lắm.

Một con vẹt trong vườn thượng uyển ngày ngày nhìn thấy công múa, quanh đi quẩn lại chỉ có mỗi một điệu chán ngắt, một hôm, vẹt mới bay lại gần công nói:

- Chị công ơi, chị đẹp sặc sỡ là vậy, nhưng tôi thấy chị chỉ có mỗi điệu xoè cánh, xoè đuôi, liệng chân, ngày nào cũng vậy sao hả chị công?

Công mới nghển cổ, vênh mỏ lên mà rằng:

- Tôi ăn nhà chúa, ngủ nhà chúa. Ngày ngày chỉ có viẹc xoè đuôi, xoè cánh ra. Việc chỉ có vậy, chẳng mất công luyện rèn học hành gì mà lại được ăn ngon, còn gì hơn thế nữa.

Vẹt mới nói:

- Thế chị làm mãi vậy, không biết chán à? Công vẫn dương dương tự đắc:

- Tôi múa cũng quen rồi, cả ngày chỉ có vậy, từ sáng đến tối, có gì mà phải phàn nàn. Cứ xem như các cô kỹ nữ trong phủ cũng vậy, ngày nào cũng múa, hết ngày lại đêm, các cô cóc kêu ca gì đâu.
Phong cách “ăn cơm chúa, múa tối ngày” dành cho những người làm việc quấy quá, không hiệu quả, cốt cho xong việc, giống như:
Ăn nhà chúa, ngủ nhà quan
Ngày ngày vác mặt ra làng rêu rao.

Cải cách hành chính mà không tính đến việc tiết kiệm thời gian và nâng cao chất lượng công việc thì thật là lãng phí, càng dẫn đến tình trạng quan liêu.


Chúa cho ăn, chúa cho mặc, thì cứ hát, cứ múa cho vui tai thích mắt chúa trọn ngày! Đó là tư tưởng phục vụ và trả công của những người "nghệ sĩ chuyên nghiệp" ngày xưa. Họ được chúa nuôi để đàn hát, nhảy múa làm trò tiêu khiển mà lại! Tinh thần đó được phản ánh qua câu thành ngữ ăn cơm chúa múa tối ngày. Chúa trong câu thành ngữ này là ông chủ quyền quý nói chung, mà trước hết là các bậc vua chúa.

Bởi chung, ngày xưa các bậc vua chúa đều có đội ca kĩ, các cung tần mĩ nữ múa hát mua vui. Nhưng chẳng cứ gì vua chúa mới có đám ca hát này mà ngay cả các lãnh chúa từng vùng cũng có. Rồi, chúa đôi khi cũng chỉ là những người ở thôn xã, bỏ tiền ra thuê các con hát, gánh hát phục vụ trong một thời gian ngắn, nhân dịp lễ, tết hay nhân các công chuyện lớn trong gia đình, trong họ hàng. Dẫu được hát, được múa trong cung vua, phủ chúa hay trong các điền trang, các nhà quyền quí ở thôn quê, thì bọn họ đều là tôi tớ được họ nuôi nấng, có cơm ăn, áo mặc, do đó cũng có phận sự phục vụ các ông chúa bà chủ.

Có lẽ, thoạt tiên, thành ngữ ăn cơm chúa múa tối ngày chỉ phản ánh một hiện thực là đội ca kĩ suốt ngày đêm múa hát phục vụ vua chúa, và các gia chủ. Cùng với hiện thực đó còn là tinh thần trách nhiệm, bổn phận của kẻ tôi đòi đối với chủ, và không ngoại trừ tinh thần "yêu ngành yêu nghề" và cảm hứng nghệ thuật với họ. Thế nhưng, trong mắt người đời, những con người này thuộc lớp người bị coi là thấp hèn, là "xướng ca vô loài".

Lại nữa, sự múa may quay cuồng suốt ngày, đối với người ngoài cuộc, chẳng có nghĩa lý gì mà chỉ là chuyện tầm phào và vô tích sự. Kẻ đứng ngoài cuộc, hẳn là chẳng ai tin trong lời hát kia, trong điệu múa nọ là kết quả của tinh thần tận tâm, tận lực, là sự say mê, yêu thích với cảm hứng nghệ thuật do bản mệnh ngành nghề đưa đến. Ngược lại, họ dễ dàng gán ghép hoạt động của người nghệ sĩ cũ tính chất chán chường, cố cho xong chuyện, cho hết ngày để khỏi thất thố với đồng tiền, bát cơm, manh áo của chủ bỏ ra. Thực hư thế nào chỉ có bản thân các ca sĩ, các vũ nữ mới biết đích thực, chân xác.

Dẫu vậy, với quan sát riêng, nhận thức riêng với các đánh giá riêng của người đời thì vẫn cứ tồn tại hiển nhiên một thực tế là ăn cơm chúa múa tối ngày, biểu thị lối làm quấy quá cho xong chuyện, cho hết ngày, lối làm việc chỉ chú ý tới thời gian mà không chú ý đến hiệu quả. Cách làm ăn đó không còn phù hợp với cuộc sống hôm nay, cho nên cần phải đả phá, loại bỏ.

“Công trường không phải là nơi ăn cơm chúa múa tối ngày, tiền công ở công trường cũng không phải là nước sông gạo chợ mà là ở đâu cũng mồ hôi nước mắt của nhân dân cả thôi” (Bàng Sĩ Nguyên, “Niềm vui”).

matbiec
03-12-2011, 09:44 AM
6. Ăn chay niệm Phật nói lời từ bi

Thành ngữ ăn chay niệm Phật, nói lời từ bi được lưu truyền rộng rãi trong Phật giáo nói riêng, trong nhân dân nói chung để chỉ sự ăn uống thanh đạm, tụng kinh thờ Phật, nói năng hiền từ, không độc địa trong lời nói cửa miệng.

Theo Phật giáo, ăn chay là ăn không quá giờ Ngọ, không ăn thịt các động vật. Niệm Phật là xưng đọc, nghĩ đến danh hiệu của Phật. Nói lời từ bi là nói những lời tâm phúc, tốt lành, thanh nhã, mang lại lợi ích cho mọi người, mọi loài, không thêu dệt, không nói dối, lật lọng, không chửi bới nguyền rủa, bởi từ là ban cho sự vui, bi là cứu cho khỏi khổ ải.

Lần giở trang sử Phật giáo, chúng ta được gặp Tuệ Viễn ở Lư Sơn (vào thế kỉ 7, đời Đường) đã có công lập ra liên xã, phổ biến phép nệm Phật, ăn chay, hướng dẫn tu Tịnh độ. Thời ấy, Tuệ Viễn đã ra quy ước trong toàn xã ai ai cũng phải ăn chay niệm Phật và lời nói ra phải đủ đức tính từ bi, không được ngôn đàm hí tiếu. Thành ngữ ăn chay niệm Phật, nói lời từ bi có từ thuở đó.

Trong sử dụng ngôn ngữ, nhiều khi thành ngữ ăn chay niệm Phật, nói lời từ bi được rút gọn thành ăn chay niệm Phật. Dạng thức rút gọn này vẫn phản ánh đầy đủ ý nghĩa toàn thành ngữ.

Thí dụ :

"... Sám đức Phật từ bi... cũng do tôi ăn chay niệm Phật, tôi góp công góp của vào nhà chùa" (Lộng Chương, "Quẫn")

“Ăn chay niệm phật từ bi. Nói lời thanh lịch, lòng thì tĩnh tâm”, cũng là đức tính cần học. Nhưng không thiếu gì kẻ giả danh làm cho đạo phật bị ô uế. Dựa vào câu thành ngữ này, thời nay, người đời suy diễn rằng người ăn chay niệm phật là người sống thanh tịnh, hiền lành...
Theo sách phật, đời nhà Đường vào thế kỷ thứ VII có ngài Tuệ Viễn quê ở Lư Sơn. Tuệ Viễn thông tuệ kinh pháp nhưng cũng là người thông kinh sử và phụng thờ đức phật.

Thời ấy, loạn lạc binh biến nhiều, cướp giật hoành hành khắp vùng. Làng xã thì không có ranh giới. Tuệ Viễn làm quan giải nghệ về chùa lư Sơn tu hành. Ông nghĩ: con người sinh ra vốn bản chất thiện (nhân chi sơ, tính bản thiện). nhưng không ai dạy bảo ắt thành ác.

Ông đem ý nguyện trình với triều đình tổ chức lại hành chính biên xã, quy khu vực để quản lý. Mỗi vùng giao cho tổng trưởng cai quản.

Một hôm, có người tu hành từ phương nào không biết, đến xin gặp Tuệ Viễn. Tuệ Viễn cho vào và hỏi:

- Người từ nơi nào đến? có việc gì như muốn nói với ta hơn là hành khất?

Người kia thưa:

- Ta từ Lạt ma, chẳng vì ta biết người có tài tổ chức địa hạt để cai quản dân chúng. Nhưng làng nọ, xã kia lập ra lại kỳ thị với nhau, giành giật nhau, cái ác cứ ngày một hành hành. Ta đến đây không phải để xin ăn mà có quyển sách phật muốn chỉ giáo phổ biến cho dân lành để hết nạn nhiễu nhương. Ta biết ông thông kinh phật, nên muốn cùng ông cứu khổ, cứu nạn.

Tuệ Viễn lấy làm vui mừng, mời nhà tu hành kia ở lại giúp đức cho chúng sinh. Hai ông dày công đi kắhp làng tổng trong vùng phổ biến phép niệm phật, hướng dẫn tu tịch, dạy đạo và phát chẩn cho dân làng, quy phục những kẻ ác tà.

Đặc biệt, hai ông bày cho dân chúng cách chế biến ngũ cốc, hoa quả thành thức ăn hàng ngày, khuyên không nên giết hại các con vật. Thấy chế biến gũ cốc để ăn tiện lợi mà thân thể khoẻ mạnh, mười đồn trăm, trăm đồn ngàn rồi cứ thế làng xã ai ai cũng làm theo. Khi dân chúng ăn chay niệm phật gần như là thói quen, Tuệ Viễn đã ra quy ước như một phép phật cho con người ta siêu thoát, thấy điều phàm tiếu thì hổ thẹn, thấy hành ác thì đau thương. Vì thế, dân chúng học lời nói phải, nguyện đức từ bi của phật pháp mà hành đạo trong cuộc sống.

Nhờ phổ biến phép niệm phật, ăn chay, nói lời từ bi mà vùng Lư Sơn liền tổng, liền xã không còn gian tà. Dân chúng sống hoà thuận thương yêu nhau. Sau này nhà phật cho rằng, cả vùng ai ai cũng được phật phù hộ chứng minh. Và cũng từ đấy lan truyền câu: Ăn chay niệm phật, đi liền với nói lời từ bi là vậy.

“Ăn chay niệm phật nói lời từ bi,” về bản chất vẫn còn nguyên giá trị. “Ăn chay niệm phật từ bi. Nói lời thanh lịch, lòng thì tĩnh tâm”, cũng là đức tính cần học. Nhưng không thiếu gì kẻ giả danh làm cho đạo phật bị ô uế. Dựa vào câu thành ngữ này, thời nay, người đời suy diễn rằng người ăn chay niệm phật là người sống thanh tịnh, hiền lành chứ không phải như những ông quan biến chất, giả dối theo kiểu “Miệng nam mô bụng bồ dao găm”.

matbiec
13-12-2011, 01:13 PM
7. Ăn mày đánh đổ cầu ao

Đi ăn mày xin được chút ít lại đánh đổ mất cả ở cầu ao không vớt vát được gì. Thành ngữ này chỉ sự khốn cùng lại gặp đen đủi, không may liên tiếp.
Còn có câu gần nghĩa: Chó cắn áo rách.

Chuyện kể:

Xưa có người nghèo đói đi ăn xin đã lâu, một hôm được nhà giàu nọ bố thí cho một ít gạo.

Ăn mày mừng rỡ mới đem gạo xuống dưới cầu ao vo để nấu cháo. Chẳng may lúc đang vo, gió nổi lên tứ tung, làm lật rá gạo đổ cả xuống cầu ao.

Anh ăn mày khóc lóc thảm thiết, không biết bắt đền ai, bèn làm đơn lên thiên đình kiện thần Gió. Đơn rằng: “Tôi đói khát, mới phải đi ăn mày, nay được nhà giàu cho chút gạo, thế mà thần Gió lại lật cả rá gạo đổ xuống cầu ao. Mong thiên đình soi xét nghĩ đến kẻ khó này”.

Giời chấp nhận đơn, sai quỷ sứ đòi thần Gió lên tra hỏi. Thần Gió khai:

- Vì có người lái buôn, buôn mấy thuyền thóc, gặp phải độ không gió, thuyền không đi được mới làm lễ cầu phong…, cho nên tôi phải đổi gió cho thuyền nó chạy.

Giời nghe rồi quở thần Gió rằng:

- Người làm việc nhà Giời như thế là bất công, bất chính. Kẻ đói, người cùng, thì chẳng thấu tình mà thương đến nó. Đứa giàu có mang lễ vật đến thì tham của tối mắt lại, bất chấp việc gì cũng làm để đến nỗi khốn nạn cho kẻ nghèo.

Đoạn Giời bắt thần Gió bảo người phú thương kia phải giả người ăn mày một bát gạo. Người phú thương chịu đền, không can trách thần gió mà có câu ca rằng:

Ăn mày đánh đổ cầu ao
Vì ngài phong súy nên tao phải đền.

Đã nghèo nhưng lại vụng dại, lật đật nên mới ra nông nỗi ấy. Nhưng như chuyện này thì là tại thần Gió. Như lời Giời phán thì kẻ mạnh làm hại kẻ yếu chỉ vì có lễ vật. Ấy lên đòi hỏi công bằng trong xã hội là việc muôn thuở, nhưng cũng luôn luôn cần bàn.

matbiec
13-12-2011, 01:14 PM
8. Ăn vóc học hay

Giai thoại làng Nho kể rằng: xưa ở vùng thuộc Nghệ Tĩnh, có một gia đình nhà Nho có cô con gái đã đến tuổi cập kê.

Năm ấy, có một chàng trai ở vùng biển tới trọ học. Người con trai dáng vẻ to lớn, nước da ngăm đen. Ngày ngày, sau buổi dùi mà kinh sử, chàng trai òn tranh thủ giúp gia đình thày dạy gánh nước, bổ củi rồi cả những việc đào đất nền, việc gì chàng trai cũng đều làm hăng hái. Làm khoẻ, nhưng chàng trai được cái ăn cũng khoẻ. Đồn rằng, thả sức chàng trai có thể một bữa ăn hết một nồi cơm to với cả vại cà. Chả thế mà bạn bè của chàng ví chàng ăn khoẻ giống Lê Như Hổ trong truyện cổ dân gian.

Thấy chàng trai chịu học lại lam làm, nên ông bố cô gái mới có ý định nhận làm con rể. Còn người học trò, từ khi đến trọ học ở đây, cũng có cảm tình với cô gái. Một hôm, ông bố nói với con gái:

- Ta xem cậu học trò này có thể kết duyên được với con. Nếu nó ưng ý thì ta đây cũng hài lòng.
Người con gái từ lâu thấy người học trò vai vóc, lại bụng cao dạ dốc, làm thì hùng hục khác người nên có ý khinh thị. Nàng là con nhà nho nhã, ăn nói nhỏ nhẹ, sinh hoạt ý tứ, nên thấy bố nói thế mới thưa:

- Người như thế thì lấy đâu ra đỗ đạt. Ăn thùng bất chi thình, chỉ được cái làm khoẻ. Hẳn cha không muốn con làm thiếp cho một người thiếu chữ?

Người cha thấy con gái nói vậy mới khuyên rằng:

- Xưa nay, ở chốn này có ai xem thư sinh chỉ là người mảnh dẻ, vùi đầu vào học vẹt, mà không biết làm, biết ăn đâu! Cha thấy người này chịu học, ăn khỏe. Dân gian chả có câu “Vóc khỏe mẹ ngọc” là gì?

- Tuy nói vậy nhưng người con gái vẫn thầm để ý đến chàng học trò, xem anh ta học hành thế nào. Một hôm cô gái đứng nấp ở cửa sổ xem anh ta giảng Kiều cho một người học trò khác, lời lẽ sâu sắc, tinh thông điển tích, thì lấy làm khâm phục lắm.

Cũng từ buổi đó, mỗi khi người cha gợi ý nói chuyện về chàng học trò thì cô gái có vẻ như e thẹn.

Một hôm ông nói với con gái:

- Con ạ, ăn vóc đi liền với học hay. Ta đồ rằng, người này sau làm nên sự nghiệp. Con nên ngẫm lại ý cha.

Quả vậy, sau này người học trò vóc dáng lớn, ăn khỏe ấy học hành đỗ đạt đã được bổ làm quan tri huyện. Chàng cưới cô con gái con nhà nho nọ làm vợ sống rất hạnh phúc.

Sau này, vùng Nghệ Tĩnh, truyền câu chuyện của gia đình nhà Nho kia và lấy câu “ăn vóc học hay” để khuyên răn việc đời.

Ăn khỏe, chăm làm, lại học hay học giỏi, ngược với “dài lưng tốn vải” chỉ người học trò học chẳng hay, cày chẳng giỏi lại yếu ớt. Trên thực tế, có ăn mới học được. Cũng có người quan niệm học trò thường là kẻ lười nhác vì thế nên có câu:

Ai ơi chớ lấy học trò
Dài lưng tốn vải ăn no lại nằm.

Câu ấy chỉ còn lại trong nghĩa châm biếm mà thôi.

yenminh0210
13-12-2011, 01:26 PM
<tbody>
Mỗi cây mỗi hoa

</tbody>


<tbody>
Thực tế, cây nào hoa ấy là do tạo hóa sinh ra. Nói một cách giản dị là “cây nào hoa ấy”, “chẳng hoa nào giống hoa nào”. Từ đó, suy ra vế hai “mỗi nhà mỗi cảnh”, không mấy ai giống ai.
Chuyện kể:
Trước khi tạo hóa nặn ra con người thì đã có cây cối đủ loại rồi. Nhưng ngặt một nỗi, các loại cây cùng chung một màu hoa làm cho cảnh sắc đâu đâu cũng giống nhau. Hơn nữa, cây to cũng như cây cỏ bé nhỏ mọc ở ven rừng, cánh hoa cũng bằng nhau chằn chặn. Rồi hương hoa cũng vậy, đâu đâu cũng một mùi giống nhau, chẳng có gì là hấp dẫn.
Vì hoa giống nhau nên loài cây không sao phát tán, gây giống sinh trưởng được nên đã nhờ ong, bướm mời Thần Tạo Hóa xem xét giúp.
Thần Tạo Hóa bay xuống trần gian, đi khắp Trái đất, quả thấy đâu đâu cũng chỉ một loài hoa. Vốn đa cảm, Thần Tạo Hóa thấy Trái đất trùng trùng điệp điệp các loại cây nhưng hương sắc thì nhạt nhòa, đơn điệu nên đã triệu các loại cây lớn, bé đến phán:
- Quả thật là cây cối trần gian phong phú. Nhưng cứ thế này thì rồi Trái đất cũng lụi tàn, cây cối chúng mày không phát dục được. Hơn nữa đơn điệu quá, chỉ một màu, chỉ một mùi hương. Ta có sáng kiến thế này: Các ngươi dồn hết hoa của các ngươi lại, ta pha thêm màu sắc, rỏ nước thơm vào rồi tạo hoa cho loài cây các ngươi. Các loại cây trên Trái đất đều nghe theo, gom hết hoa lại đựng cả trời mây mới hết. Thần Tạo Hóa sai các thần linh dưới quyền pha màu rồi đổ nước thơm vào. Sau đó, lệnh cho gió thổi cả trời mây hoa xuống trần thế. Rồi Thần ra lệnh mỗi cây chỉ được lấy một loài hoa. Trần thế đang âm u, bỗng nhiên rực rỡ. Cây cối xòe lá, xòe ngọn ra đón hoa. Thế là cả thế gian bừng lên muôn màu muôn sắc.
Tuy nhiên, do các thần trộn màu không đều nên có cây thì nhần được màu hoa rực rỡ, có cây chỉ nhận được màu nhạt, xanh, đỏ, tím, vàng cũng khác nhau. Do nước thơm vẩy không đều nên có loài hoa thì thơm phảng phất, có loài hoa thì thơm ngây ngất, cũng có loài hoa thì do nước thơm không sạch nên đã chuyển mùi khó chịu. Những cây cao thường chỉ hứng được cánh hoa nhỏ, còn những cánh hoa to và nặng hơn phần nhiều rơi xuống thấp, đậu vào những cây nhỏ hơn dưới mặt đất. Thành thử, những cây dưới thấp thường có hoa to hơn những cây cao.
Thần Tạo Hóa đứng trên mây nhìn xuống, cười:
- “Mỗi cây, mỗi hoa. Muôn trời rực rỡ”. Rồi Thần bay về trời.

Từ thực tế mỗi cây mỗi hoa, con người vận vào cuộc sống xã hội phong phú nên có vế “mỗi nhà mỗi cảnh”. Thế nên, ở đời không nên chỉ nghĩ giản đơn là mình thế nào thì người thế ấy, nhà mình sao thì nhà khác vậy. “Mỗi cây mỗi hoa, mỗi nhà mỗi cảnh” là chân lý giản dị. Vì vậy, trăm người trăm ý, trăm nhà trăm mối là hiển nhiên.

Theo Đi tìm điển tích thành ngữ của Tiêu Hà Minh



</tbody>

matbiec
15-12-2011, 03:54 PM
9. Bán lợi mua danh

Bán lợi, lợi đây không chỉ cái vật chất mà có cả tinh thần, để mua lấy một sự danh giá. Bây giờ nâng cao hơn một bước là mua danh, trục lợi người ta khái quát thành chữ “chạy”. Cái sự mua danh trục lợi, chạy chức, chạy quyền tồn tại trong xã hội đối với những kẻ phàm phu.

Dưới thời phong kiến, người ta nộp tiền hay lễ vật cho người có chức vị cao để được ngôi thứ, chức vị.

Nghĩa bóng: Ham danh, dùng tiền của để mua danh vị.

Còn có câu gần nghĩa: Mua danh ba vạn; Bán chỗ nằm mua chỗ ngồi; Bán gia tài, mua danh diện; Mua danh bán lợi.

Chuyện kể:

Một nhà địa chủ nọ thấy quan chánh tổng oai lắm, lúc nào cũng áo the khăn xếp, lại còn tay cầm cái ba toong chỉ trỏ, đám sai nhân trong nhà, quan lớn, quan bé trong làng đều răm rắp làm theo những lời phán ngông nghênh của chánh tổng. Ở làng, cứ mỗi năm hai lần, hội đồng làng có tổ chức hương ẩm. Đến dự, chánh tổng rồi các lý trưởng đều được ngồi mâm trên. Còn tên địa chủ tuy giàu có nhưng vẫn phải ngồi ở mâm thứ hạng.

Hắn tức lắm. Một hôm, có người khích hắn:
- Nhà giàu, trâu đàn, ruộng mẫu, kẻ ăn người ở, vậy mà ra làng vẫn phải ngồi chiếu dưới. Tiền bạc nhiều mà sao không mua lấy một cái chức.
Hắn nghe nói phải. Thế là hắn chuẩn bị mấy thẻ vàng, cùng ba vạn bạc rồi đến nhà chánh tổng để mua lấy một chức lý trưởng.
Viên chánh tổng nghe hắn trình bày mới nói:
- Nghe nói nhà người có cô con gái xinh xắn, nết na, đã cùng với ai chưa?
Tên nhà giàu mới nói:
- Ấy, tôi cũng biết ông chánh có người con trai. Nếu được thì xin ông cứ cho người đến dạm ngõ.

Người con trai ông chánh là đứa què quặt, bệnh tật, chỉ biết ăn, không biết làm, nó chẳng đi học nên dốt lắm. Được lời, ông chánh tổng như vớ được vàng, mới vội cho người sang dạm ngõ rồi làm lễ cưới cho con trai. Cưới xong rồi về nhà chánh tổng, cô gái xinh đẹp kia mới vỡ lẽ là mình đã bị lừa. Cha cô đã bán đứng cô cùng với một số tiền vàng để mua cái chức lý trưởng.
Lại nói chuyện tên địa chủ nhà giàu, từ khi có cái chức lý trưởng được ngồi lên chiếu trên của làng, dân làng càng khinh hắn ra mặt, vì hắn đã dốt nát lại thích sang trọng. Một hôm ra làng, tên địa chủ kia khăn xếp áo the, hãnh diện ngồi vào giữa chiếu trên. Người làng thấy thế thì lấy làm khinh lắm, có người bèn làm mấy câu thơ khao làng rằng:
Bán lợi mua lấy cái danh
Tuồng là những kẻ mảnh sành chiếu trên.

Cái chức lý trưởng mà người nhà giàu nọ có được là do phải bán đổi cả con gái và tiền bạc mới có. Vì thế dân làng biết chuyện trên nói rằng: “Mua danh ba vạn, bán danh ba đồng” là vậy.


(Theo “Đi tìm điển tích thành ngữ”. NXB Thông Tấn)

matbiec
15-12-2011, 04:01 PM
10. Bán trời không văn tự

Văn tự: Viết giấy chứng thực khi mua bán, trao đổi.
Nghĩa bóng: Liều lĩnh, bất chấp, làm ăn mạo hiểm, khoác lác, không có lề luật, không biết đúng sai.
Còn có câu: Bán trời không chứng.

Chuyện kể:

Có hai người học trò, một người tên là Tự, một tên là Chứng học hành chểnh mảng, kỳ thi cả hai đều trượt. Trên đường trở về quê, hai người mới nghĩ ra một việc là góp vốn để làm nghề đi buôn. Nhưng buôn chung bán chung phải có người làm anh, người làm em. Họ mới kết nghĩa làm huynh đệ. Nhưng ai là anh, ai là em thì họ chẳng bầu ra được. Chữ nghĩa thì không biết mấy nhưng lại có tài nói khoác, người tên là Tự mới nói:
- Bây giờ ta thi nói khoác. Ai thua thì người ấy chịu là em.
Hai người vỗ tay tán thưởng.
Người tên là Tự mới hỏi trước:
- Trên đời này cái gì to nhất?
Người tên là Chứng đáp liền:
- Trái đất là to nhất.
Người tên là Tự mới nói:
- Chưa to.
- Vậy thì cái gì?
- Trời là to nhất.
Người tên là Chứng mới lại nói:
- Trời cũng chưa to. Ta còn bán được cả trời.
Tự mới vặn lại:
- Thế anh bán cho ai, người mua trời rồi cất vào đâu?
- Ấy có người mua được mới lại chứ. Ta bán cho ông nội của ta, ông của ta cầm trời rồi cất đi.
Tự lại hỏi:
- Thế ông nội của anh lấy gì để mua?
Chứng mới nói:
- Ông ta lấy trái đất để mua. Mà phải trái đất mới mua nổi trời.
Tự mới cự lại:
- Thế thì trời cũng chẳng to. To hơn phải là ông nội của anh, vì ông nội của anh cầm được cả trời kia mà.
Có một thầy giáo đi qua, thấy hai anh chàng học trò cãi cọ lý sự khoác lác bèn thêm vào:
- Đồ bán trời không văn tự. Chúng mày không thi đỗ là đáng đời lắm.

-----------------------
Bông lông, khoác lác dành cho những kẻ “Bán trời không văn tự”. Những con người như thế ắt chẳng làm nên tích sự gì. Vậy mà lắm kẻ vẫn dùng miệng lưỡi ấy mà lừa gạt được thiên hạ mới hay.
Bắc thang lên hỏi Thiên đình
Liệu trời được giá cho mình bán chăng!
(Ca dao)


(Theo “Đi tìm điển tích thành ngữ”. NXB Thông Tấn)

yenminh0210
17-12-2011, 08:27 AM
Nhanh như cắt

Cắt: Loài chim dữ, cánh có lông cứng và nhọn, bay nhanh, hay đánh loài chim khác. Còn có câu: Nhanh như bay Nhanh như điện Nhanh như sói Nhanh như tên bắn.
Chuyện kể:
Xưa, một con diều và một con chim cắt kết bạn với nhau, rủ nhau đi kiếm ăn. Lúc đầu, hai con kiếm được nhiều mồi lắm. Vì diều thì mắt sắc, trông đâu cũng rõ, mà cắt thì nhanh lẹ, sà xuống cái là phỗng được ngay.
Bởi vậy, các loài gà thấy bóng hai con đâu là lánh trước, thành ra hai con sau này khó kiếm được mồi. Cùng đi với nhau, thấy không có lợi, mới tự bàn chia nhau mỗi con một đường.
Diều đi một lúc, thấy đám gà con, sà xuống bắt ngay được một chú, lấy làm sướng lắm tha về, đợi xem cắt bắt được con gì nữa thì rồi cùng ăn chung cho vui.
Ngờ đâu, cắt chẳng đi bắt mồi, lại lộn về không. Cắt trông thấy diều đứng chờ, lại có con gà con ở bên, bèn thoáng một cái lẻn đến cắp ngay gà mà bay đi. Diều đuổi theo. Hai con đánh nhau dữ dội. Diều tuy to và bạo, nhưng không lại được với cắt, dù nhỏ nhưng nhanh. Diều đành chịu mất gà. Từ đó, diều không làm bạn với cắt nữa.
Giận cắt lắm, muốn trả thù nên diều đi làm bạn với quạ. Hai con hợp sức nhau lại đánh cắt. Diều nói:
- Không đánh nó, có miếng mồi nào nó cướp hết. Chả lẽ diều, quạ chúng ta to khỏe thế này lại thua con cắt bé xíu.
Quạ đồng ý, nói:
- Chả nhẽ khôn như quạ ta đây mà lại chịu thua con cắt nhãi ranh.
Thế rồi, một hôm hai con bắt gặp con cắt đang lượn lờ trên không trung mới hò nhau đánh cắt. Cắt thấy quạ và diều đến bèn như mũi tên lao vút từ trên xuống. Quạ và diều đuổi theo. Cắt lại nghiêng cánh lao ngay, rồi bất thình lình mổ một cái đau điếng vào đầu diều. Xong đâu đấy nó giả chết nằm ngửa giữa không trung. Quạ và diều sà xuống, nó liền đạp vào bụng diều và quạ. Nó cứ thế đánh móc vào lườn, vào đầu làm cho quạ và diều bơ phờ, lông bay tứ tung.
Quạ chịu thua, mệt quá, mới đậu vào cành cao mà kêu diều rằng:
- Nó nhỏ nhưng nhanh lắm. Chúng ta không thể làm gì nó được.
Lúc đó có ngọn gió vừa tới bảo với quạ và diều rằng:
- Ồ chúng bay chẳng hay, người ta chả có câu “nhanh như cắt” là gì. Nó còn nhanh hơn cả gió tao đây.
Nhanh để mổ, cướp giật của thiên hạ thì thật là đáng trách. Cái thói chảo chớp nửa công khai, nửa lén lút thường người đời phán cho kẻ ăn cướp, ăn trộm đó chẳng khác gì giống cắt ở truyện trên. Còn như nhanh nhẹn hoạt bát trong công việc để chớp lấy thời cơ, làm có hiệu quả thì lại là điều đáng khen lắm thay.
Theo Đi tìm điển tích thành ngữ của Tiêu Hà Minh

harrybotbeo
19-12-2011, 08:27 AM
Tiếp vần B

1. Ba chân bốn cẳng: Đi rất vội, rất nhanh, hình như đi bằng ba chân bốn cẳng vậy. Ý nói đi mau gấp hai ba lúc đi thường ngày.
2. Ba keo thì mèo mở mắt: Ba keo là ba trận vật nhau. Ba keo đây là nói vật thua ba keo.
Ba keo thì mèo mở mắt là vật thua ba keo thì trợn tròn mắt ra như mắt mèo; mở to mắt trợn tròn là tỏ sự sợ, sự tiếc. Ý câu này nói vật thua luôn ba keo thì bấy giờ mới biết thân mình là yếu và mới biết sợ người khoẻ hơn.
Người ta thường dùng câu này để nói: có thua lỗ thất bại vài ba phen thì rồi mới biết thân.
3. Ba mặt một nhời (lời): Hai người giao ước với nhau và người làm chứng cho lời ước ấy, vị chi là ba người. Ba người cùng biết chuyện nói một lời như nhau tức và việc có thật, đủ tang chứng, không còn ai nuốt lời được.
4. Ba mươi được ăn, mồng một tìm đến: Ngày ba mươi là ngày cuối tháng. Ngày mồng một là ngày đầu tháng.
Ba mươi với mồng một là ngày hôm trước và hôm sau. Ngày hôm trước được ăn thì ngày hôm sau lại đến chực ăn. Đại ý câu này muốn nói được ăn một lần, hay được lợi một lần thì lần sau cứ mong ngóng mãi.
5. Ba tháng trồng cây một ngày trông quả: Trồng trọt, bón tưới cây (đây là cây lúa) trong ba tháng trời, đến khi cây có quả thì chỉ một ngày là gặt xong. Đại ý câu này nói hưởng kết quả thì dễ, thì chóng, làm nên cái kết quả đó thì khó và lâu.
6. Bà con vì tổ tiên, không phải vì tiền vì gạo: Bà con là có họ hàng với nhau. Bà con vì tổ tiên là họ hàng với nhau thì chung một tổ tiên. Không phải vì tiền vì gạo nghĩa là không phải vì thấy người giầu có, lắm tiền nhiều gạo mà nhận bà con với nhau. Đại ý câu này muốn nói: nhận bà con với nhau là muốn nhớ đến tổ tiên chung, chứ không phải vì nhận họ hàng để cầu lợi.
Câu này ngụ ý chê những người hay lợi dụng họ hàng để mưu ích lợi riêng.
7. Bà khen con bà tốt, tháng mười tháng một bà biết con bà: Tháng mười tháng một khí trời thường khô, se, ta gọi là trời hanh. Dưới sức áp lực của khí trời, da người ta thường bị căng thẳng, và nứt ra, gọi là nẻ. Da đẹp trắng đến đâu gặp trời hanh cũng khó tránh được nẻ. Bà vẫn khen con bà đẹp nhưng đến tháng mười tháng một bà sẽ biết da dẻ con bà đẹp hay không?
Câu này nêu cái ảnh hưởng của thời tiết đối với vẻ đẹp con người.
8. Bắc cầu mà noi, ai bắc cầu mà lội: Ai cũng bắc cầu để mình đi lên cầu mà khỏi phải lội, chứ ai bắc cầu để rồi lại lội nước qua bao giờ. Đó là nghĩa đen.
Nghĩa bóng câu này có ý nói kẻ làm mẹ làm cha, hoặc người trên đối đãi với người trên mình như thế nào, thì con cái hay người dưới mình cũng sẽ đối đãi với mình như thế. Vì làm như thế tức cũng là mình bắc cầu để sau mình noi qua. Thí dụ: mình đối đãi với cha mẹ chẳng ra gì, thì sau này con cái cũng sẽ đối đãi với mình không ra gì.
9. Bách nhân, bách khẩu: Trăm người trăm miệng, tức là mỗi người một lời nói, nhiều người thì nhiều ý kiến, mỗi người nghĩ một khác, nói một khác.
Câu này tả sự ồn ào náo nhiệt của đám hội họp đông người.
10. Bán anh em xa mua láng giềng gần: Anh em ở xa thì quên đi để mua chuộc tình thân mật của người láng giềng gần cận nhà mình, phòng những khi “tắt lửa tối đèn” tức là lúc đêm hôm, gặp việc khẩn cấp, thì nhờ láng giềng giúp đỡ.

harrybotbeo
20-12-2011, 04:13 PM
11. Bán chỗ nằm mua chỗ ngồi: Ngày xưa ở làng xóm, người ta quí chuộng cái chỗ ngồi ở góc chiếu đình trung, cho là một danh dự lớn. Cho nên người ta thường lo lắng, bỏ tiền bạc ra mua nhiêu, mua xã, làm khao làm tiệc để được một chỗ ngồi ở ngoài đình làng; có người vì thế mà phải bán cả nhà, đất. Cho nên có câu: “bán chỗ nằm mua chỗ ngồi”; chỗ nằm tức là nơi nhà ở. Chỗ ngồi tức là góc chiếu nơi đình trung.
12. Bán gia tài mua danh phận: Theo Sử thì vào cuối đời Trần và cuối đời Lê, có lệ bán phậm hàm; người có tiền mua được hư danh cho là vinh dự. Đến đời Lê Mạc, chúa Trịnh Cương đặt lệ quan từ tứ phẩm trở xuống ai nộp 600 quan thì được thăng lên một trật. Những người chân trắng ai nộp 2.800 quan thì được bổ làm tri phủ, 1.800 quan thì được bổ nhiệm tri huyện. Danh phận có thể mua như thế, nên nhiều người bán cả cơ nghiệp để mua lấy chức quan. Vì vậy có câu tục ngữ trên. Gần tại các thôn quê, người ta cũng đua nhau bỏ tiền ra mua xã, dành góc chiếu chốn đình trung. Câu tục ngữ ghi một tình trạng xã hội và nêu thói chuộng hư danh của nhiều người. Người ta thường mượn câu này để bênh vực cho cái thói ham danh phận.
13. Bảo một đàng quàng một nẻo: Bảo đây dùng theo nghĩa cổ, nghĩa là dậy. Quàng là đâm quàng, đi quàng, tức là đi bừa không xét xem là đúng hay không, đường quang hay đường có chông gai. Nẻo là lối đi. Bảo một đàng quàng một nẻo là dậy đi đường này không đi lại đâm quàng đi nẻo khác; ý nói làm trái với lời dậy bảo của người trên. Ý nghĩa cũng gần như câu “bảo một đường sểnh một nẻo”.
14. Bảo một đường sểnh một nẻo: Bảo dùng theo nghĩa cổ, là dậy bảo (Dậy học xưa kia gọi là bảo học). Sểnh là đi xa xa, đi trệch ra. Nẻo là lối đi, hẹp hơn đường. Ngụ ý câu trên nói việc dậy đi một đường lại đi trệch ra một lẻo khác. Câu này thường dùng để quở trách con cái, học trò, hay người dưới không theo đúng lời dậy bảo của cha mẹ, anh, thầy học hoặc người trên. Ý nghĩa cũng giống ý nghĩa câu “bảo một đàng quàng một nẻo”.
15. Bát mồ hôi đổi bát cơm: Muốn được bát cơm ăn phải đem bát mồ hôi ra mà đổi. Ý nói phải làm lụng vất vả khó nhọc lắm mới có miếng ăn. Câu này nêu sự làm ăn vất vả của nhà nông nước ta.
16. Bảy mươi học bảy mốt: Người bảy mươi tuổi phải học kinh nghiệm của người bảy mươi mốt tuổi, vì hơn một tuổi là có thêm kinh nghiệm một năm. Câu này đại ý nói người nhiều tuổi thì biết việc đời nhiều hơn, người ít tuổi bao giờ cũng thua kém.
Cũng có nghĩa nữa là người ta tuổi nào cũng cần phải học để biết thêm, chớ không nên tự phụ là mình biết hết cả, không cần phải học ai nữa.
17. Bảy mươi chưa đui què, chớ khoe rằng lành: Bảy mươi là bảy mươi tuổi. Đui là mù. Lành là nguyên lành, thân thể không tàn tật. Khi người ta tuổi đã bảy mươi rồi mà chưa mù mắt què chân, thì cũng chớ nên khoe rằng mình nguyên lành không bị tàn tật. Đại ý câu này khuyên người ta chớ nên tự phụ rằng mình nguyên lành mà khinh bỉ người đui mù què quặt; đến người già 70 tuổi cũng chưa chắc đã khỏi bị tàn tật vì việc đời xẩy ra bất thình lình, có khi chỉ trong một chớp mắt mà người lành bỗng hóa ra người què, vì trong một tai nạn rủi ro chi đó.
18. Bắt bò cày triều: Triều đây là ruộng triều. Ruộng triều nguyên nghĩa là ruộng có nước thuỷ triều lên xuống, ra vào, sau dùng để trở những ruộng nước bùn lầy. Ruộng triều có khi bùn lầy đến thắt lưng, trâu cũng không cày bừa được. Thế mà bắt bò cày triều, thật là bắt nó làm một việc quá khả năng của nó.
Câu này thường được dùng để chê sự cắt đặt công việc không sát khả năng, xếp đặt công việc không hợp lý.
19. Bắt cá hai tay: Hai tay đều thò xuống bắt cá; không phải là hai tay định bắt một mà mỗi tay định bắt một con. Câu này thường dùng để chê người mưu một lúc cả hai việc, hy vọng rằng hễ hỏng việc nọ thì được việc kia.
20. Bầu dục chấm nước cáy: Bầu dục là món ăn ngon và bổ nhất trong thân thể con lợn. Nước cáy là thứ nước mắm làm bằng con cáy (một thứ cua bể chân có lông tơ). Nước cáy nặng mùi sắc đen, là thứ nước mắm xấu, không ngon. Bầu dục mà đem chấm nước cáy thì làm phí mất cả chất của bầu dục. Đại ý câu này nói người thô kệch không biết đường ăn. Người ta thường nói lầm ra là: dùi đục chấm nước cáy.
21. Bé không vin, cả gẫy cành: Vin là vin cành cây xuống mà uốn nắn thành hình thù gì (xưa người ta thường hay uốn cây thành hình rồng, hình phượng để làm cảnh). Cho nên phải uốn nắn từ lúc cây còn bé, còn non. Để khi cây lớn lên mới vin thì gẫy cành, không thể uốn nắn được.
Đại ý câu này khuyên người ta nên dậy con cái từ lúc chúng còn nhỏ tuổi, để chúng lớn rồi mới dậy thì không dậy được nữa.
22. Bẻ hành, bẻ tỏi: Hành tỏi có nhiều nhánh bé. Bẻ hành, bẻ tỏi là bẻ hành, tỏi ra những nhánh bé nhỏ. Nghĩa bóng câu này muốn nói: bắt bẻ những điều vụn vặt, không đáng bắt bẻ.
23. Bẻ què cho thuốc: Chính mình bẻ què chân nó (vật hay người) rồi chính mình lại cho nó thuốc để rịt cho nó khỏi què.
Câu này tả cái mánh lới xảo quyệt của bọn cường hào thường kiếm truyện cho người ta bị tai vạ rồi lại đứng ra lo liệu chạy chọt để lấy ăn.
24. Bĩ cực thái lai: Bĩ cực là khốn khổ, suy bĩ đến cực độ thái lai là vận may, vận đỏ đến.
Bĩ cực thái lai là hễ người ta gặp cảnh khốn khổ cùng cực quá thì là sắp sang hồi vận đỏ; không biết lẽ trời có đúng thế không? (Khổ quá tất sắp sướng, nghèo quá tất sắp giầu, tối quá tất sắp sáng…) Hay là câu này chỉ nêu lên để an ủi suông những người cơ cực?

matbiec
21-12-2011, 02:42 PM
Bóc ngắn cắn dài


Nghĩa đen là: Tham ăn, ăn cả vỏ.
Nghĩa bóng: Bỏ công sức ít nhưng mong thu lợi nhiều, kiếm được ít mà muốn ăn tiêu nhiều.

Chuyện kể:

Đã mấy ngày nay, cái mồm bị bỏ đói, nó cứ há ra, thấy gì là đòi ăn cho bằng được, nhưng trong nhà chả có gì cho nó ăn cả. Không có cái gì cho vào mồm nên cái dạ dày cũng bị đói lây, làm hoa cả mắt. Mãi đến hôm sau, cái tay mới vớ được củ khoai lang luộc. Cái mồm sướng lắm, đòi ăn ngay, vừa định cắn một miếng thì cái tay đã vả cho cái mồm một cái rõ đau.
Cái tay nói:
- Mày chỉ háu ăn, đợi tao bóc vỏ đi đã, chả lẽ mày ăn cả vỏ à.
Cái mồm nghe nói thế đành chờ.
Nhưng nó thấy cái tay bóc vỏ sao mà chậm thế, bóc mãi mới được có khoanh đầu củ khoai, nóng lòng, háu đói, nó bất chấp cái tay, bèn đớp luôn một miếng. Miếng khoai mà nó đớp quá cỡ cái tay bóc vỏ, lạm luôn nửa củ khoai, vì thế, cái tay lại vả cho cái mồm một cái nữa, nó lại đành chịu đau, chờ cái tay bóc tiếp.
Lại như lần trước, cái tay thận trọng bóc vỏ khoai theo cách khoanh tròn quanh củ. Nhìn thấy chỗ khoai được bóc thơm phức, cái mồm mới thèm làm sao, nó lại lừa lúc cái tay không để ý, cắn thêm một miếng nữa. Cái miếng nó cắn lần này to hơn miếng trước lạm hết cả vào phần vỏ và gần hết cả củ khoai. Tức quá, cái tay bèn bảo:
- Tao không bóc nữa, thôi còn cái dãi khoai, mày tống nốt vào mồm cho xong.
Nghe thế, cái mồm sướng quá, chẳng phải chờ lâu, nó bèn đớp luôn một cái nữa hết cả củ khoai.
Cái tay chứng kiến việc ấy phủi hai tay vào với nhau, khinh cái mồm ra mặt, mới mắng rằng:
- Đồ bóc ngắn cắn dài.


“Bóc ngắn cắn dài”, lệ thường chỉ hành vi tham ăn tục uống. Nhưng người đời thì lấy cái sự ấy để chỉ những kẻ “Làm thì ít, mà muốn hưởng thụ nhiều, rộng ra là phê phán kẻ làm ăn cò con, hám lợi, bỏ sức bỏ vốn thì ít nhưng muốn thu lợi nhiều, điều đó dễ dàng dẫn đến những vi phạm đạo đức, pháp luật, hòng che đậy hành vi “quá tay” của mình.
Bởi thế còn có câu:
Bóc thì ngắn cắn thì dài
Làm thì chưa tới đã mài ra ăn.

(Theo “Đi tìm điển tích thành ngữ”. NXB Thông Tấn)

matbiec
21-12-2011, 02:52 PM
<tbody>

<tbody>
Bọ ngựa chống/ đá xe

Hình ảnh con bọ ngựa giương càng lên như lưỡi gươm trước cỗ xe lớn mà không hề run sợ thì thật đáng phục, nhắc kẻ nhút nhát soi mình. Tuy nhiên, thành ngữ này còn chỉ sự đấu tranh không cân sức, dẫn đến tình thế nguy hiểm, thường là lâm vào thất bại. Đó là điều không nên làm.


Một hôm, Trang Tử nước Tề đi săn, dọc đường ông gặp một con bọ ngựa. Nực cười thay, con bọ ngựa nhỏ bé ấy lại cứ đứng giữa đường, giương càng lên như muốn thách thức, chống chọi với xe của ông. Quan quân thấy lạ la ầm lên, khiến Trang Tử dừng xe lại hỏi sư tình. Tả hữu thưa rằng:

- Có con bọ ngựa trước xe ngài. Nó không tránh mà cứ giương càng lên chống lại. Giống bọ này thật kỳ lạ, chẳng biết sức mình khỏe hay yếu, thấy đối thủ là liều thân xông lên không chịu lùi bước, ngài cứ cho xe đi, xem nó sống chết ra sao.

Nghe xong Trang Từ liền đáp lại:

- Khoan đã, giống bọ ngựa này thế mà đáng khâm phục. Nếu như ai đó, khi bị kẻ mạnh bắt nạt đã không hề run sợ, lại còn dám chống trả đến cùng, dù chịu chết chứ nhất định không chịu nhục, âu cũng là tấm gương đáng kính, đáng noi theo.

Dứt lời, Trang Tử cho đánh xe sang bên đường. Kể từ bận đó, tướng sĩ của Trang Tử ra trận đều liều chết xông lên, quyết không chịu thua kém giống như con ngựa hôm nào.


Theo “Cổ học tinh hoa” – Nguyễn Văn Ngọc – NXB Văn Học, 2003


Phục là phục cái lòng dũng cảm chứ không phục sự liều mạng. Hình ảnh con bọ ngựa giương càng lên như lưỡi gươm trước cỗ xe lớn mà không hề run sợ thì thật đáng phục, nhắc kẻ nhút nhát soi mình. Tuy nhiên, thành ngữ này còn chỉ sự đấu tranh không cân sức, dẫn đến tình thế nguy hiểm, thường là lâm vào thất bại. Đó là điều không nên làm.

Có lẽ từ chuyện này mà có câu:

Nực cười bọ ngựa đá xe
Tưởng rằng xe vững ai dè xe nghiêng.


</tbody>


</tbody>

matbiec
22-12-2011, 04:43 PM
Con cà con kê

Vì từ “con” mà từ trước đến nay vẫn có hai cách hiểu khác nhau về thành ngữ đó. Nhiều người cho rằng “con cà con kê” là một thành ngữ có sự kết hợp của hai từ cùng có ý nghĩa trong tiếng Việt và tiếng Hán, đó là “cà” (trong tiếng Việt cổ “cà” nghĩa là “gà”) và “kê” (tiếng Hán có nghĩa là “gà”). Song nếu vậy thì nghĩa đen của thành ngữ này hiểu một cách nôm na sẽ là: dài dòng, luẩn quẩn và trùng lặp, “hết con gà lại quay lại con gà”? Mà như thế thì nghĩa đen này không phù hợp với nghĩa biểu trưng của thành ngữ theo cách dùng phổ biến hiện nay.


Lại có người giải thích theo một cách khác, rằng: “cà” và “kê” trong thành ngữ nêu trên không phải là “gà” mà là “cây cà” và “cây kê”. Cà gieo thành đám. Trăm nghìn cây con mọc lên. Kê gieo thành đám như mạ. Cây cà, cây kê đến tuổi trồng, người ta nhổ lên, bó thành từng bó nhỏ rồi đưa đi trồng. Công việc trồng cà, trồng kê tỉ mẩn, vào những ngày mưa, với việc tỉa ra từng cây một, rề rà. Từ đó, nghĩa đen của thành ngữ này là: dài dòng hết cây cà lại sang cây kê, không dứt. Cách giải thích này xem ra có cơ sở hơn là vì quả thật nó phù hợp với nghĩa biểu trưng của thành ngữ “con cà con kê” như cách dùng phổ biến hiện nay của mọi người.

matbiec
22-12-2011, 04:45 PM
Cá chuối đắm đuối vì con

Cá chuối: Một loài cá nước ngọt (còn có nơi gọi là cá quả, cá lóc) rất chăm con.

Nghĩa bóng: Cha mẹ chịu mọi khó khăn, gian khổ, quên mình vì con cái. Còn có câu: Cá chuối đắm đuối về con.

Chuyện kể:

Có đàn cá rồng rồng, sống ở ao. Chúng theo mẹ cá chuối đi kiếm ăn, nhưng vì ao nhỏ, cá lại nhiều nên thức ăn chả có mấy. Đàn rồng rồng đói quá cứ nhao nhao lên mặt nước, mà chả kiếm được gì.
Một hôm, có một con cóc ngồi trên bờ ao, thấy đàn rồng rồng nhịn đói, thương hại mới nói với cá chuối mẹ rằng:


Ở trên bờ nhiều kiến lắm. Chị mà lên đây thì no cả tháng.

Cá chuối mẹ mới hỏi:


Ở trên ấy, chị còn nhảy đi kiếm được, chứ như tôi, không chân không tay, bắt thế nào được chúng.

Cóc mới bảo:


Kiến nó thích cái nhớt của chị lắm! Chị chỉ cần nằm ở trên bờ một lúc là chúng bu đến đầy. Chị tha hồ mà ăn.

Cá chuối nghe có lý, lại nghĩ đến đàn con đang đói được ăn kiến thì chúng lớn biết chừng nào. Nó đành liều thân, quăng mình nhảy lên bờ ao. Nó nằm đó giả chết. Một con kiến thấy mùi cá tanh, chạy đến, rồi hai con, ba con. Chỉ một lúc, đàn kiến báo hiệu cho nhau có một con cá chết nằm trên bờ, nên cả đàn bu lại, vừa dự tiệc tại chỗ vừa tính chuyện đưa mồi vào tổ.
Tuy bị kiến cắn đau, lại thêm lên cạn, da khô tưởng muốn chết, nhưng cá chuối mẹ vẫn nghiến răng chịu đựng. Nó đợi cho đàn kiến bu đầy mới quăng mình nhảy tõm xuống nước. Hàng trăm con kiến nổi lềnh bềnh trên mặt nước. Đàn rồng rồng xúm lại, đớp thoả thích.
Cứ như thế, cá chuối mẹ lâu lâu lại tìm bờ nhảy lên kiếm thức ăn cho con bằng kiểu ấy. Nhưng một hôm, cá chuối mẹ nhảy lên quá xa bờ, nó lại chờ cho đàn kiến bu đến đông, da khô rộp cả, nó bèn vội vàng nhảy xuống. Nhưng lúc ấy, kiệt sức, nó giẫy lung tung. Đến khi tìm được ao thì cá chuối đã chết, nó chìm xuống tận đáy, đến chiều thì nổi lên. Biết chuyện cá chuối mẹ chết, con cóc thương xót mới nói rằng: Chị cá chuối này mới đáng thương làm sao, tận tình với con, đắm đuối vì con mà chết.
Lại nói đàn rồng rồng không thấy mẹ về, chúng bèn chia nhau đi kiếm mồi. Rồi chúng lớn lên, đến kỳ trưởng thành, nở trứng sinh con. Theo kế kiếm ăn của mẹ trước đây, chũng cũng nhảy lên bờ cho kiến bu, rồi cũng có con lại đắm đuối vì con như mẹ chúng, nên chịu chung số phận như mẹ.
------------------------
Cá chuối nặng lòng vì con cho đến chết. Như truyện trên thì quả là loài vật cũng thấy rõ nghĩa vụ của mình. Chuyện này vừa là sáng kiến kiếm mồi cho con, vừa là cái nghĩa lớn để rồi phải hy sinh vì nghĩa cũng cam lòng.
Theo "Đi tìm điển tích thành ngữ" của Tiêu Hà Minh - NXB Thông Tấn

harrybotbeo
23-12-2011, 04:44 PM
Bàn tay không che nổi mặt trời


Chuyện kể:

Một hôm, cái mồm trông thấy thức ăn của người để trên bàn. Nó thèm quá nhưng chẳng biết làm thế nào để lấy ăn được. Nó bèn nịnh bàn tay:

- Anh ơi, ta cùng một mẹ sinh ra, nhưng em biết nói sau, còn anh biết cầm trước. Anh bốc trộm cho em miếng thức ăn để ở bàn kia. Em thèm lắm rồi.

Bàn tay là đứa hay táy máy, luôn luôn cử động, chẳng lúc nào yên, thấy cái mồm nói thế cũng muốn ra tay, nhưng lại sợ người nhà bắt được vụt cho vào tay thì đau lắm.

Suy nghĩ một lát, bàn tay chỉ vào cái mắt và nói:

- Anh cũng muốn lắm, nhưng hèm một nỗi là có con mắt kia nó nhòm ngó, bép xép với chủ thì anh em ta chẳng những bị đòn mà còn bị kẻ khác chê cười.

Mồm mới nói:

- Anh là bàn tay, gì mà chả làm được. Cái mắt nhìn được là nhờ có ánh sáng mặt trời. Anh cứ che mặt trời lại thì nó còn nhìn thấy gì nữa mà mách.

Bàn tay thấy cái mồm nịnh thế cũng yên tâm đôi chút:

- Ừ nhỉ, ta là bàn tay, gì mà ta chả làm được!

Nói đoạn, nó mới xòe một bàn tay của mình ra, hướng về phía mặt trời, che lại, còn tay kia bốc lấy một ít thức ăn, cho luôn vào mồm.

Tưởng thế là ổn, ai ngờ lúc ông chủ về, biết chuyện mới nọc bàn tay ra đánh. Vừa đánh ông chủ vừa nói:

- Mày tưởng mày che lấp được mặt trời à. Bàn tay nhỏ xíu, mặt trời thì to lớn, bao la, đâu đâu chả có ánh sáng. Đúng là ngươi coi trời bằng vung.

Sự ngộ nhận là căn bệnh của kẻ gian dối, lừa bịp. Nhiều kẻ vụng trộm, biển thủ của công và của người khác cứ tưởng bàn tay che được mặt trời, nhưng ở đâu cũng có ánh sáng tường tận, trước sau gì rồi sự lừa dối ấy cũng được đưa ra ánh sáng giống như: “Vải thưa không che được mắt thánh” vậy. Ấy nên để khẳng định, người đời có câu:

Đố ai che được mặt trời
Đố ai đếm được mưa rơi bao lần.

matbiec
27-12-2011, 08:40 AM
Cháy nhà (mới) ra mặt chuột

Sự kiện cháy nhà làm cho chuột lộ mặt là một hiện thực làm cho người dễ nhận biết. Cũng từ hiện thực này mà suy ra theo hàm ý của thành ngữ là: Nhân khi có biến cố mới phát hiện ra tung tích của kẻ xấu, kẻ phá hoại, bộc lộ bộ mặt thật của kẻ giả nhân giả nghĩa.

Chuyện kể:

Ngày xưa, khi tạo hóa mới sinh ra loài vật, mèo và chuột thân nhau lắm. Mèo và chuột cùng ở một nhà. Vốn hiền lành lại to xác hơn chuột nên mèo thường nằm co ro ở góc tủ, người cho gì ăn nấy. Còn chuột, vốn tính ranh mãnh, lại nhỏ bằng củ hành, nên cứ chui rúc vào các ngách, luồn lủi vào các đồ đạc lộn xộn. Khi chủ nhà đi vắng, chuột tha hồ quậy phá. Thức ăn dự trữ của người, nó ngang nhiên ngồi giữa đĩa mà ăn. Chán chê, nó còn tha cả vào hang để cho họ nhà chuột thưởng thức. Họ nhà chuột dài răng nhanh nên cứ ngứa răng là chúng gặm nhấm bất cứ thứ gì để cho cùn răng đi. Một hôm, người thấy quần áo bị cắn nát vụn, rờ đến cái tủ thì bị đục khoét thành lỗ. Nhìn quanh, người chẳng thấy gì ngoài con mèo đang vờn cái chổi. Giận quá, người mới xách tai mèo lên quở rằng:

- Chỉ có mày ở nhà. Cá kho, cơm nguội mày xơi hết. Áo quần thì nát tươm. Còn ai vào đây nữa.
Nói đoạn, người liền đánh cho mèo một trận đòn thừa sống thiếu chết.
Mèo tức quá, một hôm thấy lũ chuột ra chơi bèn quát mắng rằng:
- Đồ ăn hại làm càn. Vì bọn ngươi mà ta bị đòn suýt chết.
Chuột nhơn nhơn nói:
- Bác mèo ơi, chỉ vì thân bác to hơn chúng tôi nên không chui luồn được. Người đâu có nhìn thấy lũ chuột nhắt này bao giờ. Mà có thấy thì chúng tôi cũng nhanh chân tẩu thoát, sao mà người bắt được. Bác chịu đòn là phải.
Mèo càng giận vì mỗi lần chuột cắn phá là người lại đem mèo ra đánh. Mèo kêu oan xin người trừng trị lũ chuột nhưng người không tin, còn nói:
- Mày chỉ đổ vấy đổ vá, nào thấy chuột bọ gì đâu.
Thế là lại một trận đòn nữa giáng xuống đầu mèo.
Một hôm, chẳng may người sơ xuất thế nào để bén lửa lên mái gianh. Nhà cháy rừng rực, cháy hết cả đồ đạc. Lũ chuột chui trong hang, trong nghách nóng quá không còn chỗ ẩn nấp liền thục mạng chạy túa ra cả sân. Lúc này, người thấy chuột ra nhiều quá mới cho là mèo nói đúng. Mèo giận chuột bèn nhảy ra vồ lấy một vài con để thanh minh với người. Khi vồ được chuột, mèo ngửi thấy mùi thịt chuột thơm thơm, đang lúc đói bụng, bèn chén luôn một con. Thấy ngon, mèo vồ luôn mấy con chuột khác nữa. Từ đấy về sau, mèo cứ rình chuột để ăn thịt, vừa là để hả cơn giận vừa là được món ăn ngon.
Còn lũ chuột từ đấy thì sợ nhất cháy nhà rồi sợ cả mèo. Còn mèo thì cũng chẳng cần phải đợi cháy nhà nữa mà nó rình chuột ở khắp mọi nơi. Cho đến ngày nay, lũ chuột vẫn bảo nhau:
- Sợ nhất cháy nhà. Nhà mà cháy thì có mà phơi mặt ra chết, mèo nó tha hồ mà xơi.

Đời nay nhiều kẻ vẫn ném đã giấu tay, giả nhân giả nghĩa, giấu kín tung tích để hại người khác. Những kẻ như vậy rồi cũng có ngày bị lôi ra ánh sáng, bản chất xấu xa sẽ bị phơi bày. Quy luật “cháy nhà ra mặt chuột” là thế.



Theo Đi tìm điển tích thành ngữ của Tiêu Hà Minh - NXB Thông tấn

matbiec
27-12-2011, 08:42 AM
Của người phúc ta

Nghĩa bóng: Ban phát hay sử dụng tiền bạc, đồ vật của người khác để lấy ơn cho mình.
Câu gần nghĩa: Lấy xôi làng đãi ăn mày.

Chuyện kể:

Xưa có ông Đa và bà Mít, hai người cùng xóm với nhau và cả hai cùng sính Phật. Nhưng ông Đa thì chăm siêng lễ bái, tuần nào tiết ấy lên chùa đều đặn, còn bà Mít khi thì mải công việc ruộng vườn, khi thì ở nhà khuyên con giữ cháu, vì vậy không mấy khi đi lễ Phật được. Vậy nên, cứ ngày rằm, mồng một, bà Mít gửi tiền gạo cho ông Đa đem đi cúng vái hộ. Lúc đầu, ông Đa còn khấn minh bạch là của bà Mít gửi cúng. Nhưng sau nghĩ rằng “Giời Bụt biết đấy là đâu” nên ông bèn nhận cả là của mình, rồi tiện mồm khấn rằng: “Con có chút vật nhỏ mọn tự mình làm ra, mong Trời Phật phù hộ độ trì, làm phúc cho con”.
Quan Nam Tào, Bắc Đẩu, ông thì cầm nghiên, ông thì cầm bút thấy ông Đa khấn thế nào thì cứ tiện mà biên thế ấy.
Đến khi ông Đa, bà Mít cùng trăm tuổi về cõi Phật, Phật tra sổ thấy bà Mít chỉ cúng có vài ba tuần, còn thì là của ông Đa cả. Phật nghi ngờ, hỏi quỷ thần. Quỷ thần xem sổ rồi điều tra ra tiền gạo của nả là của bà Mít, mà ông Đa nhận là của mình.
Thấy sự dối trá, Phật phê: “Của người phúc ta”, rồi phạt ông Đa hóa kiếp làm cây đa đứng ở đầu ngõ chùa, sinh ra cái lá đa để thí cháo cho chúng sinh. Còn bà Mít thì được hóa thành cây mít ở trong vườn chùa, lá dùng để in oản, gỗ dùng để tạc tượng.
Của người phúc ta nói rộng ra là dùng tiền bạc, tiền của của người khác mà đem dâng hiến, tặng cho người khác cốt để làm lợi cho mình. Suy ra thì đời nào cũng vậy, người ta dùng tiền bạc của công vung tay bố thí, tặng biếu cho kẻ khác thản nhiên như của mình để tỏ lòng tốt, hòng thu lợi cho mình, đó gọi là “tiền chùa”. Ngược lại với câu này là “Của ai phúc nấy”.



Theo Đi tìm điển tích thành ngữ của Tiêu Hà Minh - NXB Thông tấn

yenminh0210
28-12-2011, 08:20 AM
<tbody>




<tbody>
Ngang như cua

Do cấu trúc cơ thể, nên cua bò ngang chứ không tiến thẳng như con vật khác. Còn có câu: Ngang như cành bứa. Nghĩa bóng: Rất ngang bướng, nói năng, cư xử khác lẽ thường, khăng khăng không chịu nghe theo người khác.
Chuyện kể:
Ngày xưa, có một cô gái xinh đẹp sống với dì ghẻ. Cô gái nết na, làm đủ mọi việc trong nhà, suốt ngày vất vả. Mụ dì ghẻ có một cô con gái vừa xấu người, vừa xấu nết. Nó đỏng đảnh hết chỗ nói. Lúc nào nó cũng vênh váo, kiêu kỳ, không nghe bất kỳ lời khuyên nào nên chẳng làm được một việc gì. Mẹ nó bảo nó đi lấy tấm cho gà ăn thì nó làm ngược lại, đổ ngô tứ tung ra sân, còn liến thoắng cho rằng: “Gà cồ thì ăn ngô hạt”. Bảo nó đi giặt quần áo thì nó bảo, nó là “cành vàng lá ngọc”, không phải mó tay giặt giũ... Vì vậy, bao nhiêu việc đều đổ lên đầu cô gái con chồng.
Hai cô gái đến tuổi gả chồng. Nhưng bao nhiêu chàng trai đến dạm ngõ đều muốn hỏi cô gái mồ côi, làm cho mụ dì ghẻ tức giận.
Một hôm, thấy cô mồ côi mặc cái váy hoa, mụ dì ghẻ sôi máu, xấn xổ vào cô gái đáng thương:
- Con ranh kia, mày ăn cắp hay gã đàn ông nào cho mày chiếc váy? Đồ lười chảy thây.
Nói rồi mụ dì ghẻ ra đòn, đánh mắng cô gái thậm tệ. Cô gái bị đòn đau mới thưa rằng:
- Mẹ ơi, con chẳng ăn cắp mà cũng chẳng có người đàn ông nào cho con cả. Chiếc váy này của một bà cho con đấy chứ...
- Làm gì có bà già nào tốt bụng thế!
Mụ nghiến răng ken két, bắt cô bé mồ côi khai ra bằng hết.
Cô bé mới kể: Hôm ấy, cô ra sông giặt quần áo, bỗng có bà cụ rách rưới bẩn thỉu đứng bên cạnh cô, xin nước uống. Nước sông đục ngầu nên cô lấy ống nước đem theo cho bà cụ uống. Bà cụ uống xong, liền cho cô gái cái bọc nhỏ, bảo là thưởng cho lòng tốt của cô. Mở ra, cô thấy chiếc váy đẹp. Quay lại không thấy bà già đâu nữa.
Mụ dì ghẻ nghe kể mới nghĩ ngay đến bà tiên. Liền đó, sáng hôm sau mới xui con gái mình ra sông giặt giũ, mong may mắn được gặp tiên. Cứ thế vài lần, một hôm, cô gái đỏng đảnh này bỗng thấy một bà cụ tiều tụy xuất hiện. Bà cụ tới gần bảo:
- Vạt váy của tôi lấm bùn. Cô làm ơn lấy nước gột giúp tôi với.
Cô gái cong môi đáp:
- Cái bà già bẩn thỉu này, hãy đi ra khỏi chỗ này. Thật là ghê tởm, ghê tởm.
Bà già nói:
- Thật đúng là một đứa con gái hư. Con bé này không giống con bé kia.
Nó mới sực nghĩ ra:
- Sao bà biết chị tôi à?
Nó mới định mở miệng xin lỗi thì bà cụ liền bảo:
- Một con người độc ác mà lại ngang ngạnh thì không trở thành cô gái xinh đẹp được. Bà cụ nói xong biến mất. Liền sau đó, cô gái đỏng đảnh cũng biến mất.
Chỗ cô ta vừa đứng xuất hiện một con vật nho nhỏ, mình cõng một tảng đá, chân cẳng tua tủa. Nó chính là con cua do bà tiên trừng phạt cô gái xấu bụng mà biến thành. Cô gái lúc là người thì nganh ngạnh, chẳng nghe lời ai nên khi nó biến thành con cua, nó phải bò ngang, chứ chẳng được đi thẳng. Con cua bò ngang, nên sau này người đời thấy kẻ nào ngang bướng là lại ví ngang như cua là vậy.
Từ chuyện con cua có cấu trúc như vậy nên chỉ bò ngang, khác với giống vật khác, nên dân gian khéo vận vào cuộc sống để chỉ những người ngang ngạnh “trống đánh xuôi, kèn thổi ngược”. Đó cũng là một tính xấu của con người không biết nghe lời hay, lẽ phải cứ làm theo ý mình. Cũng có thể từ đặc tính của con cua mà có chuyện trên để nói về sự tích con cua.

Theo Đi tìm điển tích thành ngữ của Tiêu Hà Minh



</tbody>


</tbody>

banhdacua
29-12-2011, 08:20 AM
1. Cá không ăn muối cá ươn, con cưỡng cha mẹ trăm đường con hư: Ướp cá cho khỏi thiu thối, ươn, oai, người ta ướp với muối. Nếu con cá nào không chịu ăn muối (để muối sát ngâm vào mình) thì con cá ấy sẽ ươn, sẽ thối. Kẻ làm con cưỡng lại cha mẹ, không nghe lời cha mẹ hóa ra hư hỏng như con cá không ăn muối vậy. Câu này lấy con cá làm thí dụ để khuyên những kẻ làm con phải vâng lời cha mẹ.

2. Cá lớn nuốt cá bé: Cũng là loài cá mà con cá lớn nuốt con cá bé để sống. Câu này lấy cá làm thí dụ để ngụ ý nói: cùng là loài người mà người mạnh ăn hiếp kẻ yếu, người không lường gạt người ngu, than phiền cho nhân tình thế thái.

3. Cá mè một lứa: Tức là một lứa cá mè, cá mè cùng một loại, một lứa mới nở ra, dùng để thả cá giống, không con nào lớn hơn con nào, cứ nhàng nhàng nhơ nhỡ như nhau một loạt. Người ta thường dùng câu này để nói người trên, người dưới, không giữ lẽ tôn ti trật tự mà cư xử với nhau, lại coi trên dưới bằng nhau như một lứa cá mè, không ai bảo được ai nữa.

4. Cá nằm trốc thớt: Mổ cá, người ta để cá lên thớt. Cá nằm trốc thớt là cá sắp bị mổ thịt. Người ta thường mượn câu này để nói lên cảnh nguy hiểm, chưa biết sống chết lúc nào.

5. Cá vàng bụng bọ: Cá vàng bề ngoài coi rất đẹp, nhưng cá vàng chuyên môn ăn bọ gậy. Người ta chê bụng dạ nó vì trong bụng nó toàn là bọ.

Câu này thường dùng để chê người bề ngoài coi tốt đẹp mà bề trong bụng dạ bẩn thỉu, xấu xa; ý nghĩa cũng gần giống câu “ tốt mã dẻ cùi”.

6. Cà cuống chết đến đít còn cay: Con cà cuống vốn có bọng cay nên chết đít nó cũng vẫn còn cay như thường.
Người ta dùng câu này để nói người liều lĩnh, bướng bỉnh, táo bạo, đến lúc sắp chết cũng vẫn cứ liều lĩnh, bướng bỉnh, táo bạo, không sợ.

7. Cả vú lấp miệng em: Cả vú là vú to. Em là em bé tức là trẻ thơ.
Cả vú lấp miệng em nghĩa đen là lấy cái vú to của mình (người mẹ) ấn vào miệng con thơ để nó khỏi khóc quấy. Nghĩa bóng câu này thường có nghĩa là cậy thần thế to ăn hiếp người ta, không cho người ta mở miệng kêu ca nữa.

8. Cách sông mới phải lụy đò: Vì có phải ở cách sông thì mới phải phiền lụy đến lái đò chở giúp sang sông. Nếu không, thì cần gì phải lụy lái đò. Lụy là phiền lụy, qui lụy, hạ mình, chịu nhún.
Câu này thường mượn để nói vì lẽ này, lẽ khác, việc lọ việc kia bất đắc dĩ mới phải qụy lụy nhau, không dưng thì chả ai phải lụy ai cả.

9. Cái khó bó cái khôn: Người ta vốn suy nghĩ sáng suốt, thủy trung, nhưng vì không có tiền, vì nghèo mà cái khôn ngoan bị bó thắt lại, không thi thố ra được; câu này đại ý nói vì nghèo nên không thể khôn ngoan.

10. Cái sẩy nẩy cái ung: Cái sẩy tức là nốt rôm; sẩy là nốt nho nhỏ mọc trên da thịt… Cái sẩy tuy bé vậy, song nếu không khéo lăm nó lặn đi, và để vi trùng lọt vào thì cái sẩy có thể nẩy thành cái nguy hiểm. Việc đời cũng vậy, không khéo dàn xếp ổn thỏa thì việc bé có thể xé thành việc to, có hại.

yenminh0210
30-12-2011, 02:03 PM
<tbody>




<tbody>
Văn hay chữ tốt
Thành ngữ chỉ: Người học giỏi, thông minh, tài hoa. Còn có câu: Chữ tốt văn hay. Ngược với câu: Văn dốt võ nát.
Chuyện kể:
Tương truyền thuở đi học, Cao Bá Quát viết chữ rất xấu nên nhiều bài văn hay đến mấy vẫn bị thầy cho điểm kém.
Một hôm, có bà cụ hàng xóm sang khẩn khoản:
- Gia đình già có việc oan uổng muốn kêu quan, nhờ cậu viết giúp cho lá đơn.
Cao Bá Quát vui vẻ trả lời:
- Tưởng việc gì khó chứ việc ấy cháu xin sẵn lòng.
Lá đơn được thảo ra, lý lẽ rõ ràng. Cao Bá Quát yên trí quan sẽ xét nỗi oan cho bà cụ. Nào ngờ, chữ ông xấu quá, quan đọc không được nên thét lính đuổi bà cụ ra khỏi huyện đường. Về nhà, bà kể lại câu chuyện khiến Cao Bá Quát vô cùng ân hận. Ông biết dù văn hay đến đâu mà chữ không ra chữ cũng chẳng ích gì. Từ đó, ông dốc sức luyện viết chữ sao cho đẹp.
Sáng sáng, ông cầm que vạch lên cột nhà luyện chữ cho cứng cáp. Mỗi buổi tối, ông viết xong mười trang vở mới chịu đi ngủ. Chữ viết đã tiến bộ, ông lại muốn có những cuốn sách chữ viết đẹp làm mẫu để luyện nhiều kiểu chữ khác.
Kiên trì luyện tập suốt mấy năm, chữ ông mỗi ngày một đẹp, Từ đấy, ông nổi danh khắp nước là người văn hay chữ tốt. Sau này, người ta cứ lấy ông ra để răn nhau rồi vận nên thành ngữ: “Văn hay chữ tốt”.
Có nhiều truyện tương tự như trên. Văn hay chữ tốt được coi là truyền thống, một nét đẹp văn hóa, đáng để mọi người học tập. Ngày nay, do có sự sa sút về nét đẹp đó nên ngành Giáo dục phát động phong trào vở sạch chữ đẹp bởi “nét chữ, nết người”. Tuy nhiên, đó mới chỉ là một vế của thành ngữ trên đây. Thành ngữ này thường dùng để ca ngợi những người tài giỏi, toàn diện về mọi mặt.

Theo Đi tìm điển tích thành ngữ của Tiêu Hà Minh



</tbody>


</tbody>

harrybotbeo
03-01-2012, 04:39 PM
Cà cuống chết đến đít còn cay



Về xuất xứ, câu thành ngữ trên bắt nguồn từ chuyện con cà cuống.

Cà cuống, tên khoa học là belortone indica là một giống côn trùng thuộc bộ cánh nửa (nửa cứng, nửa mềm), mình dẹt và sống trong nước hoặc nửa nước nửa cạn như ruộng lúa. Ở con đực, cơ thể có chứa tinh dầu trong đôi tuyến đặc biệt nằm ở khoang bụng dưới phía đuôi. Chất tinh dầu này, tên hoá học là veleriant amil, không độc, có vị cay mùi thơm ngát, thường được dùng làm gia vị trong bữa ăn của người Việt Nam ta, nhất là ở nông thôn, trong mùa gặt hái.

Theo nghĩa đen, câu thành ngữ trên nói về một thực tế là: con cà cuống cho dù chết thì ở đằng đuôi (đít) chất cay của tinh dầu quý kia vẫn còn. Song, trong đời sống tiếng Việt, câu thành ngữ trên không dùng với nghĩa đen, chỉ dùng với nghĩa bóng: nó chỉ những kẻ ngoan cố, bảo thủ, cố chấp, cay cú trước sự thất bại hoặc cái sai rành rành của mình. Thí dụ:

“Như cà cuống chết đến đít còn cay, bọn Giôn xơn vẫn “nhai nhải” giữ vững lời cam kết “với ngụy quyền Sài Gòn” (Báo Nhân dân 5-4-1968)

"Thằng cha khụng khiệng đi khỏi, ba anh em nhìn nhau phì cười:

– Rõ cà cuống chết đến đít còn cay” (Nguyễn Đình Thi. “Vỡ bờ”)


Vì sao câu thành ngữ có nghĩa như trên? Suy nghĩ kĩ tìm ra được câu trả lời khá lí thú là: quá trình hình thành nghĩa bóng của thành ngữ trên chính là quá trình sáng tạo tinh tế trong cách dùng từ và lối chơi chữ đồng âm của dân gian. Thật thế, câu thành ngữ khởi thuỷ là dựa vào một hiện tượng có thật: cà cuống – chết – đít còn cay. Thế rồi dân gian chỉ thêm vào giữa các từ của câu tiếng Việt miêu tả hiện tượng ấy một chữ đến mà làm thay đổi cục diện của thế trận ngôn từ: cà cuống chết [đến] đít còn cay. Tự nhiên, các chữ khô cứng của phán đoán miêu tả hiện thực cà cuống – chết – đít còn cay như động đậy, sống dậy, có hồn và chắp dính với nhau theo một mạch liên kết, một “hoá trị” khác: cà cuống – chết đến đít – còn cay: Rõ ràng là ở đây không nói chuyện về con cà cuống nữa, mà đã có chuyện về nhân sinh, về con người, ở chỗ “chết đến đít – còn cay”. “Chết đến đít” là cách nói quen thuộc của dân gian diễn tả sự nguy ngập, khó tránh khỏi, ở đây là “sự thất bại” “sự sai trái” đối lập với “phải” và cay ở đây không phải là “vị cay” nữa mà là “cay cú” ăn thua. Sự phối hợp giữa các thành viên (từ) trong thế trận ngôn từ cùng với sự chơi chữ đã đem lại cho câu thành ngữ trên một hiệu quả bất ngờ. Và lập tức nó được hiểu theo nghĩa bóng mà thôi, như ta đã biết.

Câu thành ngữ trên còn được dùng ở dạng biến thể khác là: “Cà cuống chết đến ức còn cay”. Thí dụ:

"Thằng địch rất ngoan cố xảo quyệt. Thua keo này nó bày keo khác. Cà cuống chết đến ức còn cay. Mỗi ngày ta cần nghiên cứu cách đánh mới”. (Nhiều tác giả “Gương chiến đấu của thanh thiếu niên miền Nam”).

Có lẽ, đó là do người ta tưởng lầm rằng tuyến cay của cà cuống ở trên ức nó. Tuy nhiên, cách nói thứ hai nhẹ hơn, kém sâu cay hơn trong việc lột tả ý nghĩa đã nêu.

harrybotbeo
03-01-2012, 04:43 PM
Cá nhảy giường thờ

Ở vùng Hải Thanh (Thanh Hóa) có tục lệ: Khi cúng giỗ hoặc Tết nhất, bao giờ trong mâm cúng cũng phải có cá biển . Dân ở đây làm nghề đánh cá nên có quan niệm sợ người đã khuất đói cơm lạt (nhạt) cá . Vì thế món cá được coi là món chính trong cúng bái.

Ngay cả ngày Tết, dù các thức dồi dào nhưng trên bàn thờ (vùng này gọi bàn thờ là giường thờ) cũng phải có đĩa cá.

Những năm vào ngày giáp Tết mà biển động, cá hiếm hoi, nhà nào cũng tìm mọi cách để kiếm cá về làm cơm cúng.

Có lần, ở nhà một người dân đã sắp cơm cúng chiều ba mươi Tết, nhưng người đi đánh cá biển vẫn chưa về. Chưa có cá thì chưa cúng được. Bà vợ bồn chồn, chạy ra chợ tìm mua cá. Chợ hết cá. Bà buồn bã quay về nhà. Bước vào nhà, nhìn vào mâm cỗ thấy có hai đĩa cá mối khoanh tròn, bà mừng rỡ, mắt sáng lên sung sướng. Bà hỏi cô con dâu: "Cá ở đâu thế con ?" Vốn là người dí dỏm, cô con dâu trả lời: "Biết nhà ta chưa có cá, cá từ ngoài biển vào rồi tự nhảy lên giường thờ đấy mẹ ạ". Thì ra, ông lão ngư dân ở lại đánh cá, không về ăn Tết, đã gửi cá qua thuyền khác cho nhà đón Tết.

Thành ngữ "Cá nhảy giường thờ" ra đời như thế. Nó hàm chỉ những sản vật quý, hiếm có được lúc hiếm hoi. Nó còn có nghĩa là một thứ hàng đắt, khó mua. Vì lúc cần mà chưa có, dân bán cá (hoặc các sản vật khác) có thể nâng giá lên. Người mua, vì cần kíp phải nhắm mắt mua.

Trong sử dụng, thành ngữ còn bảo lưu nghĩa nói lên tục lệ cúng cơm cá của người vùng biển.

matbiec
05-01-2012, 11:21 AM
Chó mái chim mồi

Trong đời sống hàng ngày, ta thường dùng thành ngữ chó mái chim mồi để chỉ bọn người cam tâm làm tay sai cho kẻ thù.
Cách diễn tả thành ngữ như trên là thoả đáng. Tuy nhiên, xét về mặt chữ nghĩa đôi điều còn khiến chúng ta phải băn khoăn. Trong dạng thức chó mái chim mồi thì “chim mồi” đã rõ nghĩa và dễ hiểu. Đó là loại chim người ta nuôi làm “mồi” để dử bắt đồng loại. Nhưng chó mái là gì, quả thật là khó hiểu. Xem ra, trong tiếng Việt chỉ có từ mái dùng để chỉ giống cái, nhưng tiếc thay từ này không được dùng để chỉ cái giống đối với loài chó, mà chỉ dùng cho gà, vịt, ngan, ngỗng tức là cho loài chim nói chung mà thôi. Có lẽ do thấy dạng thức chó mái chim mồi có lí do không ổn như đã thấy mà nhiều người chuyển sang sử dụng dạng thức chó má chim mồi.
Dạng thức chó má chim mồi chẳng những không khắc phục được cái sai lệch của dạng chó mái chim mồi mà còn sa vào một bất hợp lí khác. Chúng ta dễ dàng nhận thấy, trong khi chim mồi là một tổ hợp từ chuyên biệt về nghĩa thì chó má lại là một từ có nghĩa tổng hợp, chỉ loài chó nói chung. Đây là lí do cơ bản làm cho chó má không tương hợp được với chim mồi. Và do đó dạng thức chó má chim mồi không chỉnh trong sự đối ứng theo từng cặp giữa các thành tố tạo nên thành ngữ.
Bên cạnh các dạng thức vừa nêu trong tiếng Việt còn có dạng chó mái chim mồi cũng được dùng nghĩa tương tự.
Thoạt tiên, nghe đến chó mái cũng hơi lạ và khó hiểu. Nhưng thực ra, mái trong chó mái lại là một động từ thường dùng để chỉ hành động ra hiệu cho kẻ khác biết điều gì đó như trong máy nhau đi về, mái cho người khác biết để tránh xa. Do đó, chó mái là loại chó chuyên đi đánh hơi, ra hiệu cho chủ biết điều cần phát hiện, tìm kiếm. Với nghĩa này, chó mái là cách nói khác của chó săn mà thôi, và hoàn toàn tương hợp với chim mồi về từ loại cũng như ý nghĩa. Như vậy, phải chăng chó mái chim mồi là dạng đúng, dạng chính xác. Tuy nhiên, do chỗ từ máy khó hiểu, hay gây nhầm lẫn mà người Việt có xu hướng ít dùng và thay vì vào đó, người ta hay dùng dạng chó săn chim mồi để chỉ lũ cam tâm làm tay sai cho kẻ thù.

matbiec
05-01-2012, 11:46 AM
Dốt có đuôi

Những người kém thông minh, chậm hiểu, dốt nát, khờ dại thường bị chế giễu bằng thành ngữ “dốt có đuôi”. Thành ngữ này có xuất phát điểm và quá trình chuyển dịch rất thú vị.
Nhiều người cho rằng, thành ngữ “dốt có đuôi” xuất hiện gắn liền với chế độ khoa cử dưới thời phong kiến. Thoạt tiên, thành ngữ này chỉ có ý chê bai một đối tượng không đến nỗi dốt nát. Họ cũng là người có đỗ đạt trong kì thi hội, thi đình hẳn hoi. Số là, sau kì thi, những người trúng tuyển được tập trung lại để yết kiến vua. Họ được sắp xếp thứ tự từ người đỗ cao nhất đến người đỗ thấp nhất (tức đứng cuối, đứng rốt) với quần áo mũ miện nhà vua ban phát chỉnh tề. Người đứng sau cùng đội chiếc mũ có tai dài, vì thế người ta mới chế giễu là “có đuôi”. Rõ ràng trong mắt sĩ tử và dân chúng thì người đội mũ có đai dài trông như cái “đuôi ấy”, vẫn là người dốt hơn cả so với những người có mặt. Từ đây, trong lời ăn tiếng nói của nhân dân xuất hiện thành ngữ “dốt có đuôi” để chế giễu tất cả những ai dốt nát.
Một số người khác lại cho rằng, thành ngữ này có xuất xứ từ một câu chuyện cười Việt Nam. Chuyện rằng, một thầy đồ được mời đến cúng cho gia chủ tên là Tròn. Nhưng than ôi, thầy đồ gì mà chữ nghĩa chẳng được bao lăm. Đến cái tên của gia chủ là Tròn mà ông ta cũng chẳng biết viết, đành khoanh một vòng tròn. Chẳng may, có một kẻ tinh nghịch đã sổ thêm một nét vào “chữ Tròn” ông vừa mới viết. Khi đọc sớ, thầy không biết, cứ việc theo hình vẽ mà đọc tên gia chủ là “Gáo”. Chủ nhà giật mình, cải chính. Ông thầy cúng biết mình nhầm, xấu hổ lắm, những mong có lỗ nào mà chui ngay xuống đất. Qua câu chuyện này, thành ngữ “dốt có đuôi” có hai cách hiểu về xuất xứ và cũng có hai biến thể khác nhau: “dốt có đuôi” “dốt có chuôi”. Dẫu hiểu thế nào thì thành ngữ này cũng chỉ biểu hiện ý nghĩa: “dốt nát và không giấu được cái dốt của mình”.
Để biểu thị ý nghĩa “dốt nát, không biết gì”, ngoài thành ngữ “dốt có đuôi”, “dốt có chuôi”, trong tiếng Việt còn có các thành ngữ “dốt đặc cán mai”, “dốt như bò”. Tuy nhiên, các thành ngữ này không có nét nghĩa “không giấu được cái dốt, cái dốt bộc ra ngoài”, chúng chỉ đơn thuần biểu thị mức độ cao nhất của sự dốt nát mà thôi.

yenminh0210
09-01-2012, 11:34 AM
Học vẹt
Thành ngữ chỉ: Học ra rả, học thuộc làu làu nhưng không hiểu cái gì. Còn có câu: Học như vẹt Học như cuốc kêu.
Chuyện kể:
Xưa có một con vẹt được người nuôi, dạy cho nói tiếng người. Con vẹt học được vài ba tiếng, suốt ngày ra rả, lặp đi lặp lại tiếng nói đã bắt chước được, làm huyên náo cả khu vườn.
Con vẹt tỏ vẻ hãnh diện với các loài chim, nó mới lên giọng:
- Từ nay, ta toàn nói bằng tiếng người, chẳng đả động đến tiếng chim nữa.
Loài chim thấy chú vẹt hợm hĩnh mới họp nhau lại bàn cách dạy cho con vẹt một bài học.
Con quạ nói:
- Vẹt học lỏm được tiếng người, nhưng lại tỏ ra thông thái, quên cả ngôn ngữ, âm thanh của loài chim, như thế nó rất ngu!
Con sáo hưởng ứng lời của quạ, nó mới nhảy lên cành cây cao gần nơi chú vẹt ở, nói to lên rằng:
- Chú vẹt à, bác đây cũng giỏi tiếng người, bác sẽ bày thêm cho chú học thật giỏi để nói chuyện thông thạo được với người.
Vẹt vui mừng ra mặt. Sáo bèn dạy:
- Vẹt là tên ngu. Vẹt ngu, vẹt ngu!
Vẹt lặp lại tiếng sáo:
- Vẹt là tên ngu. Vẹt ngu, vẹt ngu!
Vẹt cứ bắt chước lời dạy của sáo, mà lặp lại cho đến thuộc. Cả bầy chim trong vườn được một trận cười thỏa thích.
Quả là học vẹt thì chẳng hiểu sâu xa cái gì. Thế gian cũng lắm kẻ học vẹt, cố tình bắt chước người khác mà lại tỏ ra hãnh diện hợm đời, thì cũng đáng thương như con vẹt kia tự chửi mình mà thôi.

Theo Đi tìm điển tích thành ngữ của Tiêu Hà Minh

matbiec
11-01-2012, 09:01 AM
Dốt hay nói chữ

Ý nói kẻ dốt nát nhưng cứ tỏ ra hay chữ, dùng chữ nghĩa để chứng tỏ ta đây.
Còn có câu: Dốt đặc còn hơn hay chữ lỏng. Ý nói thà không biết gì còn hơn biêt lơ mơ lại còn tỏ vẻ rồi nói những điều sai trái. Cũng tương tự như thế còn có câu: “Người chẳng có mẽ lại hay làm dáng”, “Xấu hay làm tốt, dốt hay nói chữ” để chỉ trích kẻ đề cao mình.

Chuyện kể:
Xưa có anh học trò rất dốt, nhưng ở đời “Xấu hay làm tốt, dốt hay nói chữ”. Có người tưởng anh hay chữ thật, đón về nhà dạy trẻ.
Một hôm, dạy thằng con nhà chủ đọc sách Tam thiên tự, sau chữ “tước” là sẻ, đến chữ “kê” là gà, thầy ta thấy cái chữ nhiều nét khó không biết dịch nghĩa sao cả. Khi trẻ hỏi gấp, thầy cuống quýt đọc liều “dủ dỉ là con dù dì”. Tối hôm ấy, nhân nhà chủ có bàn thờ thổ công, thầy đến khấn thầm, xin ba đài âm dương xem chữ ấy có đúng không. Thổ công không nói gì cả. Thầy cho là phải, lấy làm đắc sách. Hôm sau, thầy bệ vệ ngồi trên giường bảo lũ học trò đọc to rằng; “Dủ dỉ là con dù dì, dủ dỉ là con dù dì”. Người chủ đang ở vườn, thấy vậy bỏ cuốc chạy vào hỏi thầy:
- Chết chửa, chữ ấy là chữ “kê” sao lại dạy chúng nó là con dù dì.
Bấy giờ thầy mới nghĩ: “Mình đã dốt, thổ công nhà này cũng dốt nữa”, song vẫn nhanh trí gỡ rằng:
- Ông tưởng tôi không biết chứ kê, mà kê nghĩa là gà hay sao? Nhưng tôi dạy chúng nó thế là để chúng biết đến tam đại con gà kia đấy.
Nhà chủ ngạc nhiên hỏi:
- Tam đại con gà là thế nào?
Thầy cắt nghĩa:
- Thế này nhé: Dủ dỉ là chị con công; Con công là ông con gà. Thế chẳng phải tôi đã dạy chúng hiểu ba đời con gà là gì.
Nhà chủ đành chịu thầy, rồi ra nói với thằng con: “Thày này đã dốt lại hay nói chữ”.
Theo truyện “Tam đại con gà” – “Truyện cổ nước Nam”, Ôn Như Nguyễn Văn Ngọc – NXB Văn học, 2003
--------------
Chuyện dốt hay sính chữ không chỉ chuyện xưa. Nay có kẻ dốt làm quan, nhất là quan pháp đình thì thiên hạ khổ lắm lắm! Một phán quyết sai làm hại cả nhà, thậm chí cả một cộng đồng xã hội. Vì vậy truyện “Tam đại con gà” chính là hiểu được kẻ dốt nói chữ là như thế nào. Chuyện này âu cũng cho đời một bài học.

(Theo “Đi tìm điển tích thành ngữ”. NXB Thông Tấn)

harrybotbeo
11-01-2012, 09:11 AM
Đục nước béo cò

Khi tìm hiểu ý nghĩa thành ngữ đục nước béo cò người ta thường lưu tâm đến một hiện thực dễ dàng quan sát thấy ở các vùng nông thôn. Ta đã biết, cò là một loài vật đêm ngày lặn lội kiếm con ốc, bắt con tôm, con cá trên đồng ruộng. Phải nhọc nhằn lắm, may ra cò mới kiếm được miếng ăn hàng ngày. Thế nhưng, trong các vụ cày bừa, ruộng nước đục ngầu, bùn, lấm làm cho cá tôm ở dưới nước không chịu được phải ngoi mình lên mặt nước. Thế là chẳng vất vả bao công, cứ thế cò chén những con vật xấu số do hoàn cảnh "đục nước" mà phải ngoi mình làm mồi cho nó. Biết lợi dụng vụ cày bừa, với những chân ruộng đục nước, cò có thể kiếm chác, nuôi thân béo mầm. Nhưng nếu chỉ dừng lại ở sự quan sát này thì chưa làm bộc lộ rõ được cách đánh giá của nhân dân ta đối với kẻ cơ hội lợi dụng hoàn cảnh rối ren nội bộ mà kiếm lợi lộc qua thành ngữ đục nước béo cò!
"Nghĩ đến câu đục nước béo cò
Nên bao nhiêu sự thật sờ sờ
Các xừ cứ tảng lờ như chẳng rõ"
(Thơ Tú Mỡ)
Hẳn là trong quan niệm dân gian còn có một ý tứ gì thâm hậu hơn được tiềm ẩn trong thành ngữ này. Đục nước trong đục nước béo cò không hẳn chỉ phản ánh nhân tố khách quan đưa lại sự rối ren của hoàn cảnh (như do cày bừa) mà còn có thể do bản thân các nhân tố chủ quan gây nên. Cảnh đàn cá tranh ăn, cảnh cá lớn nuốt cá bé, chẳng làm khuấy động môi trường sống của chúng ta là gì. Một điều thú vị hơn là tại sao "đục nước" lại chỉ béo mỗi chú cò và chính cò là biểu hiện của kẻ cơ hội? Có lẽ đối với nhân dân ta, con cò gắn liền với cuộc sống đồng ruộng, ngoài việc tự thân kiếm ăn, cò còn là kẻ cướp công, ăn bớt ăn xén công sức của kẻ khác. Cốc mò cò xơi, cò ăn bớt của cốc, chẳng phải là xuất phát từ cách nhìn nhận đó hay sao? Cho nên cò là biểu trưng cho hạng người cơ hội, và với thành ngữ đục nước béo cò nhân dân ta phê phán hành vi của bọn cơ hội chủ nghĩa.
"Rân nhảy ra đúng lúc, khi lãnh chúa Kỳ Bường là lão Phô đã gục, khi Chính phủ bị người phải vung tiền ra mua, khi tình hình rối loạn dễ đục nước béo cò. Cha hắn sao biết chỗ lắt léo ấy" (Phan Tư- "Gia đình má Bảy")

(St.)

harrybotbeo
11-01-2012, 04:24 PM
Đất có thổ công, sông có hà bá

Ý câu này: Nơi nào cũng có người trị nhậm, không được vi phạm quyền làm chủ của họ.
Còn có câu: Nước có vua, làng có lệ.

Chuyện kể:
Một hôm, con quỷ từ trên trời xuống thấy Thổ công thì cai quản một vùng rộng lớn, còn Hà bá chỉ cai quản một vùng nước chạy quanh vùng của Thổ công. Con quỷ mới nảy ra ý đồ định chiếm ngự một phần sông, một phần đất ở vùng này để đắp luỹ xây thành làm thuỷ tổ của quỷ. Nó gặp luôn Thổ công, xin cho được xây thành. Được Thổ công đồng ý, thế là nó xây. Trước khi xây nó không làm lễ tạ nê Hà bá tức lắm. Hà bá bèn phái cho nước chảy vào đất theo mạch nước ngầm. Hễ thành cứ xây được đến đâu, là nước lại xói mòn nên thành lại bị đổ.
Thổ công thấy nước xâm phạm đến địa phận của mình cai quản, giận lắm, bèn nói rằng:
- Ta đây là đất, mà đất thì “Thổ công khắc thuỷ”. Ta há lại để cho nước lấn ta sao?
Rồi Thổ công sai dân sự đến, cứ thấy nước ở đâu là lấy đất chắn ngang, không cho nước chảy lan ra được nữa.
Lúc này ở dưới thuỷ phủ, thần Hà bá thấy nguồn nước của mình bị tắc, lấy làm bực bội, nói rằng:
- À, cái lão này cậy người tại bộ, lấy cái lẽ “Thổ khắc thuỷ” để triệt hại ta. Nhưng ta đây sẵn có thuật “Thuỷ phá thổ”. Đời nào ta lại thua gã.
Nói rồi, Hà bá dần dần dâng cho nước lên cao, đánh vỗ vào đất, là cho đất phải long lở tan ra mà trôi cả xuống nước. Đánh nhau như thế làm cho dân tình kiệt quệ, đất lở, cây cối ngổn ngang, nước sông đục ngầu. Cuối cùng cả hai mệt mỏi, mới nhận ra là con quỷ làm bậy bạ.
Hai thần gặp nhau thoả thuận. Hà bá nói:
- Ta Thần Sông, cai quản sông, kẻ nào xâm phạm sông của ta thì ta khắc trị.
Thổ công cũng nói:
- Ta Thần Đất, kẻ nào xâm phạm đất của ta thì không xong với ta. Ta với ngươi không dính líu gì với nhau, không đánh nhau nữa, mà sinh lở đất, cây cối lụi tàn, lũ lụt ngập nhà! Rồi cả hai cùng nói: “Đất có Thổ công, sông có Hà bá”.
Theo “Ông Thổ công và ông Hà bá” – “Truyện cổ nước Nam” – Ôn Như Nguyễn Văn Ngọc. NXB Văn học, 2003
-----------------
Ở đâu làm gì cũng cần tôn trọng luật lệ chung, không thể tự ý, tự quyền bất chấp quy định.
Thời nay, đất đai, sông hồ bị kẻ tham lam chiến đoạt cũng như nạn hoành hành bất chấp luật lệ đến cả Thổ công, Hà bá cũng phải chịu thua nhưng rồi trước sau những kẻ đó cũng sẽ bị trừng trị.
(Theo “Đi tìm điển tích thành ngữ”. NXB Thông Tấn)

banhdacua
13-01-2012, 08:50 AM
Cá hóa rồng

Con Rồng là truyền thuyết, là sự tưởng tượng của dân gian, cho rằng nó từ cá chép mà thành. Rất có thể từ một truyền thuyết mà có câu chuyện trên, rồi từ chuyện đó mà nên thành ngữ “cá chép hóa rồng” để răn dạy sự học hành, thi tài của người đời, nếu chịu khó, quyết tâm sẽ thành đạt, trở nên danh giá…Tuy nhiên cũng có kẻ may mắn, gặp thời mà “lên xe xuống ngựa”, nhưng phải nhớ rằng gốc gác, cội rễ của mình cũng chỉ từ sự bình thường mà nên. Chớ lấy cái danh giá của hiện tại mà coi thường người khác.

Theo truyền thuyết ở Trung Quốc hằng năm vào ngày mồng 1 tháng 11 và ngày 21 tháng 12 âm lịch, mưa to gió lớn. Khi ấy, các loài tôm cá tụ tập nhau về cửa sông Trường Giang thuộc đất Tứ Xuyên để thi tài. Vùng này hiểm trở, nước đổ vào chân núi có ba vực sâu do vua Hán Vũ đào để trị thủy nên còn gọi là Ba Tầng Cửa Vũ hay Vũ Môn Long Vân.


Tôm, cua, ốc, ếch, rùa, ba ba và các loại cá khắp nơi đổ về đăng ký thi tài. Cuộc thi gọi là vượt vũ môn. Khi thi, con nào vượt được 3 vực sâu có sóng lớn tức là thắng cuộc. Tất cả cá lớn, cá bé các loài đều ra sức thi tài nhưng lần lượt bị loại. Duy chỉ có con cá chép ở phía nam sông Thanh Lãnh ba lần nhảy đều được chấm điểm ưu, vì nó đã vượt qua được ba vực sâu sóng lớn.

Giám khảo ếch oang oang tuyên bố:

- Anh chép lực lưỡng sông Thanh Lãnh là thí sinh được giải. Mọi người nghe đây: “Chép đã dầy công ôn luyện mấy năm nay, nhờ vậy đã giành phần thắng và được hóa rồng đỏ gọi là Xích Long”.

Nói xong, Ban giám khảo ếch khoác lên mình cá chép những vẩy bạc long lanh.

Con Rồng là truyền thuyết, là sự tưởng tượng của dân gian, cho rằng nó từ cá chép mà thành. Rất có thể từ một truyền thuyết mà có câu chuyện trên, rồi từ chuyện đó mà nên thành ngữ “cá chép hóa rồng” để răn dạy sự học hành, thi tài của người đời, nếu chịu khó, quyết tâm sẽ thành đạt, trở nên danh giá.

Phận gái lấy được chồng khôn
Xem bằng cá vượt vũ môn hóa rồng

Tuy nhiên cũng có kẻ may mắn, gặp thời mà “lên xe xuống ngựa”, nhưng phải nhớ rằng gốc gác, cội rễ của mình cũng chỉ từ sự bình thường mà nên. Chớ lấy cái danh giá của hiện tại mà coi thường người khác.


Theo Điển tích thành ngữ của Tiêu Hà Minh – Nhà xuất bản thông tấn

yenminh0210
13-01-2012, 11:37 AM
<tbody>




<tbody>
Muỗi đốt chân voi
Nghĩa bóng: Không ăn thua, không tác dụng gì, tốn công vô ích. Còn có câu: Như muỗi đốt chân voi Như muỗi đốt cột đình Muỗi đốt sống trâu.
Chuyện kể:
Xưa trời sinh ra loài muỗi, lúc đầu chũng cũng như ruồi chỉ hút lấy chất uế tạp nơi nọ nơi kia mà sống. Loài muỗi tập trung lại sống đông đúc ở nơi bụi cây. Một hôm, chẳng biết từ đâu có một con voi nghênh ngang đi tới. Con voi to lớn chẳng để ý tới lũ muỗi li ti, vo ve cạnh mình, đuôi nó quật từ bên nọ sang bên kia làm họ hàng nhà muỗi chết không sao kể siết. Loài muỗi mới bàn nhau rằng:
- Thằng này nó hại ta thế này, không lẽ ta cứ chịu để thế được chăng. Song nghĩ lại nó to như vậy, ta không làm gì được thì phải có “Anh hùng tự hữu anh hùng trị” chứ.
Thế là loài muỗi đem đơn đến sư tử để kiện.
Sư tử vốn là chúa sơn lâm thật đấy, nhưng thấy voi to lớn nên sợ không dám đương đầu với voi, bèn mách với trời. Trời bảo:
- Ta sinh ra mỗi loài một phận, tự kìm chế nhau mà sống. Loài muỗi có cái vòi khác nào như mũi kim, sao không bảo nhau mà đốt cho voi sợ.
Sư tử đem lời nhà trời về nói với loài muỗi. Loài muỗi nghĩ ra, con nọ nhìn con kia, quả thấy con nào con nấy có cái vòi như mũi kim châm cả, mới dương dương tự đắc nói rằng:
- Quả là loài muỗi ta có thanh gươm lợi hại, ấy vậy mà giờ đây mới tỏ. Nay thì con voi kia phải đền mạng.
Liền đó, họ nhà muỗi dương dương tự đắc, bay ra nhiều vô kể, bu lấy chân voi, chúng ra sức mà đốt, hòng hút hết máu làm cho voi phải quỵ xuống. Nhưng con voi nọ chẳng thèm để ý đến việc ấy, nó thong dong vít bụi chuối ăn hết lá lại đạp đổ cả cây.
Lũ muỗi đốt vào chân voi, da voi thì dầy mà vòi muỗi thì bé tí thì làm sao đâm vòi vào được. Muỗi già, muỗi bé đều bị gãy vòi, lại thêm đuôi con voi phật đi, phật lại bên này bên kia làm cho họ hàng nhà muỗi chết nhiều vô kể.
Muỗi chết nhiều quá mới lại kiện đến sư tử. Sư tử biết chuyện mới bảo:
- Đồ nhà muỗi chúng mày mà đốt chân voi thì nhằm nhò gì, khác gì chúng mày đốt cột đình. Như tao đây còn phải chịu nó, huống hồ chúng bay, thôi liệu mà lo lấy thân phận mình, từ nay chớ có kiện cáo gì nữa nghe chưa?
Con muỗi, loài côn trùng nhỏ bé, yếu ớt, dùng vòi đốt chân voi - con vật to lớn, da dầy. Rõ là hình ảnh tương phản. Người ta cũng vậy, làm cái việc không ngang tài, ngang sức thì không thể làm được mà cứ cố tình thì cũng chỉ uổng công vô ích giống như muỗi đốt chân voi mà thôi.

Theo Đi tìm điển tích thành ngữ của Tiêu Hà Minh



</tbody>


</tbody>

banhdacua
14-01-2012, 11:16 AM
Đồng không mông quạnh

Với người Việt Nam, ý nghĩa chung của thành ngữ đồng không mông quạnh không có gì là phức tạp khó hiểu. Trong mọi trường hợp, thành ngữ này đều được dùng để chỉ một không gian trống trải, vắng lặng đến mức gây cho con người cảm giác choáng ngợp vì cô đơn.
“Chàng về đồng không mông quạnh, gió lạnh sương sa
Em ở nhà lụy lâm, lâm lụy nước mắt sa theo chàng”.
(Dân ca Bình Trị Thiên)
Nếu chỉ dừng lại ở việc tìm ý nghĩa đương đại, ý nghĩa chung của thành ngữ, thì rõ ràng đây là một thành ngữ đơn giản, không có điều gì cần phải bàn. Nhưng thực ra thành ngữ đồng không mông quạnh lại chính là một thành ngữ phức tạp đối với những ai muốn hiểu rõ từng chữ, từng từ cấu tạo nên thành ngữ này. Cho đến nay, cách hiểu ý nghĩa của một vài từ trong thành ngữ vẫn còn là điều “thách đố” chúng ta. Xét về mặt chữ nghĩa, các từ đồng, mông được bàn đến nhiều và có ý kiến trái ngược nhau.
Từ cách nhìn đồng đại, các từ đồng và không đều được coi là dễ hiểu, không cần phải lý giải gì thêm. Nhưng từ mông và từ quạnh thì nên hiểu thế nào? “Từ điển Hán - Việt” của Đào Duy Anh giải thích mông nghĩa là “tối tăm” còn quạnh là “vắng vẻ”. Ở các từ điển khác kết cấu mông quạnh được giải thích nghĩa là “rộng rãi và vắng vẻ”. Dù giải thích tách riêng thành hai yêu tố mông, quạnh hay thành một cấu kết mông quạnh, thì ý nghĩa của chúng vẫn được nhận diện phù hợp với ý nghĩa chung của toàn thành ngữ. Theo cách hiểu này thì đồng là một danh từ và ba yếu tố không, mông, quạnh được xem là các tính từ bổ nghĩa cho danh từ trung tâm có chức năng lột tả cảnh rộng rãi, tối tăm, vắng vẻ mà thành ngữ đồng không mông quạnh hàm chỉ. Song khi khảo sát loại thành ngữ có bốn yếu tố, chúng ta chưa gặp một dạng thức nào có cấu tạo gồm một trung tâm và ba yếu tố phụ làm định ngữ như cách giải thích ở trên. Tính cá biệt và phi hệ thống này đã khiến chúng ta phải tìm một cách lí giải khác.
Nhìn chung, đồng không mông quạnh được xem là một thành ngữ đối ứng, trong đó đồng đối với mông, không ứng với quạnh. Các từ không, quạnh, đối ứng với nhau là hiển nhiên và hợp quy tắc. Vấn đề chủ yếu là ở cặp đồng và mông. Xung quanh cặp từ này cũng có lắm cách hiểu khác nhau. Có thể thấy ít nhất là có những cách hiểu sau đây:
1. Trong tiếng Việt có các từ mông và đồng có nghĩa gần nhau và đều chỉ trẻ nhỏ. Đó là nghĩa trong các từ nhi đồng, đồng dao, mông học, mông huấn. Cách Ií giải này thỏa mãn được sự đối ứng và tương hợp về nghĩa của cặp từ mông đồng trong thành ngữ đồng không mông quạnh vì theo quan niệm dân gian, trẻ con gắn liền với cảnh đầm ấm, yên vui, nếu đến một nơi nào đó mà vắng vẻ, trống thiếu trẻ con thì người ta cũng cảm nhận thấy sự trống vắng và buồn tẻ. Điều này khá gần gũi với ý nghĩa chung của thành ngữ đồng không mông quạnh hiện đang được dùng trong tiếng Việt. Nhưng rất tiếc là ý nghĩa chung của thành ngữ đang xét lại thiên nói về không gian hơn là nói về quan hệ giữa nguời với người, cho nên, cần xem xét lại cách luận giải này.
2. Theo cuốn Từ điển từ nguyên tiếng Hán, có một từ mông chỉ một loài cỏ. Với nghĩa này, mông có thế đối ứng và tương hợp được với đồng (cánh đồng). Quả là đồng và cỏ gắn liền với nhau và có thể đối ứng, tương hợp về nghĩa như đồng khô cỏ úa hay đồng khô cỏ cháy. Song điều khó giải thích là ở chỗ, nếu mông là từ chỉ cây cỏ thì ít khả năng kết hợp được với quạnh. Do đó, sẽ hoàn toàn có lý khi người ta nghi ngờ tính đúng đắn của cách giải thích này.
3. Cách luận giải thứ ba cho rằng mông vốn là một từ cổ, chỉ bãi trống giữa những cánh đồng. Từ này đang được lưu giữ trong một số thổ ngữ ở Nghệ Tĩnh. Nếu quả đúng là như thế thì ý nghĩa của thành ngữ đồng không mông quạnh là sáng rõ.
Như vậy, cho dù ý nghĩa của các yếu tố trong thành ngữ đồng không mông quạnh còn cần được tìm hiểu thêm, nhưng đối với mọi người, ý nghĩa và cách sử dụng thành ngữ này đều thống nhất. Những khoảng không gian trống trải, vắng lặng, quạnh hiu đều có thể ví với cảnh đồng không mông quạnh.

(St)

banhdacua
14-01-2012, 11:16 AM
Đười ươi giữ ống

Khi có người nào khờ dại mà bị mắc lừa, phải làm một việc vô ích nguời ta hay ví với “đười ươi giữ ống”.
Theo các tài liệu khoa học về sinh vật thì đười ươi, vượn người và con người là ba dòng họ cùng một thủy tổ là vượn rừng rậm, có tên khoa học là Dryopithecus. Đười ươi là một loài khỉ lớn lông màu nâu rất dài, mặt râu ria xồm xoàm, không có đuôi hình dạng gần giống người, con đực có thể cao tới 1,8m, con cái nhỏ hơn. Đười ươi là một trong bốn loài khỉ dạng người hiếm và rất quý trên thế giới, hiện nay còn nhiều ở các đảo Boocnêô và Xumatra của lnđônêxia. Ở rừng rậm nước ta, thời xa xưa cũng có đười ươi. Đười ươi có đôi cánh tay rất khỏe, nó thường dùng tay để kiếm ăn. Đười ươi là một loài khỉ độc, nó có thể bắt và ăn thịt người, nếu không đề phòng cẩn thận. Khi bắt được con mồi, đười ươi thường sung sướng ngửa mặt lên trời cười một cách hả hê tít cả mắt và chờ cho đến khi mặt trời lặn nó mới ăn thịt con mồi. Nắm được điểm yếu đó khi đi rừng người ta thường phòng đười ươi bằng cách xỏ tay vào hai ống tre để ngộ nhỡ đười ươi có bắt được thì người ta rút tay ra mà chạy thoát, con đười ươi ngu ngốc thì cứ giữ hai cái ống đó và ngửa mặt lên trời cười cho đến tối.
Từ thực tế này mà câu đười ươi giữ ống thường được dùng để so sánh với những kẻ khờ dại, ngu ngốc hay bị mắc lừa.
Thành ngữ này không nhằm so sánh một hành động cụ thể nào mà thường chỉ so sánh một đối tượng, một bản chất cụ thể của con người.

(St.)

harrybotbeo
16-01-2012, 03:12 PM
Đẹp như tiên



Tiên: Nhân vật tượng trưng trong các truyện thần thoại rất đẹp, có phép màu nhiệm. Tiên có tiên ông, tiên bà, nhưng khi ví với cái đẹp thì thường hay nói đến các cô tiên.
Nghĩa bóng: Vẻ đẹp lý tưởng lộng lẫy của người con gái.
Còn có câu tương tự: Đẹp như Kiều; Đẹp như người trong tranh; Đẹp như Tây Thi; Đẹp như tiên giáng trần; Đẹp nghiêng nước nghiêng thành…
Chuyện kể:
Ở đất Non Bồng, còn gọi là Bồng Lai, một trong ba quả núi ở biển, có hình bầu rượu. Nơi ấy có rất nhiều cô tiên. Mỗi cô đều xinh đẹp một vẻ. Các nàng tiên ngày ngày mặc áo mây trắng ngà, lướt thướt bay đi trẩy hội Long Vương. Nàng nào cũng cầm một bầu đi theo để khi trẩy hội không quên múc đầy bầu nước đem về tưới cho vườn đào xanh tốt.
Hồi ấy, con trai Long Vương đã trưởng thành, chàng có sức khoẻ vượt muôn trùng đại dương, một hôm đi dạo ở Thuỷ cung gần đảo Non Bồng bỗng nhìn thấy mấy cô tiên đang tắm. Các cô tiên cười đùa thoả thích. Con trai Long Vương lòng dạ ngẩn ngơ, mới men theo bờ động đến ngắm. Chàng mải ngắm nghía những người đẹp lỡ đạp vào hòn đá rơi xuống nước. Thấy động, những cô Tiên nhanh chóng thu vén quần áo, xách vội bình nước bay về nơi ở.
Chàng con trai Long Vương trở về ngẩn ngơ. Từ bấy sinh ra tương tư. Vua cha cho đi khắp vùng để tìm cho được người con gái đẹp kết hôn với chàng trai, nhưng người con gái nào đến chàng cũng không ưng thuận.
Chàng cầu khẩn:
- Cha đi tìm nàng tiên về đây cho con. Chẳng có ai đẹp hơn các nàng tiên mà con đã nhìn thấy.
Vua cha nhờ thần Cá Chép bay lên núi Thiên Bồng để dạm hỏi. Đến nơi, thần Cá Chép thấy một bầy tiên lộng lẫy kiều diễm, chẳng biết chọn ai mà dạm hỏi, đành đứng xa mà ngắm. Ngắm mãi, ngắm mãi, thần Cá Chép dần biến thành một hòn núi nhỏ, biệt tăm không trở lại Long Vương.
Chàng trai si tình thấy thần Cá Chép đi mãi không trở về, mới nóng lòng lên mặt nước, đến núi Thiên Bồng để tìm nàng tiên. Lại như lần trước, chàng ngắm mãi rồi tương tư, lâu ngày hoá thân thành một quả núi, rồi không bao giờ trở về Long Vương nữa.
Núi Thiên Bồng trước đây có một quả, giờ thêm thần Cá Chép, lại chàng trai con vua Thuỷ Tề biến thành hai quả núi nhỏ nữa, chụm đầu vào nhau hướng về quả núi lớn, như đang nhìn các nàng tiên kiêu sa kiều diễm. Từ đó núi Thiên Bồng còn gọi là Bồng Lai có ba đỉnh là vậy. Nơi này ngày ngày tháng tháng vẫn có những nàng tiên kiều diễm, lộng lẫy đến tắm. Người ta đồn rằng chẳng có gì đẹp bằng các nàng tiên sa, ai qua đây nếu có nhìn thì chỉ nên nhìn thoảng qua, chớ có đắm đuối, mà hoá thành đá chẳng có ngày trở về.

-------------------- Tiên thì ai cũng mơ tưởng tới. Nhưng có hay không và cái giá phải trả để có được tiên mới là cái cần bàn. Ước mơ hão huyền chỉ có ở những người thiếu thực tế. Nhưng theo trí tưởng tượng của người đời thì nàng tiên vẫn là người đẹp nhất, thường sống ở trên trời, bay thướt tha mọi nơi, vì thế truyện cổ tích thường nhắc đến tiên là vậy.

(Theo “Đi tìm điển tích thành ngữ”. NXB Thông Tấn)

yenminh0210
20-01-2012, 09:37 AM
<tbody>

<tbody>

<tbody>

<tbody>
Môi hở răng lạnh

</tbody>


</tbody>
Môi và răng là hai bộ phận của cơ thể, gắn liền với nhau, có liên quan với nhau. Hành động của người này có ảnh hưởng đến người khác. Ý nói anh em tình nghĩa ruột già, nghĩa tình đồng bào một nước nên che chở đùm bọc lấy nhau. Còn có câu: Máu chảy ruột mềm Một con ngựa đau, cả tàu bỏ cỏ...
Chuyện kể:
Một hôm, hàm răng mắng nhiếc cái môi rằng:
- Ngươi suốt ngày cứ ngậm miệng ăn tiền, nhưng hễ có miếng gì ăn được là ngươi chực sẵn thừa cơ mở miệng ra là đớp trước. Còn ta suốt ngày phải nhai đến mỏi cả hàm.
Cái môi tức giận bảo:
- Ta sinh trước, ta che chở cho mi. Mi sinh sau, chỉ có việc nhai, của ngon vật lạ mi dùng cả, còn tị nỗi gì.
Hàm răng cãi:
- Ta suốt ngày ở trong, bị ngươi che lấp cả, chỉ khi vui cười, ngươi mới mở miệng ra. Thành thử ai người ta biết được răng ta đen hay trắng.
Cái môi giận quá mới bảo:
- Mi có thích ta suốt ngày mở miệng ra cho người ta nhìn thấy mi không? Được, ta sẽ chiều theo ý mi.
Từ đấy, cái môi cứ cong lên, hở ra mà cười suốt ngày.
Mùa đông gió lạnh, cái môi càng cong lên. Nó ngày ngày buôn chuyện với mọi người.
Chỉ chờ có thế, cô gió lợi dụng lúc môi cong lên, hở hoác liền chui vào trong mồm. Hàm răng bị gió rét làm tê buốt cả chân răng. Lúc ấy, nó mới kêu:
- Chị môi ơi, ngậm miệng lại đi. Cứ thế này thì răng tôi lạnh lắm.
Người ta biết cái quy luật của đời thì cũng biết thêm cái thân phận mình, hiềm tị nhau biết đâu lại mang cái vạ vào mình. Ở đời anh em, cha mẹ, bạn bè, làng xóm, rộng ra là đồng bào phải biết yêu thương, đùm bọc nhau. Môi với răng gắn với nhau như anh em ruột thịt nên có câu: “Như môi với răng” là vậy.

Theo Đi tìm điển tích thành ngữ của Tiêu Hà Minh



</tbody>


</tbody>

harrybotbeo
01-02-2012, 08:52 AM
Già đòn non nhẽ

"Đòn" trong thành ngữ này ngụ ý là sự đánh đập là việc dùng vũ lực; còn nhẽ (lẽ) là lời lẽ, là dùng lời nói. Trong một số kết cấu đối xứng của thành ngữ tiếng Việt, ta thường gặp cặp từ trái nghĩa "già" - "non" đứng ở hai vế tạo nên thế đối lập cho cấu trúc thành ngữ.
Chẳng hạn "đoán già đoán non", "già trái non hột", "già nhân ngãi non vợ chồng",... trong "già đòn non nhẽ" thế đối lập, hình thành do tương quan bên nhiều bên ít giữa việc dùng vũ lực và dùng lời lẽ để làm một việc gì đó. Cách mà người đời đã làm là phải "già đòn" nghĩa là dùng vũ lực và "non nhẽ" thôi tức là nói năng khuyên giải chỉ vừa vừa. Cái chính là "đòn" nhiều vào. Ví dụ:
"Nó nói trắng trơn chà "già đòn non nhẽ" cứ tẩn tợn, giết tợn là xong mọi việc"
"Đừng có hòng dân thương. Còn lãnh việc quốc gia thì ngàn đời nó còn rủa. Bay muốn sống phải làm cho dân sợ, "già đòn, non nhẽ".
Thế nhưng, có lẽ đó là cách đối xử thích hợp với quyền lực, đã loại ra một bên phần nhận thức, phần trí tuệ của con người. Và trên thực tế đó cũng là phương pháp xử thế gạt bỏ vai trò giáo dục ra một bên. Chúng ta vẫn nghe dân gian hát "lời nói gói vàng" và theo nó là những câu thành ngữ như "lời vàng ngọc", "lời hay lẽ phải"... Sao lại không lựa lời mà nói, dùng lời lẽ mà thuyết phục con người, mà lại cứ một mức "già đòn", như thế! Có cố chấp hay không? Và, dường như có phần tàn nhẫn chăng? (Theo TCQH)

yenminh0210
03-02-2012, 01:19 PM
<tbody>




<tbody>

<tbody>
Rồng đến nhà tôm

</tbody>

Rồng là con vật huyền thoại được dân gian tôn thờ, từ cá chép hóa thành. Trước kia, rồng cùng sinh sống dưới nước với tôm. Hàm ý: Người cao quý đến thăm kẻ thấp hèn. Lời nói nhún nhường của chủ nhà với khách. Còn có câu: Sàn hoang được thấy rồng lượn.
Chuyện kể:
Xưa, con tôm nghe con cá chép có tài, bèn đến làm bạn. Kỳ ấy, Thủy thần mở khoa thi, tôm cũng theo cá chép tấp tểnh đi thi. Tôm biết mình tài mọn nên mưu gian với cá giúp sức. Cá bảo tôm:
- Được rồi, hễ khi nào tôi nhảy lên thì anh ngậm chặt lấy đuôi tôi là tự khắc anh cũng nhảy lên được.
Lúc thi, tôm làm theo lời cá chép dặn. Nhưng chẳng may, Thủy thần xét ra, biết là gian xảo, đạp tôm một cái ngã từ trên xuống, còng cả lưng lại. Chỉ có một mình cá chép là thi đỗ và được liệt vào hàng hóa rồng.
Tôm đành phận trở về chốn cũ. Ngày qua tháng lại, cá đã hóa rồng nhưng vẫn nhớ tình cũ nghĩa xưa. Một hôm, nó hạ cố xuống nhà tôm chơi.
Được rồng đến chơi nhà, tôm lấy làm vinh hạnh lắm, bèn bày tiệc rượu chè vui thú. Hứng lên, tôm ngâm một bài thơ rằng:
Rồng một bến mà tôm một bến
Đã từ lâu tôm thấy rồng đến
Mừng vui khôn kể bạn đến nhà
Trước sau gì ta vẫn là ta.
Tôm thú vị về bài thơ, ngâm đi ngâm lại rồi bắt rồng họa lại. Rồng từ tốn nói rằng lâu nay bận làm mưa, làm gió nên ít có điều kiện thăm nhau mà cũng chẳng nghiền văn chương mấy.
Rồi rồng cũng đồng ý:
- Thôi thì bác đã bảo, tôi nào dám chối từ, xin đọc để bác nghe, đừng chê rồng này là được - Rồi rồng đọc:
Rồng ở trời cao, tôm ở bến
Vì tình nghĩa cũ rồng vẫn đến
Danh danh lợi lợi chuyện bán mua
Gắn bó rồng tôm giữ tình xưa.
Tôm sướng lắm cứ vểnh râu lên. Lúc này, rồng mới cáo từ. Tôm tiếc cuộc hàn huyên mới tíu tít lên rằng:
- Xin bác hãy lưu lại. Mấy khi rồng đến nhà tôm. Mấy khi tôm được gặp rồng.
Rồng làm đến địa vị cao sang như vậy vẫn khiêm tốn nghĩ đến tình xưa, tìm thăm bạn cũ. Tôm được bạn cũ đến thăm thì vui vẻ không tỏ ra mặc cảm, tự ti. Ấy là lối ứng xử văn hóa mang đậm tình người. Tuy vậy, vẫn có kẻ lên đến địa vị cao sang rồi thì quên bạn cũ, ngại tiếp xúc với bạn cũ, còn kẻ hèn kém thì tự ti. Điều đó thật trái với đạo lý.

Theo Đi tìm điển tích thành ngữ của Tiêu Hà Minh



</tbody>


</tbody>

dangky
08-02-2012, 11:48 PM
Mỗi ngày góp nhặt và ôn lại các câu thành ngữ, tục ngữ sẽ giúp ích rất nhiều cho chúng ta trong việc trau dồi tiếng Việt. Việc chú giải và trình bày tường tận về thành ngữ và tục ngữ Việt Nam chẳng những giúp chúng ta hiểu rõ hơn và đầy đủ hơn (để vận dụng chính xác) mà còn giúp trau dồi kiến thức về kho tàng văn học dân gian xưa của cha ông ta, góp phần làm cơ sở cho những hiểu biết một cách khoa học về những điển tích, điển cố, giá trị văn chương hay giá trị sử dụng, và có một thực tế là nhiều khi ý nghĩa (hiện thời hoặc nguyên gốc) của nó lại hoàn toàn khác xa với cách hiểu và cách sử dụng hiện tại.


1. Áo gấm đi đêm

Gấm là thứ hàng dệt bằng tơ nhiều màu có hình hoa lá sặc sở. Thời trước, gấm là một trong những thứ vải quý hiếm, thường dùng để may áo. Vì vậy, áo gấm (áo may bằng vải gấm) được coi là biểu tượng của sự giàu sang, phú quý trong sự đối lập với áo rách biểu tượng của sự nghèo hèn. So sánh:

“Chồng em áo rách em thương
chồng người áo gấm xông hương mặc người”
(ca dao)

Hơn thế nữa, áo gấm còn biểu trưng cho sự thành đạt trong học hành, thi cử. Những người học trò sau các kỳ thi hương, thi hội trở về quê (vinh quy bái tổ) đều mặc áo gấm để tỏ rõ sự thành đạt, công thành doanh toại của mình trước họ hàng làng nước. Nhân dân ta hay nói: áo gấm mặc về chính là nói về sự đỗ đạt trong thi cử, một mong ước chính đáng của những người lều chõng đi thi.

“Cũng đừng áy náy lòng quê
Bao giờ áo gấm mặc về mới thôi”
(Phan Trần)

Áo gấm chỉ mặc ban ngày mới được mọi người nhận thấy sự rực rỡ của nó. Đối với người giàu có, sự rực rỡ của áo gấm phô bày cho thiên hạ biết anh ta thuộc hạng người lắm tiền, nhiều của. Đối với các chàng học trò sau khi thi trở về, áo gấm, mách bảo cho mọi người về sự đỗ đạt của anh ta. Ấy thế mà mặc áo gấm ban đêm, đi trên đường làng thuở trứơc với khung cảnh tối tăm mù mịt như thế thì ai hay biết, ai phân biệt gấm vóc với các thứ vải khác được. Trong Hán sử (Trung quốc) có câu “Phú quý bất quy cố hương như cẩm y dạ hành” (giàu sang mà không trở về quê thì cũng mặc áo gấm đi đêm). Thành ngữ này được dùng trong tiếng Việt với hai nghĩa: (1) Của quý mà không dùng đúng lúc, đúng chỗ thì cũng hoài phí (giống như mặc chiếc áo gấm - loại áo may bằng vải gấm, biểu tượng cho sự giàu sang trứơc đây mà đi trong đêm thì ai nhìn thấy được, nên nó cũng giống như mọi áo may bằng vải thường khác mà thôi). (2) Lối khoe khoang phô trương sự giàu có một cách kịch cỡm, không phải lối, không tương hợp với hoàn cảnh hay chính con người đó.

Những điều phân tích, luận giải ở trên cũng cho thấy, đối lập với thành ngữ áo gấm đi đêm là thành ngữ áo gấm ban ngày. Cũng vậy, trái với gấm đêm (dạng rút gọn của áo gấm đi đêm) là gấm ngày (dạng rút gọn của áo gấm ban ngày):

“Vẻ vang rực rỡ gấm ngày
Ai ai chẳng muốn bạn bầy với tiên”
(Nguyễn Huy Tự, Nguyễn Thiện)

(Theo Kể chuyện thành ngữ, tục ngữ - Viện Ngôn ngữ học)



Tieng Trung Quoc goi la:锦衣夜行

dangky
08-02-2012, 11:49 PM
Tieng Trung Quoc goi la:锦衣夜行

dangky
09-02-2012, 12:11 AM
rat hay, xin tiep thu=D>

banhdacua
15-02-2012, 11:44 AM
1. Gà đẻ cục tác: Gà mái đẻ xong, nhảy ở ổ xuống bao giờ cũng kêu mấy tiếng “cục ta cục tác” ầm lên.
Người ta thường dùng câu này để nói việc chính mình làm lỗi mà lại rêu rao đòi bắt kẻ làm lỗi. Chính mình làm điều xấu mà lại lớn tiếng chê trách kẻ làm điều xấu. Ý nghĩa câu này cũng gần giống ý nghĩa câu “vừa ăn cướp vừa la làng”.

2.Gà què ăn quẩn cối xay: Người ta thường dùng câu này để nói người chỉ có cái thói bóc lột, bòn rút của cải của người trong làng, trong họ, hay trong nhà. Ví như con gà què không đi kiếm ăn nơi xa được.

3.Gái có con như bồ hòn có rễ: Người đàn bà lấy chồng mà có con, thì địa vị chắc chắn, như cây bồ hòn có rễ ăn sâu xuống đất. Trái lại không có con, thì bấp bênh không chắc vào đâu, cho nên có câu: “Gái không con như bè nghể trôi sông” (bè nghể tức là đám nghể mọc lờ đờ mặt nước, liền với nhau thành một đám như cái bè; bè nghể không dính líu vào đâu chắc chắn, hễ gặp gió to là lềnh bềnh trôi đi).

4.Gái có công, chồng chẳng phụ: Hễ người vợ mà làm nên công chuyện trong gia đình, thì người chồng không bao giờ phụ công. Người ta thường dùng câu này để nói: mình làm được việc gì thì người trên tự khắc khen thưởng. Có ý khuyên người ta trước hết nên gắng làm việc, rồi tự khắc người ta biết công.

5.Gánh vàng đi đổ sông Ngô: Gánh vàng là đi gánh của cải đi. Sông Ngô là sông ở bên nước Ngô, tức nước Tàu. Gánh vàng đi đổ sông Ngô nghĩa đen là gánh của cải đi đổ xuống sông bên Tàu. Nghĩa bóng là đem tiền bạc làm giàu cho người ngoại quốc. Đại ý câu này khuyên người ta không nên dùng hàng hóa nước ngoài, để tiền bạc, của cải khỏi lọt ra ngoại quốc. Sở dĩ có câu tục ngữ này là vì ngày xưa, cha ông ta thích dùng đồ Tàu (Ngô), bất luận cái gì cũng phải mua cho được đồ Tàu mới chịu, thành ra tiền của dốc vào túi của người Tàu tất cả. Để tiền bạc lọt cả vào túi người Tàu, như vậy có khác gì gánh vàng đi đổ sông Ngô.

(ST.)

banhdacua
20-02-2012, 03:12 PM
Gạo đổ, bốc chẳng đầy thưng: Một thưng (tức như đấu hay bơ) gạo đã đánh đổ xuống đất, bốc lên thể nào cũng không đầy được thưng, vì còn có hột rơi vãi mất mát.
Nghĩa bóng câu này có ý nói việc đã lỡ ra, chữa lại thế nào, cũng không tốt đẹp được y nguyên như trước.
Gần đất xa trời: Gần đất xa trời, ý nói người ốm nặng sắp chết. Chết thì chôn xuống đất, nên bệnh nguy sắp chết gọi là gần đất. Xa trời là xa khoảng khí trời, tức là cõi nhân gian cũng có nghĩa là sắp chết.
Gần lửa rát mặt: Ngồi gần đống lửa thì nóng rát mặt.
Nghĩa bóng là ở gần người trên, thì lúc nào cũng phải giữ gìn, không được phóng túng tự do. Câu này bộc lộ cái tâm lý của kẻ thích phóng túng, sợ kỷ luật, qui củ.
Gậy đám đánh đám: Đám đây là đám đánh nhau.
Gậy đám là gậy lượm được trong đám đánh nhau. Gậy đám đánh đám là lấy cái gậy lượm được trong đám đánh nhau, dùng để đánh ngay trong đám đánh nhau đó. Nghĩa bóng câu này là: a)Dùng tiền của người khác để làm lợi cho mình. b)Dùng tiền kiếm được bằng cách ám muội để chạy chọt, che đậy việc ám muội của mình đã làm. c)Dùng ngay số tiền đã lấy của người ta, để lo việc chống lại hay kiện cáo, đánh đổ người ta.
Gậy ông đập lưng ông: Chính cái gậy mình dùng để đánh người, lại đánh ngay vào lưng mình.
Người ta thường mượn câu này để nói: a)Chính luật pháp mình đặt ra lại trừng phạt mình. b)Chính công việc mình khởi xướng ra lại hại đến quyền lợi mình. c)Chính sức mạnh do mình gây ra lại đánh lại mình. d)Chính việc mình làm để định hại kẻ khác, lại làm hại ngay mình.
Gậy vông phá nhà gạch: Gậy vông là gậy làm bằng gỗ vông, một thứ gỗ rất nhẹ, rất mềm, là một thứ gậy yếu nhất.
Gậy vông phá nhà gạch là dùng cái gậy yếu nhất mà phá nhà gạch là nhà kiên cố nhất, may mà phá được thì lợi to, nhược bằng không phá được, thì cũng chỉ thiệt có cái gậy vông. Câu này ý nói dùng sức ít mà may ra được việc to, bỏ vốn không bao nhiêu mà may thì lãi lớn.
Già đòn non nhẽ: Đòn là đánh đòn. Già đòn là đánh đòn nhiều, đánh đòn khoẻ. Nhẽ là lý sự. Non nhẽ là đuối lý, là lý sự yếu thua. Cả câu này nghĩa là trong cuộc ẩu đả, bên nào đánh đòn nhiều, thì trước pháp luật, bên ấy đuối lý, có lỗi.
Cũng có thuyết nói: hễ bên này đánh đòn già, thì bên kia hết cãi lý sự. Thí dụ vợ hay nói lôi thôi, con cà con kê bôi xấu chồng, chồng nổi nóng đánh cho một trận nên thân; thế là lời lẽ lý sự của vợ thua ngay (nghĩa là không còn nói ra nói vào nữa).
Già néo đứt giây: Néo là một nuộc lạt tròn lồng vào cái cột cái kèo, rồi cho một cái que cứng và ngắn vào (gọi là con néo), vặn nuộc lạt tròn mấy lần cho thật chặt, để làm cho cột kèo vững chãi. Nếu vặn con néo già quá thì nuột lạt sẽ đứt mất. Nghĩa bóng, ý nói là đặt giá quá cao thì không bán được, đòi hỏi điều kiện quá gắt gao, khó khăn thì hỏng việc, vì người ta không chịu đựng nổi.
Già kén kẹn hom: Già kén là kén kỹ quá, kén nhiều quá, kẹn hom là dơ xương ra, ý nói già yếu gầy guộc, dơ xương.
Già kén kẹn hom là kén chọn kỹ quá (đây là kén chồng) thì người già mất. Người ta thường dùng câu này theo nghĩa bóng để nói rằng: ở đời nếu cứ so sánh lựa chọn công việc và danh vị kỹ quá, thì đến già cũng không làm nên việc gì, không có địa vị gì trong xã hội. Đại ý câu này khuyên người ta không nên khó tính, kỹ tính quá.

(st)

banhdacua
22-02-2012, 02:56 PM
Giã gạo thì ốm, giã cốm thì khoẻ: Giã gạo thì cáo ốm để khỏi phải giã. Vì giã gạo không được ăn ngay. Đến khi giã cốm (tức là giã thóc nếp non làm cốm) thì giã khoẻ lắm, vì ở nhà quê, giã cốm là để ăn, ngay khi thành cốm.
Câu này chê người làm mà tham ăn.
Giặc bên Ngô không bằng bà cô bên chồng: Giặc bên Ngô tức là giặc bên Tàu (có lần nước Tàu gọi là nước Ngô, thời tam Quốc, ta bị sát nhập vào nước Ngô) kéo sang. Giặc bên Tàu xưa có tiếng là dự tợn, độc ác. Bà cô bên chồng, tức là cô chị hay cô em gái người chồng. Chị gái và em gái chồng (người em dâu gọi thay con mình là cô), dĩ nhiên là thân mật với mẹ chồng hơn và được mẹ chồng tin yêu hơn, vì là con đẻ. Em gái, chị gái chồng thường hay chiều theo ý mẹ đẻ, mà nói hơn nói kém về tính nết, công việc, cử chỉ, lời ăn tiếng nói của chị dâu hay em dâu. Do những lời xúi bẩy thêu dệt đó của của con gái mà mẹ chồng càng thêm khắc nghiệt với con dâu mình.
Bởi vậy mà người con dâu đã phải nói: Giặc bên Ngô không bằng bà cô bên chồng, nghĩa là giặc bên Tàu kéo sang, cũng không độc ác đáng sợ bằng các cô chị cô em của chồng. Câu này lấy một thực trạng xã hội để khuyên các cô chị em chồng không nên xử tệ với chị em dâu (vợ anh hay em ruột), không nên xúi bẩy mẹ đẻ hành hạ con dâu.
Giận con rận đốt cái áo: Áo có rận là tại mình ăn ở bẩn thỉu, không năng tắm rửa và thay quần áo. Có rận là lỗi ở chính mình, chớ không phải lỗi ở cái áo. Vậy mà có người thấy rận cắn, tức mình đem cái áo đốt đi. Đốt áo thì thiệt hại mình mà không thể trừ tiệt được giống rận. Nếu mình ăn ở bẩn thỉu như trước, thì áo nào rồi cũng có rận.
Cho rằng đốt áo mà trừ được rận chăng nữa, thì cũng là khờ dại, vì trừ được cái hại nhỏ, mà mất cái lợi to. Câu này ngụ ý khuyên ta trước khi làm việc gì, nên suy tính lợi hại. Đồng thời khuyên ta chớ nên nổi giận, vì “giận mất khôn”.
Giàu bán ló, khó bán con: Ló là tiếng Thanh Nghệ, tức là tiếng lúa nói trạnh ra. Giầu thì bán ló lấy tiền, nghèo thì bán con lấy tiền. Bán con tức là gả bán con gái lấy tiền, chớ không phải là bán con thật.

Giàu đâu những kẻ ngủ trưa,
Sang đâu những kẻ say sưa tối ngày: Ngủ trưa là ngủ dậy trưa. Say sưa tối ngày là say sưa suốt ngày. Người ngủ trưa thì mất công mất việc, mọi việc làm không kịp thời cho nên khó mà giàu được. Người say rượu thì cử chỉ thất thố, ăn nói bậy bạ, mất cả phẩm giá, còn sang trọng sao được? Câu này đại ý khuyên người ta nên dậy sớm và không nên rượu chè.
Giàu điếc, sang đui: Lúc giầu có thì hóa điếc, không nghe thấy những lời nói khó của anh em bà con đến vay mượn, nhờ vả.
Lúc làm nên quan thì hóa đui (mù), không trông thấy những anh em bạn bè nghèo khó khi trước. Câu này có ý chê những người sang giàu mà bụng dạ không tốt, quên bạn bè, anh em, bà con thuở hàn vi.

banhdacua
24-02-2012, 02:13 PM
Giàu hai con mắt khó hai bàn tay: Có người giảng là: giầu có nhờ về hai con mắt (sáng hay lòa), nghèo khó là ở hai bàn tay (chịu làm việc hay không chịu làm). Cũng có người giảng là: người giầu, thì chỉ vận dụng đến hai con mắt trông nom người làm là đủ, người nghèo khó thì phải vận dụng đến sức làm việc của hai bàn tay. Tôi cho giảng nghĩa cách dưới đây hợp với câu văn hơn. Nhưng người ta thường hiểu câu này theo nghĩa trên.

Giàu là họ, khó người dưng: Họ hàng cùng chung dòng máu với nhau. Nhưng thói đời chỉ ưa người có của. Cho nên người ta thường thân mật, nhận họ hàng với những người giầu có. Còn người nghèo khó thì dù có họ rất gần, người ta thường cũng coi như người dưng.
Câu này chê người đời hay trọng giầu, rẻ khó.

Giàu tại phận, khó tại duyên: Phận là số phận. Duyên là duyên phận.
Phận với duyên nghĩa tương tự nhau, đại khái cũng như ta nói số mệnh. Giầu tại phận, khó tại duyên nghĩa là giầu, nghèo đều do số Trời định cho cả. Người ta thường dùng câu này để an ủi những người nghèo khó sa sút. Thật ra, giầu nghèo một phần lớn tại mình, chứ không hoàn toàn tại Trời.

Giàu thú quê không bằng ngồi lê kẻ chợ: Thú chữ Hán nghĩa là nhà ở. Thú quê là nhà quê. Kẻ chợ, tiếng cổ, trỏ (chỉ) nơi kinh đô, hoặc chốn thành thị.
Giầu thú quê không bằng ngồi lê kẻ chợ là người giầu có ở nhà quê không được sung sướng bằng người đi lê (tức là kẻ khó ăn xin) ở nơi kẻ chợ. Ở kẻ chợ, mọi thức ăn, mặc đều sẵn sàng, ngày mưa gió không lầy lội bẩn thỉu như ở nhà quê, có đồng tiền bất cứ lúc nào cũng có thể ăn ngon mặc đẹp. Ở nhà quê dù có nhiều tiền của đến đâu, cũng không được hưởng mọi sự tiện lợi, sung sướng như ở kẻ chợ. Về phương diện ăn mặc, ở nhà quê bao giờ cũng thua kẻ chợ. Câu này nói theo lối thậm xưng (nói quá), cố ý đề cao đời sống ở nơi đô hội, hình như là để hô hào cổ động dân quê ra kẻ chợ buôn bán làm ăn. Thật ra, không có tiền thì ở kẻ chợ khốn khổ hơn ở nhà quê nhiều, vì đời sống ở kẻ chợ bao giờ cũng đắt đỏ, phức tạp vì lắm nhu cầu (sự cần dùng) hơn ở nhà quê.

Giàu về thể khó về thể, mãn uống nước bể bao giờ cạn: Thể là cả thể, nghĩa là to tát là nhiều.
Giầu về thể khó về thể, mãn uống nước bể bao giờ cạn nghĩa là giầu hay khó là giầu khó về chi tiêu nhiều, chớ những món chi tiêu nhỏ nhặt thì xá chi, không thể làm người ta giầu thêm hay nghèo thêm được, cũng như con mèo uống nước bể thì bể bao giờ cạn được nước.

tomhe
29-02-2012, 09:21 AM
Của ít lòng nhiều
Ý nói: Của đem cho tặng, không đáng là bao nhưng tình cảm thì chân thành, nặng nghĩa tình. Còn có câu: Của một đồng, công một nén.
Chuyện kể:
Theo Kinh A xà, ngày xưa, lâu lắm rồi, có một ông vua Ấn Độ, nhân một ngày lễ, mời Phật vào cung làm lễ. Hôm ấy, vua cho đốt bao nhiêu là đèn dầu trong cung Phật ngự, suốt dọc hành lang dẫn từ cung vua đến cung Phật ở. Một bà cụ nghèo khó ở vùng ấy cũng muốn dâng lên Phật ngọn đèn dầu, song bà chẳng còn đồng tiền nào. Bà đi ăn xin một ngày ròng khắp kinh đô, tối về được hai đồng. Bà dùng cả hai đồng, tất tả ra phố mua dầu, đốt một đĩa đèn dâng lên lễ Phật, bà khấn: “Nếu đời sau con được thành đạo, thì xin ngọn đèn này sáng suốt đêm không tắt”.
Sáng hôm sau, khi một nhà sư lên cung Phật tắt đèn, thì thấy mọi ngọn đèn của vua đã tắt từ bao giờ, riêng ngọn đèn dầu của bà cụ ăn xin vẫn sáng rực, không làm cách nào tắt được. Nhà sư thấy chuyện lạ, nên thưa với Đức Phật. Người bảo: “Bà cụ tâm thành tu nhân tích đức, kiếp sau sẽ thành Phật Như Lai”.
Vua nghe chuyện, hỏi một quan trong triều tại sao vua cúng nhiều đèn như sao sa vậy mà chẳng được như bà lão kia chỉ dâng lên một đĩa đèn. Quan đáp: “Bởi vì bà ta của ít lòng nhiều. Bà dâng lên một đĩa đèn nhưng tấm lòng của bà thánh kính bao la”. (1)
Chẳng chỉ Phật, nhiều người bây giờ cũng có tâm đức, giúp được người không kể ơn, không đòi của nả, nhưng nặng tình nặng nghĩa, của ít lòng nhiều, với tấm lòng thành thì dù ít đấy nhưng nghĩa cao:
Của ít Phật chẳng trách đâu
Miễn giàu tấm lòng tu đức, tích tâm.
Tuy nhiên, có lúc nào đó, có người nào đó còn nặng về của cải vật chất. Như thế gọi là biếu xén, đút lót, hối lộ. Thế mới có chuyện khôi hài: “Đồng tiền là Tiên, là Phật”... hay “Nén bạc đâm toạc tờ giấy” là vậy.

Theo Đi tìm điển tích thành ngữ của Tiêu Hà Minh

yenminh0210
03-03-2012, 09:16 AM
<tbody>
Đồ Sở Khanh



<tbody>
Sở Khanh, một nhân vật trong truyện Kiều của Nguyễn Du. Nghĩa bóng: kẻ phản trắc, lừa lọc, đĩ bợm, bạc tình.
Chuyện kể:
Thúy Kiều bị bán vào lầu Ngưng Bích của Tú Bà. Ở lầu xanh, nàng cô đơn, tủi phận, nhớ nhà, nhớ quê. Bỗng một hôm, có một chàng trai, dáng vẻ thư sinh, tên là Sở Khanh, nhìn nàng ra vẻ xót xa. Sở Khanh đánh tiếng muốn cứu Kiều ra khỏi chốn lầm than. Một buổi, Sở Khanh gửi giấy cho Kiều, hẹn tối trời sẽ đến đón nàng đi trốn. Đúng giờ hẹn, Sở Khanh đến. Nó khoe nó có “ngựa trung phong”, có kẻ hầu người hạ. Tuy có hơi hồ nghi về những lời tán huênh hoang của Sở Khanh nhưng Kiều vẫn liều nhắm mắt đưa chân, nàng bước xuống lầu rồi lên ngựa theo Sở Khanh. Rừng khuya sương lạnh, nàng xót thương tấm tâm lưu lạc. Đến một địa điểm tiếng gà gáy, tiếng người lao xao, nhà trước, nhà sau, Kiều không thấy bóng Sở Khanh đâu. Nó “đã rẽ cương lối nào”. Nàng ngơ ngác hoảng sợ thì bất thần Tú Bà dẫn một đoàn người ập đến lôi nàng về nhà. Mụ đánh đập Thúy Kiều tơi bời. Từ ngày ấy, Kiều bước chân vào quãng đời kỹ nữ.
Về sau, người con gái cùng số phận với Kiều là Mã Kiều báo cho nàng biết: Tú Bà xưa nay vẫn thuê Sở Khanh đánh lừa các cô gái. Sở Khanh là “kẻ bạc tình nổi tiếng lầu xanh, một tay chôn biết bao cành phù dung”. Biết chuyện nó đánh lừa Thúy Kiều, cả xóm lầu xanh nguyền rủa nó là “kẻ bất lương”, “vô lương”, “mặt mo”. Từ hình tượng nhân vật ấy mà có thành ngữ “đồ Sở Khanh” là vậy. (1)
Sở Khanh được vận vào đời sống, gắn cho những kẻ dáng vẻ hào hoa, nói năng lịch thiệp nhưng chuyên đi lừa phỉnh, dụ dỗ lợi dụng, phản bội các cô gái. Những kẻ như vậy chỉ “tốt mã” nhưng “rẻ cùi” cần phải tìm ra “bộ mặt thật” của chúng để trừng trị, lên án.

Theo Đi tìm điển tích thành ngữ của Tiêu Hà Minh



</tbody>


</tbody>

dohoibietboi
07-03-2012, 03:10 PM
<tbody>

<tbody>
Mạt cưa mướp đắng

</tbody>













<tbody>

Có một cuộc hội ngộ thật ngẫu nhiên và đầy lý thú. Một anh chàng rao bán cám làm thức ăn cho lợn gà, mà trong gánh chỉ rặt một thứ mạt cưa! Lại nữa một kẻ rêu rao bán dưa chuột, nhưng những thứ bán ra chỉ toàn là mướp đắng!
Chả là về ngoại hình thì mạt cưa trông cũng từa tựa như cám, và “mướp đắng” cũng khó phân biệt với dưa chuột mà lại! Và, trớ trêu thay cái phường mạt cưa mướp đắng ấy lại gặp nhau!

“Tình cờ chẳng hẹn mà nên
Mạt cưa mướp đắng đôi bên một phường”
(“Truyện Kiều” - Nguyễn Du)
Thành ngữ mạt cưa mướp đắng hay mướp đắng mạt cưa, do chỗ được hình thành từ câu chuyện vui như trên, cho nên trước hết nó được dùng để chỉ những kẻ chuyên đi lừa đảo trong xã hội. Trong sử dụng, thành ngữ này còn có thể được dùng để chỉ trích ngay hành vi bịp bợm của những hạng người xảo trá, đê tiện.



</tbody>


</tbody>

banhdacua
08-03-2012, 08:30 AM
Há miệng chờ sung: Nằm dưới gốc cây sung, há miệng ra chờ cho quả sung nào rụng trúng vào miệng thì ăn. Thế là há miệng chờ sung. Ý nói kẻ lười biếng chỉ chực ăn sẵn, không chịu làm lụng gì.

Há miệng chờ ho: Lúc nào ho thì lúc ấy há miệng; đằng này, lại há miệng sẵn để chờ cơn ho, như vậy là chờ đợi một việc không biết bao giờ xảy tới, chờ đợi hão huyền.

Há miệng mắc quai: Quai đây là quai nón; quai nón giữ lấy cằm. Muốn mở miệng ra nói thì bị mắc quai nón, không mở được. Đó là nghĩa đen.
Nghĩa bóng câu này có ý nói: muốn nói ra để phản đối việc gì, song đã trót chịu ơn người ta (như người đã đội nón) nên miệng như bị mắc, không nói được.
Hà tiện ăn cháo hoa: Câu này ý bỏ lửng ở giữa. Phải nó thế này thì mới đủ nghĩa: Hà tiện ăn cháo hoa, đồng đúc đồng đậu hóa ra ba đồng. Tưởng rằng ăn cháo hoa cho đỡ tốn, không dè lại phải ăn kèm theo đậu và bánh đúc (có lẽ là lối ăn cháo hoa ngày xưa ăn kèm bánh đúc), thành ra tốn mất những ba đồng, rút cục chẳng hà tiện được chi cả.
Câu này chê cách hà tiện không phải đường.
Hai thóc mới được một gạo: Hai phần thóc xẩy, giã ra chỉ được một phần gạo, tức là còn một nửa. Người ta thường mượn câu này để nói cảnh hiếm con, sinh hai bận mới nuôi được một bận.

Hai mắt dồn một: Bận vội quá, chúi mũi làm cho xong việc, hai mắt dồn cả vào một chỗ.

Hai sương một nắng: Hai sương là sương buổi sáng sớm và sương buổi chiều tối.
Một nắng là trời nắng suốt ban ngày. Hai sương một nắng nói người làm ruộng vất vả, phải dãi nắng cả ngày và chịu đầu sương hai buổi chiều, sớm. Hay có một câu tương tự: “đi sớm về khuya”.
Ham cái nết không hết chi người: Ham là ham chuộng, quí trọng, ưa thích. Cái nết là cái nết na, hiền hậu, tức là cái nết tốt, cái bụng dạ ăn ở tử tế.
Cả câu nghĩa là: chỉ ham chuộng cái nết đẹp chứ không phải là ham chuộng con người đẹp, người đẹp thì có nhiều không bao giờ hết. Câu này đại ý nói cái nết tốt đáng quí hơn sắc đẹp

yenminh0210
09-03-2012, 09:44 AM
<tbody>




<tbody>
Lưỡi không xương nhiều đường lắt léo
Thành ngữ chỉ: Người thiếu trung thực, điêu toa, lật lọng. Còn có câu: Lắt léo như miệng lưỡi.
Chuyện kể:
Cái lưỡi và cái mồm sinh ra cùng một ngày nên chúng hay đỡ lời cho nhau, nhưng cũng hay đổ lỗi cho nhau mỗi khi bị người quở trách.
Một hôm, một học giả nọ có khách đến chơi. Học giả nọ mới hỏi cái mồm:
- Bạn ta từ xa đến, thiết đãi gì cho phải đạo?
Cái mồm nhanh nhảu đáp:
- Cứ mua món lưỡi lợn về thiết đãi khách là sang trọng nhất.
Trong bữa ăn, khách thấy chỉ rặt một món lưỡi, mới mạnh dạn hỏi chủ. Lúc ấy, cái mồm mới máy cái lưỡi đích danh trả lời. Nó lên tiếng rằng:
- Thưa ông, không có gì ngon lành hơn món lưỡi. Lưỡi là chìa khóa của sự hiểu biết, nhờ có lưỡi mà ông có thể thuyết giáo được điều hay lẽ phải. Lưỡi tô vẽ lên cái đẹp, biến cái không thành có, cái xấu thành tốt. Món lưỡi giúp tình bạn hai ông thêm bền chặt. Lưỡi thật muôn năm. Vậy chẳng có gì hơn cái lưỡi cả.
Chuyện bữa cơm thiết đãi khách hôm ấy rồi cũng qua đi. Người ta chơi bời ăn ở với nhau thế nào rồi cũng có va chạm. Người học giả và người khách nọ một ngày kia có điều xích mích. Chả lẽ để cái xích mích nhỏ nhặt mà sinh ra bất hòa, người khách nọ nghĩ đến việc bạn tiếp mình bằng món lưỡi lợn ngày nào bèn mời người học giả kia đến chơi. Người nhà nọ cũng không quên mua lưỡi lợn để thiết học giả, tỏ tình thân ái. Vào bữa, người nhà mới thổ lộ:
- Hôm nay, tôi lại tiếp ông toàn bằng lưỡi lợn, một thứ ngon nhất trên đời, ông thấy thế nào?
Lúc đó, cái mồm lại máy cái lưỡi, đứng ra liến láu:
- Thưa ông, lưỡi là thứ dở nhất trên đời. Nó là đầu mối của sự chia rẽ. Nó là biểu hiện của sự sai lầm, mọi sự đặt điều vu khống. Cũng do cái lưỡi mà sinh ra bất hòa. Lưỡi thật muôn năm!
Lúc ấy, cả hai người cùng đồng thanh thốt lên: “Đồ lưỡi không xương nhiều đường lắt léo”. Thế nào mi cũng nói hay cả.
Rồi hai ông gật gù với nhau: “Nó là cái lưỡi giọng gì mà nó nói chả hay. Thôi, muốn nói xuôi nói ngược thế nào mặc nó, ta cứ nâng cốc, muôn năm!”
Người ta nói uốn ba tấc lưỡi, nhưng chính là cái mồm nói, xem ra như thế thì cái lưỡi bị oan ức. Như dân gian lấy cái lưỡi không xương để chỉ sự lươn lẹo mới hay làm sao. Nó chính là điển hình chi những điều xấu xa, dối trá nói xuôi, nói ngược.
Lưỡi vò độc quá đít ong
Vui lòng tan hợp, dứt theo nghĩa nhân

Theo Đi tìm điển tích thành ngữ của Tiêu Hà Minh



</tbody>


</tbody>

chepchep
09-03-2012, 11:19 AM
Mới sưu tầm được truyện này, post lên cho mn cùng đọc nè
Điển Tích Truyện Kiều - Mạt Cưa Mướp Đắng



Tình cờ chẳng hẹn mà nên
Mạt cưa mướp đắng đôi bên một phường
Chung lưng mở một ngôi hàng
Quanh năm buôn phấn bán hương đã lề

Hàn sĩ Thúc Thôi được hưởng gia tài cha mẹ để lại. Học hành chẳng ra gì, lại biếng nhác, nên thi mãi vẫn trượt. Chán nản bút nghiên, chàng ta bán hết gia tài, ăn tiêu rồi cũng hết, không có gì để sống. Bà con lối xóm không nỡ để một nho sinh chết đói nên tìm cách mai mối cho nàng Lưu Di, một thiếu phụ trẻ góa chồng, đảm đang.

Sống chung được thời gian ngắn, Thúc Thôi lại quen thói lười biếng, cả ngày chỉ nghêu ngao, không chịu làm lụng, ăn bám vợ đến hết cả vốn liếng của Lưu Di đã dành dụm được. Lưu Di cắn răng chịu đựng, nhưng đến lúc cùng cực quá, nàng phải thưa với chồng:

- Lang quân cam chịu cảnh nghèo đói này mãi sao?

- Ta chỉ sống với văn chuơng chữ nghĩa, từ nhỏ đến lớn chỉ biết đọc sách ngâm thợ Nay ta phải biết làm chi cho ra tiền đây?

Lưu Di e dè:

- Văn chương chữ nghĩa không bằng ai thì thôi cũng phải kiếm việc khác làm ăn sinh sống chứ.

Thúc Thôi cười khẩy:

- Hiền thê ơi, đừng quá âu lo. Hôm nay ta là hàn sĩ, ngày mai đỗ đạt, thì tha hồ phú quí vinh hoa. Thôi được, trong lúc đợi bảng vàng đề tên, ta sẽ nghĩ ra một cách gì đó, không cần phải làm lụng cực nhọc, ma vẫn hái ra tiền.

Rồi mấy ngày sau, người ta thấy Thúc Thôi lẩn quẩn đây đó, lúc ra chợ, lúc vào xóm, như một học giả suy tư. Cuối cùng, chàng ta đem về một thúng mạt cưa, khoe vợ:

- Món hàng này không vốn mà bán được tiền. Mạt cưa này thợ cưa vất đi, ta lấy về đem ra chợ bán, giả làm cám heọ Sẽ có khối người bị lừa.

Lưu Di ngăn cản:

- Sao lại làm việc gian dối như vậy, thật là bất nhân.

Thúc Thôi dạy khôn:

- Miễn sao được tiền thì thôi! Đời mà! khôn sống, dại chết.

Không kể lời khuyên can của vợ, sáng sớm hôm sau, Thúc Thôi bưng thúng mạt cưa ra chợ, rao bán cám. Nhưng cho đến chiều tối vẫn chưa có ai bị lừa. Hôm sau, Thúc Thôi lại bưng thúng cám dỗm ra chợ lần nữa. Đến chạng vạng, thì may thay, có một nàng đội thúng mướp trái xanh mởn đi ngang qua. Cô nàng mời:

- Tôi đang muốn bán thúng mướp tươi này để lấy tiền mua cám heo. Chúng ta thỏa thuận hàng đổi hàng nhé.

Thúc Thôi mưng rỡ, ỌK ngay, phen này trúng mánh, nhẫm tính thúng mướp cũng bán được bộn tiền. Chàng ta hí hửng bưng thúng mươp về khoe vợ Lưu Di bật cười:

- Trời đất! Đây là loại mướp đắng, loại trái mọc hoang trên núi, không ăn được. Ừ mà thôi , như vậy cũng hay, cùng là một phường lừa phỉnh nhau, mướp đắng đổi ấy mạ t cưa, không ai thua ai!

harrybotbeo
17-03-2012, 08:50 AM
Châu về Hợp Phố

Thành ngữ "châu về Hợp Phố" thường được dùng hàm ý chỉ "những cái quý giá không mất được, sớm muộn cũng sẽ quay trở về với chủ nó".

Thành ngữ "châu về Hợp Phố" được hình thành từ điển tích Trung Quốc. Về nguồn gốc của thành ngữ này, cụ Đào Duy Anh đã lý giải rất rõ trong "Từ điển truyện Kiều". Ở thành ngữ "châu về Hợp Phố", "châu" là từ vốn dùng để chỉ ngọc trai, về sau để chỉ ngọc nói chung, còn "Hợp Phố" vốn là tên của một quận xa xưa của Giao Châu. Đây là một nơi sản xuất châu nổi danh.

Tương truyền, ở thời Hậu Hán có tên quan thái thú tham lam, bạo tàn, thường bắt dân lấy ngọc châu rất ngặt. Vì thế mà châu đã bỏ quận nhà để sang quận Giao Chỉ. Cho đến khi Mạnh Thường đến thay chức Thái Thú, ra những đạo luật mới, bỏ những tệ cũ, cho dân chúng tự do kiếm châu, sản xuất châu, thì châu từ quận Giao Chỉ trở về quận Hợp Phố quê nhà. Từ tích này, người ta mới dùng câu "châu về Hợp Phố" để chỉ vật quý trở lại chốn cũ, hay nhận lại những vật quý đã mất.

Trong "Truyện Kiều", Nguyễn Du đã vận dụng thành ngữ "châu về Hợp Phố" rất linh hoạt và tài tình:

Thoa này bắt được hư không
Biết đâu hợp phố mà mong châu về

Nhìn chung ý nghĩa của thành ngữ "châu về Hợp Phố" được xử dụng trong tiếng Việt không có sự khác biệt so với nghĩa gốc của nó.

(st)

mozart
21-03-2012, 08:54 AM
<tbody>

<tbody>
Lá lành đùm lá rách

</tbody>










<tbody>
Thành ngữ chỉ sự đùm bọc, cưu mang giúp đỡ nhau trong khó khăn, gian nan, hoạn nạn. Còn có câu: Ăn mày thương lấy nhau Lá rách ít đùm lá rách nhiều.
Chuyện kể:
Đã lâu lắm rồi, hai chị em cái lá sống với nhau thuận hòa trong vườn. Một hôm, cái bàn tay người mới hái lá để gói bánh. Lá em vì yếu ớt nên bị gió đánh táp rách xơ rách xác, thành thử cứ đổ gạo vào khuôn lá thì gạo lại vãi ra ngoài. Bàn tay giận dữ, quát tháo, định bụng quẳng nó ra vườn cho khô rồi đem đun. Lá chị thấy vậy, bèn nói với bàn tay:
- Người hãy thương tới nó. Vì nó yếu ớt, nghèo khó nên gió làm nó rách nát, chứ nó đâu có tội tình gì. Nay, tôi lành lặn thế này, tôi sẽ giúp nó.
Bàn tay bảo:
- Người định giúp nó như thế nào?
Lá chị mới thưa rằng:
- Người cứ bọc tôi ra ngoài, lót nó vào trong. Như thế, gạo đã không vãi ra mà áo bánh lại dày lên, đem luộc bánh lại chẳng ngon hơn ư!
Bàn tay nghe nói có lý, lại thấy chị em cái lá nó thương yêu nhau, muốn đùm bọc nhau nên mới khéo léo trải lá lành lên, đệm lá rách ở phía trong rồi mới đổ gạo vào. Không thấy gạo lọt ra ngoài, đem luộc bánh lại mềm ngon hơn, bèn nói:
- Đúng là lá lành đùm lá rách có khác.
Lá lành ở đây chỉ lớp người có đời sống khá hơn so với những người nghèo đói được ví như là lá rách. Ở đâu có cuộc sống đói khổ, hoạn nạn, sẽ có sự cảm thông, đùm bọc, sẻ chia. Đó là truyền thống thương người như thể thương thân của dân tộc Việt Nam.
Ấy vậy nhưng trong xã hội vẫn chưa hết được cảnh “đèn nhà ai nấy rạng” và “kẻ ăn không hết, người lần không ra”. Thành ngữ trên hẳn vẫn nhiều ý nghĩa.

Theo Đi tìm điển tích thành ngữ của Tiêu Hà Minh



</tbody>


</tbody>

matbiec
21-03-2012, 10:16 AM
Ba Que Xỏ Lá

Trong thời Pháp thuộc, có một bọn người chuyên tổ chức những "trò chơi có thưởng". Trò chơi của bọn họ gồm một cái que và ba chiếc lá. Mỗi lá có đính một chiếc vòng nhỏ ở cuống. Người chơi cầm cái que nhỏ xỏ vào ba vòng này. Mỗi người chỉ được xỏ một lần. Người nào xỏ vào được một lúc cả ba lá và nhấc được chúng lên thì được lĩnh thưởng. Ai xỏ trật, tức xỏ không vào lá nào hoặc chỉ vào một trong ba lá, sẽ mất toi số tiền đặt cược.

Cũng liên quan tới trò chơi này, có người kể lại cách thức chơi của bọn chủ trò có khác chút ít. Chúng thường dùng ba que nhỏ, trong đó chỉ có một que xỏ vào chiếc lá rồi chìa cho mọi người xem. Chúng tuyên bố rằng nếu ai rút trúng que có chiếc lá khi chúng nắm tay lại thì người đó trúng thưởng. Ngược lại, người chơi sẽ mất số tiền đặt cược trước. Dù chơi theo cách thức nào đi nữa, thì bọn chủ trò vẫn có nhiều mưu mẹo, khiến cho người chơi bao giờ cũng thua cuộc. Vì thế, người ta mới gọi bọn chủ trò là bọn "ba que xỏ lá" với hàm ý là bọn bịp bợm, lừa đảo, dối trá. Từ cách thức chơi thứ nhất, nhiều người cho rằng hình thức ban đầu của "ba que xỏ lá" là "xỏ lá ba que".

Sở dĩ có sự thay đổi này là do việc đọc chệch cho thuận miệng, dễ đọc, dễ nhớ.
Thành ngữ "ba que xỏ lá" dần dần được mở rộng phạm vi xử dụng. Nó được dùng để chỉ tất cả những hạng người lừa lọc, bịp bợm, đểu cáng.
Trong quá trình xử dụng, thành ngữ "ba que xỏ lá", được tách thành hai vế "ba que", "xỏ lá". Các bộ phận được tách ra này đã gia nhập vào vốn từ vựng tiếng Việt. Về ý nghĩa, các từ "ba que", "xỏ lá" được dùng tương tự như thành ngữ "ba que xỏ lá". So sánh:
- bọn ba que
- bọn xỏ lá
- bọn ba que xỏ lá

typn
24-03-2012, 10:30 AM
chủ đề này hay quá@};- cám ơn bạn rất nhiều:)

banhdacua
24-03-2012, 10:34 AM
Khôn nhà dại chợ: Ở nhà thì khôn, đi chợ thì dại. Hay là ở xó nhà thì khôn, đến chỗ kẻ chợ (kinh kỳ) thì dại.
Đại ý câu này nói chỉ khôn ngoan ở trong xó nhà, đến khi ra ngoài thì hành động lại khờ dại.
Khôn sống bống chết: Bống là cái bống, lại có nghĩa bống là dại. Ta có câu “dại như bống”.
Khôn sống bống chết nghĩa là ở đời người khôn thì sống, người dại thì chết, sống chết tự nơi mình cả. Câu này tả một thực trạng xã hội muôn thuở, và có ngụ ý than trách cái lòng ích kỷ của loài người, chỉ biết sống lấy mình, chớ không biết làm cho người ngu dại cùng sống. Người ta thường nói lầm ra là: “khôn sống mống chết”.
Khôn ra miệng, dại ra tay: Người khôn ngoan thì sự khôn ngoan lộ ra lời nói, người rồ dại, thì sự rồ dại hiện ra những cử chỉ, tức là ở bàn tay. Cứ nghe lời ăn tiếng nói thì biết là người khôn ngoan, cứ nhìn cử chỉ thì biết là người khờ dại.
Câu này đại ý nói sự khôn ngoan cũng như sự điên dại không dấu được ai; mình thế nào, thiên hạ biết rõ cả.
Không biết nói dối thì thối thây ra: Thật thà thì bao giờ cũng hơn. Nhưng ở đời cũng có khi cần phải biết nói dối.
Cho nên câu tục ngữ khuyên người ta nên biết nói dối. Biết nói dối là biết cách nào nói dối người ta tin là thật. Không biết nói dối thì thối thây ra là không biết cách nói dối thì thiệt hại đến mình (thối thây nghĩa đen là thối xác ra). Người ta thường dùng câu này để nói việc đi buôn bán, cần phải biết nói dối thì mới có lãi.
Không đội trời chung: Sách Tầu có câu: “thù cha, anh không đội trời chung”, nghĩa là kẻ thù giết cha, anh của mình, mình quyết không cùng sống với kẻ thù ấy, một là kẻ thù sống thì mình chết, hai là kẻ thù phải chết vì tay mình.
Không đội trời chung do câu ấy mà ra, nghĩa là nhất quyết liều chết trả thù, chứ không chịu cùng sống với kẻ thù ở dưới trời.
Không ốm không đau, làm giầu mấy chốc: Ốm đau tức không có sức khoẻ, thì không làm gì được. Đã không kiếm được lại phải bỏ tiền ra thuốc thang chạy chữa. Cho nên ốm đau rất tốn kém.
Nếu ở đời, luôn luôn người ta được khoẻ mạnh, cứ làm việc được đều đều, thì cũng không mấy chốc mà trở nên giầu có.
Kiến tha lâu cũng đầy tổ: Kiến nhỏ tí, tổ to tù và ở trên cành cây cao vót. Việc tha mồi từ dưới đất lên tổ là một việc khó khăn vất vả vô cùng. So sức kiến với cái tổ, thì tưởng chừng không bao giờ kiến tha được đầy. Thế mà tổ kiến có lúc đầy mồi. Đó là vì kiến chịu khó tha lâu không nản chí. Câu này đại ý khuyên người ta nên kiên gan vững chí. Kiên nhẫn, chịu khó làm mãi, thì việc khó khăn đến đâu cũng có ngày làm xong. Mưa dầm thành lụt là vì mưa dai. Sắt mài nên kim là vì có công mài lâu. Nước chảy đá mòn là vì nước chảy mãi. Kiến tha lâu cũng đầy tổ, người học mãi cũng phải khôn.

Kim vàng ai nỡ uốn câu: Kim vàng là kim bằng vàng.
Uốn câu làm uốn làm lưỡi câu. Kim vàng ai nỡ uốn câu nghĩa là cái kim bằng vàng thì ai nỡ đem uốn làm lưỡi câu cho phí của. Nghĩa bóng câu này muốn nói ai nỡ dùng người tài vào việc hèn, có ý ví người tài với cái kim vàng. Câu này thường dùng được nối liền với câu: “Người khôn ai nỡ nói nhau nặng lời”. Cả hai câu đi liền với nhau có nghĩa là người tài không nỡ dùng vào việc hèn, người khôn ngoan không ai nỡ nặng lời trách mắng.

yenminh0210
26-03-2012, 10:18 AM
<tbody>

<tbody>
Gương vỡ lại lành

</tbody>







<tbody>
Hàm ý chỉ sự chia lìa, tan vỡ, sau đó lại được hàn gắn, đoàn tụ. Câu này thường vận để nói đến tình duyên vợ chồng.
Chuyện kể:
Từ Đức Ngôn yêu công chúa Nhạc Xương, em gái Trần Hậu Chủ. Gặp buổi nước Trần suy loạn, Từ Đức Ngôn nói với công chúa nên có vật gì làm tin để sau này tìm được nhau, rồi lấy gương đập vỡ làm hai mảnh, mỗi người giữ một nửa, hẹn sang năm vào ngày rằm tháng giêng đem bán ở Kinh Đô. Nước Trần bị diệt, công chúa phải vào hầu hạ nhà Dương Tố. Đúng hẹn, Từ Đức Ngôn tìm vào chợ Kinh Đô, thấy một người hầu gái đem bán mảnh gương vỡ. Từ Đức Ngôn lấy nửa gương của mình ra khớp lại thì thấy vừa vặn, mới đề bài thơ gửi lại. Công chúa nhận được thơ khóc lóc thảm thiết. Dương Tố biết chuyện mới lấy làm mủi lòng, độ lượng, bèn mời Trần Đức Ngôn đến và giao trả công chúa, cho hai người đoàn tụ. Người đời từ đó có câu rằng “Gương vỡ lại lành” là chuyện của Từ Đức Ngôn và Nhạc Xương mà ra. (1)
Gương vỡ lại lành như chuyện trên thì không mấy khó, vì có người động lòng trắc ẩn mà đem nối lại tình duyên cho họ. Còn gương vỡ mà không lành thì nhiều. Điều đó khiến mọi người đáng suy nghĩ lắm:
Bây giờ gương vỡ lại lành
Khuôn thiêng lừa lọc đã đành có nơi (2)
Còn như kẻ mê tín thấy gương vỡ thì cho là điềm không lành. Điều đó nói lên không ai muốn cảnh gia đình ly tán, đổ vỡ, lục đục.

Theo Đi tìm điển tích thành ngữ của Tiêu Hà Minh
(1): Theo truyện “Gương vỡ lại lành” - “Điển hay tích lạ”, Nguyễn Tử Quang, NXB Trẻ, 2001.
(2): Theo Truyện Kiều.



</tbody>


</tbody>

harrybotbeo
29-03-2012, 09:11 AM
Cú kêu cho ma ăn

Cú là một loại chim ăn thịt, mắt rất to, thường đi rình mò kiếm mồi ban đêm. Cú có tiếng kêu đanh, dữ dội, gây cảm giác rợn người. Theo quan niệm mê tín, hễ nhà ai có cú đến đậu đầu nhà, kêu ba tiếng, thì nếu không chết người thì cũng ốm đau nặng. Đặc biệt, những gia đình đang có người bệnh, thấy cú bay qua và kêu thì cũng phải xem chừng đấy. Cái nhìn của cú, con mắt của cú đối với họ là nỗi sợ hãi kinh hoàng. Chẳng thế mà dân gian ta hay nói là "dòm như cú dòm nhà bệnh", "cú dòm nhà bệnh" để ví với ý định xấu của người nào đó có rắp tâm làm hại người.

Vì vậy trong quan niệm dân gian, cú và tiếng kêu của cú là biểu tượng của điềm xấu, điềm gở. Theo quan niệm mê tín, thì tiếng kêu của cú là tín hiệu báo trước sẽ có người chết. Hễ nghe tiếng cú kêu ở đâu, thì ở đó sẽ có một thân phận, một con người sắp lìa bỏ cuộc đời. Theo tín hiệu đó, ma sẽ lần đến để chia phần thi thể người xấu số, mà theo cách nói dân gian là đến ăn. Có lẽ vì lý do này mà một số địa phương ở Nghệ Tĩnh gọi cú bằng cái tên khác là "con hót ma". Nhưng rõ là cú chỉ kêu cho ma hưởng phần, chứ bản thân cú nào có được hưởng gì, ăn gì trước cái chết của con người! Cái nghịch lý này được dân gian chớp lấy và khái quát thành cả một thói đời bằng thành ngữ "cú kêu cho ma ăn". Trong tiếng Việt, thành ngữ này để chỉ việc làm vô ích, uổng công, làm cho kẻ khác hưởng.

Cùng với thành ngữ "cú kêu cho ma ăn", trong tiếng Việt còn có thành ngữ "cốc mò cò xơi".


(Sưu tầm)

banhdacua
04-04-2012, 03:48 PM
Làm đầy tớ người khôn, hơn làm thầy người dại: Làm thầy người dại nhiều khi mang tiếng dại lây,vì đầy tớ ngu dại nhiều khi làm xấu cả mặt thầy mà không biết.
Làm đầy tớ người khôn thường được thầy bênh vực, chống đỡ một cách khôn khéo, có khi mình dại mà được tiếng khôn, mà chắc chắn không bị tiếng dại lây.

Làm giầu để đau uống thuốc: Làm giầu là làm ăn chăm chỉ, nhịn ăn nhịn mặc, để dành tiền của cho nhiều. Đau là ốm đau, bệnh tật.
Làm giầu để đau uống thuốc là vì ăn nhịn để dành cho trở nên giầu, mà người hóa ốm yếu, bệnh tật. Tưởng làm giầu để làm gì, không ngờ làm giầu chỉ để cho người hóa ốm mà uống thuốc. Câu này chê những người làm giầu quá đến nỗi coi khinh thân thể, không chú ý đến sức khoẻ của mình.

Làm khi lành để dành khi đau: Lành là lành mạnh, khoẻ mạnh. Đau là đau ốm, yếu đau, bệnh tật.
Làm khi khoẻ mạnh để dành phòng khi ốm đau, vì đau thì không làm được. Câu này khuyên người ta nên lo xa, lúc khoẻ nên lo lúc ốm, khi có nên phòng lúc không, khi làm được nên nghĩ đến khi không làm được.

Làm nghề chài phải theo đuôi cá: Chài là cái chài, tức là một thứ lưới rộng dùng để đánh cá.
Làm nghề chài tức là làm nghề đánh cá. Cả câu nghĩa là: Làm nghề chài lưới thì phải theo đuôi con cá để bắt. Nghĩa bóng câu này muốn nói làm nghề gì thì phải theo nghề ấy, nghề nào cũng có cái vinh, cái nhục của nghề.

Làm phúc cũng như làm giầu: Làm phúc là bỏ tiền bạc, của cải ra giúp đỡ người nghèo khổ cơ nhỡ. Làm phúc như thế tuy có hao tổn của cải đi ít nhiều, song cũng không mất hẳn. Chỉ như để dành một nơi mà thôi.
Bởi vì bỏ của ra làm phúc như vậy thì được nhiều người kính mến, chịu ơn. Lỡ sau này mình gặp cơn hoạn nạn, tai biến gì, cũng có người cưu mang giúp đỡ. Và trong khi mình làm phúc đã gây được bao nhiêu bạn bè, đã mua chuộc được lòng bao nhiêu người thiên hạ. Cho nên nói rằng làm phúc cũng lợi và cũng cần, ngang với làm giầu. Câu này khuyên những người có hằng sản nên có hằng tâm (có của nên có lòng làm phúc).

harrybotbeo
05-04-2012, 05:56 PM
Lệnh ông không bằng cồng bà

Nói về quyền quyết định mọi việc của người phụ nữ trong gia đình, chúng ta có thành ngữ “Lệnh ông không bằng cồng bà”.

Với thành ngữ này, việc nhận biết ý nghĩa và khả năng vận dụng không khó khăn gì. Về mặt ngữ nghĩa, chỉ có chữ “lệnh” là điều băn khoăn duy nhất. Nên hiểu “lệnh” là “mệnh lệnh” hay là “cái lệnh”, một dụng cụ thường dùng ở các nhà thờ, đền chùa? Trong thế đối ứng với “cồng” người ta dễ chấp nhận “lệnh” là dụng cụ phát ra âm thanh. Cái đáng quan tâm nhất thành ngữ là tại sao lệnh ông lại không bằng cồng bà. Trong dân gian có hai cách hiểu vấn đề này.

Theo nhiều người, thành ngữ này gắn liền với việc chiêu mộ binh lính của anh em Triệu Thị Trinh. Trong khi Triệu Quốc Đạt phát lệnh chiêu tập binh lính kết quả không được bao lăm, thì bằng tiếng cồng vang vọng, Triệu Thị Trinh đã tập hợp quanh mình rất nhiều nghĩa sĩ.
Nhiều người khác lại khẳng định xuất xứ của thành ngữ này gắn liền với tục cưới xin ở một số dân tộc ít người. Số là, khi làm lễ cưới, bên nhà trai phải phát lệnh trước để xin dâu, nếu đồng ý thì bên nhà gái đánh cồng đáp lại. Trong trường hợp, không nghe thấy tiếng cồng đáp lại tức là chưa được rước dâu. Rõ là, tiếng cồng nhà gái (cồng bà) có quyền quyết định tối hậu.

(Sưu tầm)

yenminh0210
09-04-2012, 10:21 AM
<tbody>

<tbody>
Chắp cánh liền cành

</tbody>







<tbody>
Con chim bị lìa cánh được chắp lại, cây cành bị gẫy lại liền. Ý nói: Đôi trai gái gắn bó với nhau, tình nghĩa vợ chồng khăng khít. Còn có câu: “Chim liền cánh, cây liền cành” gần nghĩa với “gương vỡ lại lành”.
Chuyện kể:
Hà Thị là người nhan sắc nết na, Hàn Bằng là chồng rất yêu nàng. Hai người sống với nhau hạnh phúc. Tống Khang Vương thấy Hà Thị đẹp mê hồn liền bắt về làm vợ rồi bỏ tù Hàn Bằng. Uất ức, Hàn Bằng tự sát còn Hà Thị lao từ lầu cao xuống tự tử.
Khang Vương chôn hai xác gần nhau. Qua một đêm, từ hai ngôi mộ có hai cây tử quy mọc lên, rễ chạm nhau ở dưới, cành chạm nhau ở trên. Thấy cây xòa cành sang nhau, Tống Khang Vương cho chặt cành đi, nhưng càng chặt thì cành càng vươn ra, quấn vào nhau.
Cũng từ hôm đó có đôi chim uyên ương đến đậu trên cành tử quy, tiếng hót thảm thiết. Tống Khang cho rình bắt chim. Thấy chim đẹp, liền cho chặt đôi cánh để chim không bay rồi cho đậu lên cành cây làm cảnh. Nhưng cánh chim chả mấy chốc lại mọc lông rồi đôi uyên ương vỗ cánh, bay lên cao hót tiếng hót thống thiết: “Liền cánh - liền cành”. Hai cây tử quy sau này cứ sát liền bên nhau mà lớn lên, che rợp cả một khoảng trời, không ai còn dám chặt cành của nó nữa. Còn đôi chim uyên ương trở thành hai đám mây trắng bay khắp bầu trời (1)
Dù có bị người khác chia lìa tình cảm, nhưng tình vợ chồng thủy chung vẫn chiến thắng. Cái quan trọng vẫn là không bị cám dỗ, mua chuộc và không chịu khuất phục bởi hoàn cảnh đen tối.
Thiếp xin về kiếp sau này
Như chim liền cánh như cây liền cành.
“Chắp cánh liền cành” còn là mơ ước được gần gũi, chia sẻ, là biểu hiện của sự trọn vẹn, toại nguyện tình cảm trong cuộc sống.

Theo Đi tìm điển tích thành ngữ của Tiêu Hà Minh



</tbody>


</tbody>

banhdacua
11-04-2012, 04:16 PM
Lấy vợ đàn bà, làm nhà hướng nam: Lấy vợ thì dĩ nhiên lấy vợ đàn bà, làm nhà thì dĩ nhiên phải trông về hướng Nam (vì hướng Nam thì mát). Cũng có người giảng thế này: Lấy vợ thì lấy người thật là đàn bà, làm nhà thì nên làm trông về hướng Nam. Vì cũng có người đàn bà mà tướng người và tính nết y như đàn ông, như thế là không tốt.

Lấy vợ xem tông, lấy chồng xem giống: Tông với giống cùng một nghĩa là giòng dõi. Lấy vợ phải xem tông, lấy chồng phải xem giống, vì con cháu thường bẩm thụ những đức tính và bệnh tật di truyền của cha ông. Hễ cha ông là người hiền lành, thì con cái ít khi là người hung ác; hễ cha ông là người hung ác, thì con cháu ít khi là người hiền lành.
Câu này khuyên người ta lấy vợ lấy chồng nên chú ý lựa chọn con nhà giòng dõi tử thế, không nên tối mắt về của cải giầu sang hoặc nhan sắc nhất thời.
Lem lém như gấu ăn trăng: Mặt trăng bị quả đất che lấp, thành thử đang sáng hóa tối, gọi là nguyệt thực, nói nôm là gấu ăn trăng. Ngày xưa, người ta tin rằng lúc đó có gấu nhà trời ra ngậm mặt trăng. Gấu ăn trăng thì mau chóng lắm, cứ lem lém từng giây, từng phút “ăn” hết cả mặt trăng. Để tỏ sự ăn mau chóng quá sức, người ta thường ví với gấu ăn trăng.

Lên mặt xuống chân: Dáng điệu kiêu ngạo, làm bộ đi cứ vênh cái mặt lên và chân thì bước thình thịch xuống đất, để người ngoài chú ý đến mình.

Lên voi xuống chó: Lúc lên thì to như con voi, lúc xuống thì bé như con chó. Câu này ý nói lúc nào người ta gặp cơn vận đỏ thì lên to lắm, lúc gặp vận đen thì xuống lại, hóa bé lắm. Người thì trước sau vẫn thế, nhưng lúc to lúc nhỏ là do vận hội xui nên. Cũng có nghĩa là hễ lên to quá, thì lại xuống bé quá, nếu cứ trung bình thì lên xuống cũng không đến nỗi chênh lệch như thế.

Lo chật bụng, lo chi chật nhà: Chật bụng là bụng dạ chật hẹp, không rộng lượng, không có lòng rộng rãi đối với mọi người. Chật nhà là nhà chật hẹp, không rộng rãi.
Chỉ lo bụng dạ mình không được rộng rãi, chứ lo gì nhà mình không được rộng rãi. Bụng dạ rộng rãi thì lắm bạn, đến chật nhà cũng hóa như rộng, vì đông người lui tới, chơi bời với mình. Bụng chật hẹp thì nhà rộng rãi đến đâu, cũng như chật hẹp vì chẳng ai buồn tới. Đại ý câu này khuyên người ta ăn ở nên rộng rãi với mọi người, không nên khe khắt, chặt chẽ quá.

mozart
12-04-2012, 10:05 AM
<tbody>

<tbody>
Đứt đuôi con nòng nọc

</tbody>







<tbody>
Ếch nhái ở giai đoạn mới sinh trưởng, sống dưới nước, thở bằng mang và có đuôi. Nòng nọc là cóc mới nở từ trứng ra, sống thành đàn ở đám ruộng, ao. Đến kỳ hạn, nó đứt đuôi nhảy lên bờ sống trên cạn. Còn có câu: Nòng nọc đứt đuôi, chính là giống cóc. Ý của câu này là: Rõ ràng dứt khoát, việc nào ra việc ấy, cái nào ra cái ấy.
Chuyện kể:
Ở một đám đầm nọ, cá trê mẹ vừa nở ra một đàn con, nó quanh quẩn quanh đàn, phòng kẻ khác đớp con nó. Cũng cạnh đó có con cóc, mấy hôm trước cũng đẻ một dây nhiều trứng lắm. Đẻ xong, cóc đi đớp mồi, thản nhiên, ít ngó ngàng đến trứng của mình. Đến kỳ trứng cóc nở, nòng nọc cóc giống hệt nòng nọc cá trê trườn xuống, hòa vào với nhau. Trê mẹ cho rằng mình có một đàn con đông đúc mà con nào cũng đen nhánh, đuôi chúng ve vẩy bơi đi bơi lại, lấy làm sung sướng lắm.
Một hôm, cóc về lại chỗ mình đã đẻ trứng, ngó xuống đầm, thấy cơ man nào là nòng nọc. Nó cũng chẳng thèm để ý xem đâu là con mình cả. Trê mẹ ở dưới nước thấy thế ngớp mồm lên trêu rằng:
- Chị chẳng có lộc nên như “người độc không con”. Chị phải chịu ở vậy thôi. Tôi đây có phúc nên trời cho con đầy đàn đầy đống. Thôi chị ra chỗ khác, chứ ngồi đây chị đớp con tôi bao giờ không biết.
Cóc cười:
- Ừ thì nhà chị có phúc. Nhưng chị nhớ rằng, trong đàn có cả con tôi nữa đấy. Rồi đấy chị xem.
Rồi ngày qua ngày, đàn nòng nọc đều lớn cả lên. Nòng nọc thuộc loài cóc đến kỳ đến hạn tự mà đứt cái đuôi sát đến đít. Cứ thế nó nhảy lên bờ. Cóc mẹ ngồi trên bờ chờ cho đàn con nhảy hết lên nó mới nói với trê mẹ rằng: “Đấy chị xem, đứt đuôi con nòng nọc thì nó là con tôi cả”.
Nói xong, cóc dẫn đàn con đi tìm nơi ở mới. Số nòng nọc còn lại không đứt đuôi được là loài cá trê, cá trê mẹ ngậm ngùi nhìn lại đàn con trước kia đông đúc vậy mà nay còn thưa thớt mới kêu lên trời rằng: “Trời cho đứt đuôi con nòng nọc thì nó thành cóc hết, con lấy đâu nòi giống để tồn tại hả Trời”. Rồi tức quá, nó đập đầu vào cầu ao, thành thử bây giờ đầu nó mới bị bẹp như vậy.(1)
“Đứt đuôi con nòng nọc” là câu người đời hay vận dụng để nhắc nhở mọi người bàn bạc, giải quyết vấn đề gì phải cho dứt nọc, đâu ra đấy. Nó cũng thể hiện, cách làm việc khoa học, rõ ràng. Thực tế, trong xã hội việc lôi nhôi lai rai, rải mành mành, việc nọ sọ việc kia, chẳng bao giờ dứt điểm đã xảy ra quá nhiều, thậm chí những người thừa hành còn cố tình làm ra vậy để kiếm lợi. Vì thế, việc cải cách hành chính là rất cần thiết.

Theo Đi tìm điển tích thành ngữ
của Tiêu Hà Minh



</tbody>


</tbody>

banhdacua
13-04-2012, 04:12 PM
Làm quan có mả, kẻ cả có giòng: Mả là mồ mả, đất cát; người ta tin rằng mồ mả của ông cha có ảnh hưởng đến đời sống và công danh, sự nghiệp của con cháu. Hễ mồ mả “kết” thì con cháu phát đạt làm nên. Mà táng vào chỗ không tốt, thì con cháu sa sút lụt bại. Cho nên có câu: Làm quan có mả nghĩa là có mồ mả, đất cát “kết phát” thì mới làm được quan sang.
Kẻ cả là người lớn, người trên, người đứng đầu, người đàn anh. Có giòng là có giòng dõi, tức xưa có cha ông từng làm đàn anh, thì con cháu mới làm được đàn anh. Đời xưa dưới chế độ phong kiến (như đời Lý, nhà Trần), con quan thì lại làm quan, câu này rất đúng. Bây giờ thì không đúng nữa. Bây giờ thì “có chí làm quan, có gan làm giầu”, không căn cứ gì mồ mả hay giòng dõi.
Làm ruộng ăn cơm nằm, chăn tằm ăn cơm đứng: Làm ruộng thì phải thức khuya, dậy sớm, trời mờ sáng đã phải ăn cơm để ra đồng làm. Mãi trống canh một hết việc mới được ăn cơm tối. Cho nên nói rằng ăn cơm nằm tức là ăn cơm lúc người ta nằm ngủ, hoặc phải nằm mà ăn cơm, vì ăn cơm sớm quá và ăn muộn quá.
Chăn tằm thì phải luôn luôn săn sóc tằm ăn cho no đủ. Nếu là dâu hết, tằm thiếu cái ăn, thì đang bữa cơm cũng phải đứng dậy đi hái dâu, hoặc mải hái dâu quên cả bữa ăn. Nên bảo rằng ăn cơm đứng tức là vừa đứng hái dâu vừa ăn cơm. Câu này tả nỗi khó nhọc của nghề làm ruộng và nghề chăn tằm.
Làm ruộng thì ra, làm nhà thì tốn: Ra đây nghĩa là ròi ra, đẻ ra, có lợi thêm ra. Làm ruộng thì được lúa gạo, rơm, rạ, đủ các thứ lợi nên bảo rằng làm ruộng thì ra. Trái lại làm nhà thì tốn, vì phải mua hết thứ này đến thứ khác, làm xong nhà đến bếp, làm xong bếp đến lát gạch sân và xây tường bao, cứ rở rói ra mãi, cho nên tốn kém.

Làm tài trai cứ nước hai mà nói: Làm con trai tài giỏi, không bao giờ nên nói quả quyết điều gì, phòng lúc không giữ lời hứa, hoặc lỡ lời nói sai thì không có lối thoát. Đại khái như nói điều gì cũng bảo: Hình như, có lẽ thì đúng, đúng cũng được, mà không đúng cũng không sao.

Lành làm gáo, vỡ làm môi: Cái sọ dừa, nếu lành thì người ta cưa làm gáo, nếu vỡ thì người ta cưa làm cái môi hoặc cái muôi. Môi hay muôi là một thứ cùi dìa hình tròn to, làm bằng sọ dừa, so với cái gáo thì môi hay muôi nông hơn nhiều, nên sọ dừa vỡ không làm gáo được mà có thể dùng làm môi. Người ta thường dùng câu này để tỏ cái ý định liều lĩnh làm việc gì (nhất là việc vật lộn, tranh dành nhau), bất chấp hành hay mẻ, được hay thua.

Lạt mềm buộc chặt: Lạt mềm là lạt chẻ mỏng. Lạt mỏng thì vừa dẻo, vừa dai, buộc cái gì buộc lằn, siết chặt mà không đứt. Lạt chẻ dầy, thì vừa cứng, vừa dòn, buộc chặc không được và hay gẫy, đứt. Câu này lấy lạt làm thí dụ, để khuyên người ta nên ăn nói mềm mỏng, ngọt ngào thì ai nghe cũng lọt tai, do đó việc mình mới hay.

Lắm người nhiều điều: Điều đây là lời nói.
Lắm người thì mỗi người một lời thành ra nhiều lời. Câu này ý nói hễ nhiều người thì nhiều ý kiến. Cũng có ý nói đám đông người thường hay lộn xộn, ồn ào vì mỗi người nói một lời.
Lắm rận thì giầu, lắm trâu thì nghèo: Lắm rận đây là nói người nghèo khó. Người nghèo khó ít quần áo, không năng thay đổi và quần áo hay rách vá, thành ra hay có rận. Lắm trâu tức là người giầu có. Lắm rận thì giầu: người nghèo khó lại giầu lòng nhân đức, thương người. Lắm trâu thì nghèo: người giầu có lại nghèo lòng nhân đức.
Cũng có người giải nghĩa như thế này, người nghèo thì giầu sự nghèo khó của mình, cũng làm ra bộ giầu để người ta khỏi khinh. Trái lại, người lắm trâu thì giấu sự giầu có của mình, làm ra bộ túng bấn, để người ta khỏi vay mượn.

thaomy
16-04-2012, 10:58 AM
Mình cũng xin góp 1 câu mà mình hay nghe đó là:

Nói có sách, mách có chứng

Nói có sách mách có chứng, nghĩa là nói điều gì đó xác thực, có chứng cứ rõ ràng, có thể kiểm chứng được. Nói có sách, mách có chứng có nghĩa là không nói vu vơ kiểu ăn ốc nói mò, không thêu dệt, không nói kiểu tung tin thất thiệt, bịa đặt dựng chuyện, vu oan giá hoạ để bóp méo, xuyên tạc sự thật hay đổ lỗi cho người khác.
Nhưng tại sao, để diễn đạt ý nghĩa đó người Việt Nam lại chọn cách nói như vậy? Có thể bắt đầu từ cấu trúc thành ngữ, sau đó cậy nhờ việc suy xét ý nghĩa dân gian của các từ sách, mách, chứng được dùng trong thành ngữ này để hiểu nội dung thành ngữ. Dễ thấy là, thành ngữ nói có sách, mách có chứng gồm 2 vế: Nói có sách và mách có chứng, được tạo thành trên hai cơ sở của phép đối và điệp. Nói đối với mách, sách đối với chứng. Trong thực tế sử dụng thành ngữ này có thêm một số biến thể khác như: nói phải có sách, mách phải có chứng hoặc nói chẳng có sách, mách chẳng có chứng gì cả.
Do vậy, cấu trúc của mỗi vế nói trên cũng có các biến thể khác nhau như đã thấy. Đối với loại thành ngữ được tạo ra theo kiểu này, khi nắm được ý nghĩa của một trong hai vế, thường là vế thứ nhất, là có thể hiểu được nội dung chính yếu của các thành ngữ. Sách trong quan niệm dân gian là kho báu, là nơi thâu góp được những điều hay, lẽ phải ở đời. Sách là nơi cho những điều tin cẩn, rõ ràng và sự sáng suốt. Sách là mực thước. Soi trong sách có thể nhận được điều chân xác và sự yên tâm ở lời nghe được và những lời nói ra. Nói có sách, mách có chứng mang được ý nghĩa trên, trước hết là nhờ vào ngữ nghĩa dân gian ấy của từ sách. Còn mách trong ý nghĩa nguyên sơ của nó, cũng có nghĩa là nói, nói cho biết, bảo cho biết.
Mách trong mách bảo, mách nước cũng với nghĩa như thế. Chứng là chứng cứ. Mách có chứng nghĩa là nói cho ai đó điều gì đó phải có chứng cứ cụ thể, tức điều đem báo, đem mách cho ai đó là điều có thật, đã trông tận mắt, nghe tận tai. Mách có chứng cũng yêu cầu không được nói sai, nói không có căn cứ, nói những điều chưa biết chắc đúng, sai, thật, hư. Mách có chứng cũng có nghĩa là nói đàng hoàng, đúng đắn, công khai, chứ không theo lối mách lẻo hay thóc mách.

yenminh0210
17-04-2012, 10:02 AM
<tbody>




<tbody>
Nằm gai nếm mật
Nằm trên gai nhọn, nếm mật đắng để tự đầy ải thân mình nhằm nuôi chí phục thù. Ý nói chịu đựng mọi gian khổ để mưu việc lớn. Còn có câu: Nấm mật nằm gai Ăn sương nằm gió Nằm sương gối đất Gối đất nằm gai Dãi gió dầm mưa cũng hàm chỉ ý trên.
Chuyện kể:
Chiến tranh giữa nước Việt và nước Ngô kéo dài. Trận đánh cuối cùng ở Cối Kê thật khủng khiếp. Quân nước Việt đại bại; quân nước Ngô xung trận chém giết quân nước Việt dã man. Vua nước Việt là Câu Tiễn phải mở cửa thành xin hàng quân Ngô. Vua nước Ngô là Phù Sai cho bắt vua Câu Tiễn cùng Hoàng hậu và tướng Phạm Lãi mang về đất Ngô theo hầu Câu Tiễn. Ba người tù hàng ngày phải cắt cỏ cho ngựa, quét dọn chuồng ngựa. Phạm Lãi nhiều lúc khóc âm thầm, cho rằng vì mình sức hèn, đức kém nên vua Câu Tiễn và Hoàng hậu mới nhục nhã thế này. Song vua Câu Tiễn nghĩ khác, ông cam chịu mọi khổ nhục để nuôi chí báo thù.
Vua Phù Sai thử lòng vua Câu Tiễn. Một hôm, bắt vua Câu Tiễn nếm phân của mình. Vua Câu Tiễn làm theo mà không chút phân tâm. Vua Ngô cho rằng vua Câu Tiễn đã y phục. Ba năm sau, Ngô Phù Sai trả tự do cho Câu Tiễn. Ba người về nước, chiêu hiền đãi sĩ, mưa tính việc báo thù cho đất nước. Mùa cày ruộng, vua đi cày với dân. Mùa gặt lúa, vua đi gặt với dân. Còn Hoàng hậu thì chăn tằm dệt vải. Câu Tiễn sống thật kham khổ để nuôi chí lớn, lạnh không đắp chăn, nóng vẫn nằm bên bếp lửa. Một lần, Phạm Lãi đến gần chỗ vua thường nằm phát hiện ra, dưới chỗ vua nằm là một lượt gai, phía trên treo lủng lẳng một túi mật, thỉnh thoảng vua lại nhấm một giọt. Thấy lạ, Phạm Lãi bèn hỏi:
- Muôn tâu, sao lại như thế này?
Câu Tiễn thong thả trả lời:
- Tự hành, đó cũng là nuôi chí. Ta làm như vậy là để nhớ những cay đắng, tủi nhục từ trận Cối Kê thảm hại năm xưa.
Ít lâu sau, nước mạnh, dân giàu, Phạm Lãi giúp mưu kế để vua Câu Tiễn dàn trận đánh nước Ngô. Nước Ngô suy yếu lại rơi vào tay Câu Tiễn (1)
Lịch sử đấu tranh chống xâm lược, bao gương “ngậm thù lớn”, “nuôi chí bền” mà làm nên chiến thắng. “Nếm mật nằm gai há phải một hai sớm tối” (Cáo Bình Ngô) cho đến thời đại ngày nay đánh đuổi giặc Pháp, giặc Mỹ vẫn là bài học nuôi chí bền nằm gai nếm mật để chiến thắng kẻ thù. Ngoại trừ phục thù mang tính cá nhân, còn nằm gai nếm mật vẫn là đức tính chịu hy sinh, gian khổ truyền từ đời cha ông. Tuy nhiên, nên hiểu “nằm gai nếm mật” với nghĩa rộng hơn, không chỉ bó khuôn trong nghĩa đen của truyện này.

Theo Đi tìm điển tích thành ngữ của Tiêu Hà Minh



</tbody>


</tbody>

banhdacua
19-04-2012, 02:18 PM
Lụa tốt xem biên, người hiền xem tướng: Muốn biết lụa tốt hay xấu, cứ xem ở biên, tức là ở bên mép tấm lụa thì biết. Hễ mép lụa mà săn mịn, đều sợi là lụa tốt. Muốn biết người hiền hay không cứ xem mặt thì biết, vì khôn ngoan dồn ra nét mặt, và nhân hiền tại mạo (người hiền ở nét mặt).
Câu này nói về cách xem lụa và xem người, dạy ta những trí thức thông thường về sự vật, thuộc vào loại những câu: Mua cá thì phải xem mang.
Mua bầu xem cuống mới toan không lầm.
Mua cau chọn lấy buồng sai.
Mua trầu chọn lấy trăm hai lá vàng.
Cá thở bằng mang. Cá còn sống thì mang cá phập phồng, cá còn tươi. Cá mới ngã (chết) thì mang đỏ. Bầu bí cuống nhỏ thì đặc ruột, cuống to thì lắm ruột, mỏng cùi, không tốt. Trầu không lá vàng thì ngon.
Lửa cháy mà lại đổ dầu thêm: Lửa đang cháy mà đổ thêm dầu, thì lửa lại càng cháy to. Đại ý câu này nói là to chuyện thêm, làm cho câu chuyện lôi thôi, rắc rối, đáng lẽ phải dẹp nó đi.

Lưỡi không xương nhiều đường lắt léo: Lưỡi không có xương, nên uốn, lắt lẻo thế nào cũng được. Nghĩa bóng câu này thường được dùng để chê người ăn nói trước sau bất nhất, lúc nói thế này, lúc nói thế khác.

Lưỡi mềm độc quá đuôi ong: Lưỡi mềm là lưỡi không cứng rắn như đá, không sắc nhọn như dao, lý ưng không có gì đáng sợ, vì không làm đau đớn, thương tổn được người ta. Ấy vậy mà lưỡi độc quá đuôi ong, tức là độc hơn nọc ong (nọc ong ở đằng đuôi). Đuôi ong châm vào thì thịt đau buốt và sưng vù lên. Lưỡi nói xấu ai thì người ấy mất bạn bè, mất danh giá. Lưỡi vu khống ai thì người ấy bị tù tội, mất cơ nghiệp, có thể mất cả tính mạng.
Câu tục ngữ nêu ảnh hưởng tai hại của miệng lưỡi con người, và ngụ ý khuyên người ta không nên nói vu oan, nói xấu kẻ khác.
Lươn ngắn chê chạch dài: Lươn với chạch là hai giống cá thân hình coi gần như nhau, nhưng chạch thì ngắn hơn lươn nhiều. Vậy mà lươn lại tự cho là mình ngắn mà chê chạch là dài, trái hẳn với sự thật.
Người ta thường mượn câu này để nói người có lỗi lại chê người khác làm lỗi. Người bụng dạ không tốt lại chê người khác không tốt. Đại ý câu này khuyên người ta nên xét mình trước rồi hãy xét người.

yenminh0210
23-04-2012, 09:30 AM
<tbody>




<tbody>

Quạ nào mà chẳng đen đầu
Khẳng định đầu con quạ nào cũng đen. Đen ở đây là ý xấu xa. Thành ngữ ví von cùng một giuộc, cùng bản chất xấu xa như nhau cả. Còn có câu: Giống quạ đen đầu. Đen như quạ.
Chuyện kể:
Xưa, quạ và công là đôi bạn thân. Màu lông của chúng đều xám xịt như rúc ở bùn lên. Một hôm, quạ bảo công:
- Đằng kia có người thợ vẽ, ta ăn trộm một ít về sửa lại bộ cánh cho đẹp.
Rồi hai con rủ nhau ăn trộm được thỏi mực tàu, một gói thuốc xanh và gói kim nhũ.
Quạ đem công ra vẽ. Nó dùng màu xanh tô vào cổ, vào mình cho công. Tô đến đâu rắc kim nhũ đến đấy. Đến cái đuôi, công xòe ra cho quạ vẽ nhưng vì màu xanh đã cạn nên chỉ vẽ được vành tròn rồi rắc nhũ lên.
Đến lượt công vẽ cho quạ thì bỗng có tiếng lợn kêu eng éc ở đằng xa. Quạ chắc mẩm sẽ được bộ lòng lợn. Càng nghĩ càng thèm, nó không tự chủ được nữa bèn giục công rối rít.
- Thôi chị vẽ cho tôi nhanh lên, kẻo lỡ hết bữa cỗ ngon.
Công vẫn đủng đỉnh:
- Cô cứ từ từ, phải có bộ cánh đẹp thì đi dự tiệc mới ra dáng chứ.
Tiếng lợn kêu càng dồn dập, quạ càng sốt ruột, nó giục:
- Chị công ơi, chị đổ cả màu đen lên mình tôi cho mau đi!
Công chưa kịp nghe ra thì quạ liền nhảy vào chậu thuốc vẽ rồi cứ thế chúi đầu xuống chậu thuốc mực tàu. Công bực quá, cầm chậu thuốc đổ cả lên đầu đó.
Thành thử bây giờ chả con quạ nào không đen đầu (1)
Tham lam, háu ăn và hấp tấp đến như quạ thì chẳng còn coi nghệ thuật là gì. Những người cùng hội cùng thuyền thì giống nhau, vì thế, phải chọn bạn mà chơi, kẻo người đời cho rằng “ngưu tầm ngưu, mã tầm mã”, bởi:
“Quạ nào mà đầu chẳng đen
Quạ đâu lại dám mon men với cò” (2)

Theo Đi tìm điển tích thành ngữ của Tiêu Hà Minh


(1): Phỏng theo truyện “Con công và con quạ”, Truyện cổ nước Nam, Nguyễn Văn Ngọc, NXB Văn học, 2003.
(2): Ca dao.

</tbody>


</tbody>

tomhe
27-04-2012, 12:13 PM
Yêu nên tốt, ghét nên xấu
Giải nghĩa: Khi yêu thì cái gì cũng đẹp, cũng hay, thậm chí là khi có lỗi cũng cho là tốt. Khi ghét thì ghét đến chân tơ kẽ tóc, người ta có tốt cũng cho là xấu. Vì vậy còn có câu: “Khi yêu thì củ ấu cũng tròn, khi ghét thì bồ hòn cũng méo”. Sự yêu ghét làm cho người ta mất cả cái đúng đắn, đối xử thiên lệch, thiếu khách quan, đến mức “Chanh cũng khen ngọt mà hồng chê chua”.
Chuyện kể:
Phép nước Vệ, ai tự ý lấy xe của vua thì phải tội chặt chân. Di Tử Hà là cận thần của vua. Mẹ Tử Hà ốm nặng. Đêm khuya có người gọi, Tử Hà vội vàng lấy xe và ngựa của vua ra đi. Vua khen: “Có hiếu thật! Vì hết lòng với mẹ mà quên cả tội chặt chân”.
Lại một lần, Tử Hà theo vua đi ngự tại vườn, đang ăn quả đào thấy ngọt, còn một nửa đưa cho vua ăn, vua nói: “Yêu ta thật! Của đang ngon miệng mà biết để nhường ta”.
Về sau, vua không có lòng yêu Di Tử Hà như trước nữa. Một hôm, Tử Hà phạm lỗi, vua giận nói rằng:
“Di Tử Hà trước dám ngỗ ngược lấy xe của ta đi, rồi lại một lần cho ta ăn quả đào thừa, thực là trọng tội”. Nói xong, đem Tử Hà ra hành quyết.
Ôi! Di Tử Hà ăn ở trước sau vẫn vậy thôi. Vậy mà trước yêu, sau ghét mà nên tội. (1)
Từ truyện trên rút ra cái thực trong đời: Sự yêu ghét của người ta đổi thay nhanh chóng cũng chỉ do quan niệm nhận thức mà thành. Giống như vua nước Vệ, cũng là sự ấy nhưng lúc yêu thì tốt cả mà lúc ghét thì xấu cả, nên đời mới có câu:
Yêu ai thì nói quá ưa
Ghét ai nói thiếu nói thừa như không
Suy từ đấy ra, người làm cha mẹ dân mà quan niệm, nhận thức thay đổi, ích kỷ thì khổ cho dân lắm thay.

Theo Đi tìm điển tích thành ngữ của Tiêu Hà Minh

(1): Theo “Cổ học tinh hoa”, Nguyễn Văn Ngọc, NXB Văn học, 2003

banhdacua
28-04-2012, 12:50 PM
Lợi thì nuôi lợn nái, hại thì nuôi bồ câu: Lợn (người miền Nam gọi là con heo) nái tức là lợn cái, lợn sề. Lợn nái mỗi năm đẻ hai lứa, mỗi lứa bảy, tám, có khi đến mười con lợn con. Lợn con nuôi ba tháng đã bán làm lợn giống được, cho nên nuôi lợn nái rất có lợi.
Bồ câu ăn thóc rất tốn. Bồ câu lại hay ỉa trên mái nhà và vào bể nước, làm bẩn cả nước mưa, nước bể. Nên người ta cho là nuôi bồ câu không lợi, mà có hại.
Lớn người to cái ngã: Người càng lớn thì cái ngã càng to, vì người lớn thì nặng cân, ngã tất mạnh.
Theo nghĩa bóng câu này muốn nói: người làm nên danh phận cao bao nhiêu, thì khi gặp vận xấu lại xuống thấp bấy nhiêu, người giầu có sung sướng bao nhiêu, khi sa sút lại khổ sở bấy nhiêu. Ý nghĩa cũng tương tự ý nghĩa câu: “Càng cao danh vọng càng đầy gian nan”, hoặc câu: “trèo cao ngã đau”.
Lụa tốt xem biên, người hiền xem tướng: Muốn biết lụa tốt hay xấu, cứ xem ở biên, tức là ở bên mép tấm lụa thì biết. Hễ mép lụa mà săn mịn, đều sợi là lụa tốt. Muốn biết người hiền hay không cứ xem mặt thì biết, vì khôn ngoan dồn ra nét mặt, và nhân hiền tại mạo (người hiền ở nét mặt).
Câu này nói về cách xem lụa và xem người, dạy ta những trí thức thông thường về sự vật, thuộc vào loại những câu: Mua cá thì phải xem mang.
Mua bầu xem cuống mới toan không lầm.
Mua cau chọn lấy buồng sai.
Mua trầu chọn lấy trăm hai lá vàng.
Cá thở bằng mang. Cá còn sống thì mang cá phập phồng, cá còn tươi. Cá mới ngã (chết) thì mang đỏ. Bầu bí cuống nhỏ thì đặc ruột, cuống to thì lắm ruột, mỏng cùi, không tốt. Trầu không lá vàng thì ngon.
Lửa cháy mà lại đổ dầu thêm: Lửa đang cháy mà đổ thêm dầu, thì lửa lại càng cháy to. Đại ý câu này nói là to chuyện thêm, làm cho câu chuyện lôi thôi, rắc rối, đáng lẽ phải dẹp nó đi.

Lưỡi không xương nhiều đường lắt léo: Lưỡi không có xương, nên uốn, lắt lẻo thế nào cũng được. Nghĩa bóng câu này thường được dùng để chê người ăn nói trước sau bất nhất, lúc nói thế này, lúc nói thế khác.

Lưỡi mềm độc quá đuôi ong: Lưỡi mềm là lưỡi không cứng rắn như đá, không sắc nhọn như dao, lý ưng không có gì đáng sợ, vì không làm đau đớn, thương tổn được người ta. Ấy vậy mà lưỡi độc quá đuôi ong, tức là độc hơn nọc ong (nọc ong ở đằng đuôi). Đuôi ong châm vào thì thịt đau buốt và sưng vù lên. Lưỡi nói xấu ai thì người ấy mất bạn bè, mất danh giá. Lưỡi vu khống ai thì người ấy bị tù tội, mất cơ nghiệp, có thể mất cả tính mạng.
Câu tục ngữ nêu ảnh hưởng tai hại của miệng lưỡi con người, và ngụ ý khuyên người ta không nên nói vu oan, nói xấu kẻ khác.
Lươn ngắn chê chạch dài: Lươn với chạch là hai giống cá thân hình coi gần như nhau, nhưng chạch thì ngắn hơn lươn nhiều. Vậy mà lươn lại tự cho là mình ngắn mà chê chạch là dài, trái hẳn với sự thật.
Người ta thường mượn câu này để nói người có lỗi lại chê người khác làm lỗi. Người bụng dạ không tốt lại chê người khác không tốt. Đại ý câu này khuyên người ta nên xét mình trước rồi hãy xét người.

(st)

banhdacua
11-05-2012, 09:46 AM
Mạ nhờ nước, nước nhờ mạ: Mạ nhờ nước nên xanh tốt.
Nước nhờ mạ xanh tốt chở che cho, khỏi bị giãi nắng.
Người ta thường mượn câu này để nói người ta ở đời, người nọ nhờ người kia, người kia lại nhờ người khác, không ai sống một mình được.

Mạnh về gạo, bạo về tiền: Gạo đây là cơm gạo, người ta mạnh khoẻ là nhờ cơm gạo, không có cơm gạo ăn, thì không ai mạnh được.
Tiền là tiền của, có tiền của thì người ta dám làm những việc to tát, lớn lao, không sợ thua lỗ, tốn kém, thế tức là mạnh bạo.
Đại ý câu này nói kinh tế làm nên sức mạnh.

Máu chảy đến đâu ruồi bâu đến đấy: Nghĩa bóng câu này muốn nói dòng máu loang đến đâu, là họ hàng bà con mình ra đến đấy.
Nhiều khi dùng theo nghĩa này: họ hàng xa xôi đến đâu, người ta cũng tìm đến nhận nhau, như kiểu con ruồi bâu vào chỗ có máu.

Máu chảy ruột mềm: Máu chảy tức là dứt thịt chảy máu ra.
Ruột mềm tức là đau đớn. Khi người ta đau đớn, thì hình như ruột mềm nhũn ra.
Câu này nghĩa là thân thể bị thương chảy máu, thì trong ruột cảm thấy đau đớn.
Nghĩa bóng câu này muốn nói: người trong máu mủ, họ hàng bị hoạn nạn, thì mình cũng cảm thấy thương xót.

Mâm cao đánh ngã bát đầy: Mâm cao là mâm cỗ to chồng chất những thịt cá, nhiều thức ăn.
Ngày xưa, tục các làng hay có cuộc thi làm cỗ to, cỗ làm trên mâm qui vuông, chồng chất đĩa bát đựng thức ăn, được nấu xếp thành năm bẩy tầng, có khi cao mười đến mười hai tầng, mỗi tầng có phên che ngăn. Thành ra năm, bẩy mâm cỗ chất thành một mâm cỗ. Do đó, mâm cao tức mâm cỗ nhiều tầng, tức là mâm cỗ to. Bát đầy là bát cơm đầy.
Câu này nghĩa là: có nhiều thức ăn thì ăn được nhiều cơm. Ý nghĩa cũng gần như câu: “con cá đánh ngã bát cơm”.

Máu loãng còn hơn nước lã: Họ hàng chung một dòng máu, máu loãng là máu không đặc, ý nói họ xa. Câu này đại ý nói dù người có họ rất xa, hoặc chỉ hơi hướng họ hàng, cũng hơn người đối với mình không có chút máu mủ nào, chỉ nhạt như nước lã. Câu này ý nghĩa gần như câu: “Họ chín đời còn hơn người dưng”.

Máu mô thâm thịt nấy: Mô là tiếng miền Trung, nghĩa là ở đâu, ở chỗ nào. Máu mô là máu chảy ở đâu. Thâm là không trắng, là đen, là thiếu máu đỏ. Máu mô thâm thịt nấy là máu chảy chỗ nào thì chỗ ấy thịt thâm lại, mất sắc đi. Nghĩa bóng là người họ hàng máu mủ bị hoạn nạn thì mình động lòng thương xót, như thịt thâm lại khi máu ở vết thương chảy ra.
Cũng có thể giảng như thế này: máu mô là máu ở chỗ nào, nghĩa bóng họ hàng máu mủ ở chỗ nào. Thâm thịt nấy là chỗ đó có tình thâm cốt nhục, tả tấm lòng yêu thương xâu xa giữa người ruột thịt, cùng chung một dòng máu.

(st)

mozart
14-05-2012, 10:09 AM
Đẽo cày giữa đường
Câu thành ngữ này hàm ý chỉ kẻ hành động ngu ngốc, không có chủ kiến, luôn bị động nên hay thay đổi theo ý kiến người khác, cuối cùng chẳng đạt được kết quả gì. Còn có câu: Đồ ba phải Mười rằm cũng ư, mười tư cũng gật.
Chuyện kể:Một người ngồi trên đường đẽo cày. Có người đi qua, trông thấy khuyên:
- Ồ, cái tay cày to quá, khó cầm. Anh nên đẽo cho nó nhỏ hơn có được không?
Anh thợ đẽo cày nghe theo, đẽo cái tay cày nhỏ đi.
Một lát, một người khác đi qua lại bảo:
- Ồ, cái ách cày to quá, kho vác. Anh nên đẽo nó nhỏ đi chút nữa. Anh thợ cày nghe theo lại đẽo nhỏ đi. Lát sau, một người qua đường nhìn thấy bảo:
- Ồ, cái lưỡi cày to quá, khó bẩy được đất lên.
Anh thợ cày làm theo, đẽo nhỏ đi. Người thứ tư qua đường lại bảo:
- Ồ, cái bàn cày phải nghiêng hẳn về một bên thì lật đất mới dễ.
Anh ta lại làm theo. Cứ thế, người nào góp ý anh cũng đẽo lại, cuối cùng cái cày chỉ còn bằng cái đũa. (1)
Thời nay không ai đi đẽo cày kiểu đó, nhưng cũng còn nhiều người có quyền thì giao việc cho thư ký, trợ lý làm. Đến khi đó thì chủ kiến không còn nữa mà là ý của trợ lý, thư ký. Hơn nữa, có người thiếu tính chủ động, quyết đoán trong công việc nên ai nói cũng gật, cũng cho là phải. Vậy có khác gì đẽo cày giữa đường.
Theo Đi tìm điển tích thành ngữ của Tiêu Hà Minh
(1): Dựa theo truyện “Đẽo cày giữa đường” I và II, “Truyện cổ nước Nam” - Ôn Như Nguyễn Văn Ngọc, NXB Văn học, 2003.

banhdacua
15-05-2012, 03:20 PM
Một câu nói ngay bằng làm chay cả tháng: Nói ngay tức là nói thật, nói thẳng, không dối trá, cong queo. Làm chay cả tháng là làm đàn chay lâu cả một tháng trời. Theo đạo Phật, đạo Lão, khi trong nhà có người chết, người ta thường sắm sửa đồ lễ, bày đặt bàn trắng, thỉnh các sư đến cúng lễ, cầu trời Phật xá tội cho, để linh hồn người chết khỏi bị sa vào ngục, và người sống trong nhà được khoẻ mạnh sống lâu. Người ta tin rằng càng làm chay lâu, càng nhiều phúc.
Một câu nói ngay bằng làm chay cả tháng nghĩa là: một lời nói ngay thẳng, thật thà có khi gây nên phúc quả, tức kết quả tốt bằng làm dàn chay cả tháng. Một lời nói dối trá, có thể gây nên tội lỗi rất to, cả tháng làm chay cũng không gỡ được. Câu này ngụ ý khuyên người ta ăn nói nên thật thà.
Một chữ thánh, một gánh vàng: Chữ thánh là chữ của ông thánh, đây là chữ của đức thánh Khổng, tổ sư đạo nho. Gánh vàng là quí giá như một gánh vàng. Một chữ thánh, một gánh vàng là một lời của ông thánh, quí giá bằng cả một gánh vàng; hoặc phải tốn kém đến một gánh vàng, mới học được một chữ của ông cũng đáng. Đại ý câu này muốn nói sự học vô cùng quí giá.
Một con ngựa đau, cả tầu chê cỏ: Một con ngựa bị đau ốm, không ăn được cỏ, thì cả tầu ngựa (cái máng để chứa thóc, cỏ cho cả chuồng ngựa ăn) đều chê cỏ không ăn, ý nói loài vật có tình đồng loại, thấy một con đau thì cả đàn đều thương.

Một đêm nằm, một năm ở: Nằm đây là nằm trọ, nằm đỗ, ngủ đỗ dọc đường.
Ngày xưa, trật tự an ninh trong nước chưa được duy trì chặt chẽ cho lắm, ngủ đỗ dọc đường thường hay gặp nhiều nỗi nguy hiểm. Người ngủ đỗ thường nơm nớp lo sợ suốt đêm, chỉ mong cho trời sáng để thoát nạn. Cho nên người ta thấy một đêm nằm trọ dài bằng cả một năm ở nhà (Ở tức là ở nhà).
Một đồng không thông đi chợ: Ngày xưa, đường giao thông chưa mở mang tiện lợi như bây giờ. Chợ búa có ít mà phần nhiều là ở xa. Nếu không có việc cần thì ít khi người ta đi chợ, sợ mất ngày mất buổi, mất công mất việc và khó nhọc vào mình. Cần mua thứ gì, người ta thường gửi bà con hàng xóm mua giúp. Nhất là ít tiền thì người ta lại càng không muốn đi chợ. Bởi vậy có câu: một đồng không thông đi chợ, nghĩa là có một đồng tiền thì đi chợ không thông. Không thông là không suốt, không đủ. Có một đồng tiền đi chợ thì chỉ uống nước dọc đường cũng không đủ rồi. Người ta thường mượn câu này để nói việc nhỏ nhặt quá, không bõ đem ra chỗ trái phải.

Một giọt máu đào hơn ao nước lã: Người có họ với nhau là người chung máu mủ, chung một giòng máu, chung một huyết thống tổ tiên để lại. Một giọt máu đào nghĩa là chỉ chung nhau có một giọt máu thôi, có hơi hướng họ hàng với nhau, cũng còn hơn cả ao nước lã, tức là người dưng, không có họ. Câu này đề cao tinh thần gia tộc.

Một kho vàng không bằng một nang chữ: Một nang chữ là một túi chữ, đây là một bụng chữ, tức là sự học chứa chất trong lòng, trong óc người hay chữ.
Một kho vàng không bằng một nang chữ, vì rằng: kho vàng có thể bị cướp, trộm, đốt phá, hủy hoại, thất lạc mất, hoặc tiêu xài mãi có ngày hết đi. Còn sự học hành chứa chất trong bụng, thì không ai trộm cướp, hủy hoại được, không thể bị thất lạc và dùng mãi không bao giờ hết. Càng dùng túi chữ, càng được trau dồi thêm. Đại ý câu này muốn nói học vấn quí hơn của cải.

tbngoc
18-05-2012, 12:48 PM
Ác là là cha cà cưỡng

Ác là: tên một loài chim sống ở miền Bắc và Bắc Trung Bộ. Ác là lớn gần bằng con quạ, lông màu đen có khoang trắng ở ức, tiếng kêu “ác là, ác là… “ rất lớn.
Cà cưỡng: chim nhỏ như sáo, lông màu xám tro, lốm đốm đen, nuôi lâu có thể dạy nói được tiếng người.
Ác là cũng như cà cưỡng có chung thói quen là đẻ nhờ vào tổ chim khác chứ kô biết làm tổ riêng cho mình.
Ngụ ý câu này ám chỉ đến hạng người chỉ biết sống dựa vào người khác. Nói đến người cùng một giuộc với nhau.
ST

banhdacua
22-05-2012, 04:27 PM
Một lời nói, một gói tội: Một gói tội tức là nhiều tội lỗi, như có thể gói thành một gói. Một lời nói, một gói tội nghĩa là một lời nói ra, có thể gây nên nhiều tội lỗi. Thí dụ: Lời nói gièm pha, khiến người ta bỏ vợ bỏ chồng. Lời nói vu khống, khiến người ta tù tội mất nghiệp. Lời nói xấu, khiến người ta mất danh giá. Lời nói dối, khiến người ta bị thua lừa mắc lập v.v…
Lời nói ảnh hưởng rất to, có lời nói giữ được nước, có lời nói làm mất nước (nhất ngôn hưng bang, nhất ngôn táng bang). Có lời nói đáng quan tiền, thúng thóc. Có lời nói đáng dùi đục cẳng tay. Có lời nói gây nên phúc đức, có lời nói gây nên tội lỗi. Câu tục ngữ khuyên ta nên thận trọng lời ăn tiếng nói.
Một người hay lo, bằng kho người hay làm: Lo đây là lo liệu, tính toán, sắp đặt công việc đâu vào đấy, tức là có tổ chức.
Làm đây là thực hiện những điều đã tổ chức, sắp đặt. Một người hay lo bằng kho người hay làm nghĩa là một người có tài tổ chức công việc, đáng quí bằng cả một kho (tức đông lắm) người, chỉ biết nai lưng ra làm. Câu này đề cao giá trị và địa vị người chỉ đạo, đồng thời vạch rõ điều quan trọng của sự tổ chức việc làm. Cũng là để đề cao giá trị lao động trí óc và hạ thấp giá trị lao động chân tay.
Một miếng giữa làng, bằng sàng xó bếp: Một miếng giữa làng là một miếng thịt ăn ở giữa đình làng. Sàng xó bếp là cả sàng thịt ăn ở xó bếp. Câu này nghĩa là ăn một miếng ở đình trung, bằng ăn cả một mâm cỗ ở xó bếp.
Nước ta xưa rất trọng việc hương ẩm (ăn uống ở đình làng), phải là người có danh vọng, có chức vị mới được ngồi ăn ở đình trung, nên người ta mới cho là một miếng giữa làng có giá trị bằng cả một mâm cỗ ở xó nhà.
Một miệng kín, chín miệng hở: Một miệng là một người nói, hoặc nói với một người. Chín miệng là nhiều người nói, hoặc là nói với nhiều người. Câu này nghĩa là nói với một người, thì câu chuyện giữ kín được, đã nói với nhiều người thì câu chuyện sẽ hở, không giữ kín được nữa. Đại ý câu này khuyên người ta nếu muốn giữ kín chuyện gì, thì không nên nói cho nhiều người biết. Một đây trỏ (chỉ) số ít, chín đây trỏ số nhiều (chứ không nhất thiết phải là chín).
Ý nghĩa câu này cũng na ná ý nghĩa câu: một kín hai hở. Cũng có nơi nói: một người thì kín, chín người thì hở, ý nghĩa cũng thế.
Một quan mua người, mười quan mua nết: Người tức là cả thân thể lẫn sắc đẹp, mua có một quan tiền. Còn cái nết tốt, cái đức hạnh thì phải mua những mười quan tiền, ý nói đức hạnh quý giá hơn sắc đẹp, người quý về sắc đẹp thì ít, mà quí về đức hạnh, nết na thì nhiều.

Một sự nhịn là chín sự lành: Nhịn được một việc thì chín việc khác được yên lành. Nếu không nhịn được một việc, thì việc đó sẽ sinh ra nhiều việc lôi thôi. Chín sự lành là nhiều sự lành, chứ không nhất thiết phải là chín sự.
Đại ý câu này khuyên người ta nên nhịn nhục để khỏi sinh chuyện lôi thôi.
Mũ ni che tai: Xưa các cụ già bẩy mươi tuổi trở nên, được nhà Vua ban cho một thứ mũ bằng vóc nhiễu hay lụa thêu rất đẹp, hai bên có mảnh vải tua xuống che lấp hai tai. Kiểu mũ ấy tục gọi là mũ ni (có lẽ giống mũ của sư ni, bà sư hay đội), nên gọi thế.
Người ta thường dùng câu mũ ni che tai để nói rằng: không nghe chuyện đời, không chú ý đến việc đời nữa.
Mua danh ba vạn, bán danh ba đồng: Danh tiếng ở đời thì phải mua đắt tới ba vạn đồng mới mua được. Còn như bán danh tiếng đi thì rẻ lắm, chỉ bán được có ba đồng thôi.
Câu này ý nói muốn được danh thơm tiếng tốt thì khó, muốn mất danh tiếng thì chẳng khó gì. Muốn trở nên người tốt thì khó, muốn thành người xấu thì dễ.
Mua trâu bán chả: Khi mua thì phải bỏ món tiền to mua cả con trâu. Khi bán thì bán từng miếng chả, ý nói bỏ vốn ra buôn bán thì to, mà thu vốn về thì thu dần từng đồng.
Câu này đại ý nói bán hàng lẻ phải lâu mới thu được đủ vốn.
Mùa hè đóng bè làm phúc: Mùa hè khí trời nóng bức, các bệnh hay sinh ra, làm người ta ốm đau và chết được.
Nhất là thời xưa, chưa tổ chức việc tiêm thuốc để phòng bệnh dịch tễ, mùa hè phần nhiều có bệnh dịch, làm lắm người chết oan. Người thời xưa thấy người chết thì cho là tại số mệnh hoặc do ít phúc đức, chớ không cho là tại không có thuốc chữa, hoặc không biết phòng bệnh từ trước. Bởi thế, người ta khuyên nhau mùa hè nên làm phúc cho nhiều để khỏi chết. Đóng bè làm phúc là đóng sẵn bè để cứu người chết đuối. Ý nói cần phải làm nhiều việc phúc.
Múa rìu qua mắt thợ: Rìu là công cụ của thợ mộc, lưỡi bằng sắt, cán bằng gỗ, đầu bằng gỗ thò lên phía trên, dùng để “dã” gỗ (tức là đẽo vỏ và đẽo rác gỗ). Dùng được rìu phải là người thợ giỏi, vì dùng rìu rất khó, dùng vụng có khi đẽo cả vào bàn chân mình. Thợ đây là thợ mộc chuyên môn. Múa rìu qua mắt thợ nghĩa là mình không là thợ chuyên môn, mà lại dùng rìu (múa đây tức là giơ lên đẽo gỗ) trước mắt thợ chuyên môn, ý nói khoe tài trước người tài hơn mình, làm một việc liều lĩnh, táo bạo và ngốc dại.
Câu này ý nghĩa cũng na ná câu: “Đánh trống qua cửa nhà sấm”.

(st)

dangky
29-05-2012, 03:26 AM
中文是:礼轻情义重
礼轻情意重
  礼轻情意重
  【注音】lǐ qīng qíng yì zhòng
  【成语故事】 “千里送鹅毛”的故事发生在唐朝。 时,云南一少数民族的首领为表示对 王朝的拥戴,派特使缅伯高向太宗贡 献天鹅。
  路过沔阳河时,好心的缅伯高把 鹅从笼子里放出来,想给它洗个澡。 料,天鹅展翅飞向高空。缅伯高忙伸 手去捉,只扯得几根鹅毛。缅伯高急得顿足捶胸,号啕大 。随从们劝他说:“已经飞走了,哭 也没有用,还是想想补救的方法吧。 缅伯高一想,也只能如此了。
  到了长安,缅伯高拜见唐太宗, 献上礼物。唐太宗见是一个精致的绸 小包,便令人打开,一看是几根鹅毛和一首小诗。诗曰:“天鹅贡唐 ,山高路途遥。沔阳河失宝,倒地哭 号啕。上复圣天子,可饶缅伯高。礼 情意重,千里送鹅毛。”唐太宗莫名 妙,缅伯高随即讲出事情原委。唐太 宗连声说:“难能可贵!难能可贵! 里送鹅毛,礼轻情意重!”
  这个故事体现着送礼之人诚信的 贵美德。今天,人们用“千里送鹅毛 比喻送出的礼物单薄,但情意却异常 浓厚。
  【典故】兄弟,拜义如亲,礼轻 重,笑纳为幸。 元·李致远《还牢 》
  【解释】礼物虽然很轻,但情意 很深厚。
  【用法】作宾语、定语;指送礼
  【近义词】礼轻人意重
  【示例】让我替我自己说句混话 ,这叫做礼轻情意重。 清·吴趼人 糊涂世界》第十回

matbiec
29-05-2012, 09:32 AM
中文是:礼轻情义重
礼轻情意重


  礼轻情意重
  【注音】lǐ qīng qíng yì zhòng
  【成语故事】 “千里送鹅毛”的故事发生在唐朝。 时,云南一少数民族的首领为表示对 王朝的拥戴,派特使缅伯高向太宗贡 献天鹅。
  路过沔阳河时,好心的缅伯高把 鹅从笼子里放出来,想给它洗个澡。 料,天鹅展翅飞向高空。缅伯高忙伸 手去捉,只扯得几根鹅毛。缅伯高急得顿足捶胸,号啕大 。随从们劝他说:“已经飞走了,哭 也没有用,还是想想补救的方法吧。 缅伯高一想,也只能如此了。
  到了长安,缅伯高拜见唐太宗, 献上礼物。唐太宗见是一个精致的绸 小包,便令人打开,一看是几根鹅毛和一首小诗。诗曰:“天鹅贡唐 ,山高路途遥。沔阳河失宝,倒地哭 号啕。上复圣天子,可饶缅伯高。礼 情意重,千里送鹅毛。”唐太宗莫名 妙,缅伯高随即讲出事情原委。唐太 宗连声说:“难能可贵!难能可贵! 里送鹅毛,礼轻情意重!”
  这个故事体现着送礼之人诚信的 贵美德。今天,人们用“千里送鹅毛 比喻送出的礼物单薄,但情意却异常 浓厚。
  【典故】兄弟,拜义如亲,礼轻 重,笑纳为幸。 元·李致远《还牢 》
  【解释】礼物虽然很轻,但情意 很深厚。
  【用法】作宾语、定语;指送礼
  【近义词】礼轻人意重
  【示例】让我替我自己说句混话 ,这叫做礼轻情意重。 清·吴趼人 糊涂世界》第十回

Chào bạn Dangky, mình nghĩ bạn nên dịch ra tiếng Việt câu thành ngữ trên hoặc bạn đưa nó qua mục tiếng Hoa sẽ thích hợp hơn nhé! Cảm ơn bạn.

tbngoc
29-05-2012, 09:34 AM
礼轻情义重: của ít lòng nhiều

Hehe bon chen dịch đại, trúng kô trúng thì trật :D

yenminh0210
02-06-2012, 09:59 AM
<tbody>



Bàn tay có ngón ngắn ngón dài



<tbody>
Câu thành ngữ muốn nhắc nhở con người ta không nên đánh đồng tất cả cùng loại, tất cả giống nhau vì mỗi người mỗi vẻ, mỗi việc mỗi khác.

Chuyện kể:Xưa cái bàn tay sinh ra đã như bây giờ, cả năm ngón có ngón ngắn ngón dài.
Nhưng năm ngón tay thì cho thế là không công bằng nên cứ ấm ức, tị nạnh cãi cọ nhau mỗi ngày. Vì chúng không đoàn kết nên chẳng làm được việc gì, hễ bảo cầm cái gì là các ngón cứ rũ ra, chẳng bèn chụm lại.
Bàn tay giận lắm mới mắng chúng:
- Chúng mày là anh em, cớ ao tị nạnh cãi cọ nhau?
Chúng nói:
- Người ăn ở không đều, có năm anh em cùng sinh ra cùng giờ, cùng ngày, cùng tháng, cùng năm thế mà lại có đứa to, đứa nhỏ, đứa ngắn, đứa dài.
Bàn tay đem nỗi thắc mắc của chúng nói với người. Người không biết giải thích sao mới hỏi thần Tạo Hóa. Thần Tạo Hóa nói với người rằng:
- Xưa kia, thần Sinh Mệnh trình ta vậy, nên nó vậy, chứ ta cũng chưa tìm hiểu tỉ mỉ nó như như thế nào! Rồi thần Tạo Hóa bảo với người:
- Thôi được, nếu chúng muốn bằng nhau, thì bằng.
Thế rồi từ đó các ngón tay lại bằng nhau chằn chặn.
Từ ngày các ngón tay bằng nhau, cái bàn tay cứ trùng trục ra trông đến buồn cười. Khổ một nỗi là khi chúng bằng nhau rồi thì chả đứa nào chịu kém đứa nào, thành thử cứ ỳ ra, chẳng làm được việc, cầm cái gì rơi cái đấy.
Người thấy bất tiện quá mới mắng các ngón rằng:
- Chúng mày tị hiềm sinh chuyện. Tạo hóa sinh ra như thế là có quy luật chứ đâu theo ý riêng của chúng mày.
Các ngón tay thấy sai mới im thin thít.
Rồi người lại lên thần Tạo Hóa xin được cho các ngón tay to bé, dài ngắn như trước. Thần Tạo Hóa vốn là người am hiểu sự đời mới lại chấp nhận cho năm ngón tay của bàn tay ngắn dài, to, bé như xưa.
Người mới bảo bàn tay xòe ra, thấy các ngón lại dài ngắn khác nhau, mới phân tích cho chúng rõ về cái phận của mình:
- Chúng mày là anh em trong một bàn tay, nhưng mỗi đứa có một chức phận, mỗi đứa có một cái tên. Bây giờ nghe tao nói đây: Ngón to lùn là ngón Cái. Nó là anh, nó hỗ trợ các em để cầm, để nắm, hễ bóc cái gì thì bảo nó, tôn nó là anh cả. Ngón kế, dài thon hơn là anh hai. Khi chúng mày cụp xuống, nó ngỏng lên chỉ đường gọi là ngón Trỏ. Ngòn dài nhất có nhiệm vụ động viên phong trào, hô hoán bốn đứa kia cùng làm, ấy là ngón Giữa. Còn ngón thứ tư có dáng hình đẹp, vừa phải làm công việc như các anh, các em, còn phải làm duyên làm dáng cho cả bàn, ta đặt tên là ngón Đeo Nhẫn. Cuối cùng là đứa bé nhất, nhưng không có nó không thành bàn tay, đặt tên nó là ngón Út.
Từ bấy giờ, năm ngón tay không còn thay đổi nữa, chúng đều thấy thân phận của mình, mỗi khi bàn tay làm gì chúng đều răm rắp làm theo.
Trong xã hội, phận người ta cũng đã được định đoạt như các ngón tay, như là một sự sắp đặt của tạo hóa. Vậy nên cái sự suy bì thiệt hơn như các ngón tay hẳn là không nên. Bàn tay phải có ngón ngắn ngón dài, giống như người ta phải có người thế nọ, người thế kia.


Sự đời cũng giống người ta
Bàn tay năm ngón suy ra sự đời.

Theo Đi tìm điển tích thành ngữ của Tiêu Hà Minh


</tbody>


</tbody>

banhdacua
06-06-2012, 11:13 AM
Muốn ăn lúa tháng năm, xem trăng rằm tháng tám: Các cụ ta xưa thường nghiệm trăng rằm tháng tám, để biết sang năm nhiều mưa hay đại hạn, mà liệu chiều thời tiết làm mùa tháng năm. Cho nên nói: muốn vụ tháng năm năm sau được mùa, thì phải xem trăng rằm tháng tám năm nay để biết chiều trời mà làm ruộng cho thích hợp. Đại khái trăng trong thì được mùa chiêm, trăng đục, đỏ, quầng thì chiêm mất mùa

Mưa dầm thành lụt: Mưa dầm là mưa nhỏ lâm tâm, nhưng mưa sườn sượt dai dẳng, có khi hằng năm bẩy ngày. Mưa tuy không đổ nhiều nước một lúc, nhưng mưa lâu như vậy, tích ít thành nhiều, có khi nước mưa làm thành nước lụt.
Câu này đại ý nói việc nhỏ làm mãi cũng có ngày kết quả to, và ăn tiêu hoang phí nay một ít, mai một ít có ngày mất nghiệp.
Mưa lúc nào, mát mặt lúc ấy: Lúc nào mưa thì lúc ấy mát mặt, vì nước mưa tạt vào mặt. Lúc trời không mưa, thì mặt đành chịu nóng, chớ không tìm cách lấy nước rửa cho mát mặt. Câu này ngụ chê người không biết liệu trước lo xa, gặp sao hay vậy. Cũng có người may gặp trận mưa thì mát mặt, rủi không gặp mưa thì thôi. May thì thành công, chả may thì thất bại, mọi việc phó cho rủi may

Mừng như mở cờ trong bụng: Trong những ngày hội hè, đình đám vui vẻ nhộn nhịp, thì người ta mới mở cờ cắm ở cửa đình chùa. Thành ra sự mở cờ tượng trưng và biểu lộ sự vui vẻ. Mừng như mở cờ trong bụng là mừng vui quá, trong bụng như có hội hè đình đám.

Mừng như thấy mẹ về chợ: Trẻ con tính thích quà bánh. Nên mỗi khi đi chợ, mẹ thường phải mua quà bánh về cho con. Việc đó đã như thành lệ, nên mẹ đi chợ là trẻ rất mong mỏi mẹ về để được ăn quà, bánh. Đã có câu: “mong như mong mẹ về chợ…”.

Mười đời chưa rời cánh tay: Mười đời là họ mười đời, tứclà họ đã xa. Chưa rời cánh tay là chưa rời ra khỏi thân thể. Câu này nghĩa là họ nội dù xa đến mấy cũng vẫn là trong một họ, chớ không ra họ ngoài được. Đại ý câu này muốn khuyên người ta nên quí trọng người trong họ hàng, dù rằng họ xa đến mười đời cũng vậy. Ý nghĩa cũng gần như ý những câu: “Họ chín đời còn hơn người dưng”, “Một giọt máu đào hơn ao nước lã” , hay “máu loãng hơn nước lã”.

Mưu thâm họa việc thâm: Mưu sâu thì vạ cũng sâu. Ý nói người ta bày mưu mẹo hại người càng sâu độc bao nhiêu, thì kết cục phải chịu tai vạ sâu độc bấy nhiêu. Câu này nêu luật nhân quả của đạo Phật (gieo cái nhân nào thì gặt cái quả ấy, làm lành thì gặp lành, làm ác thì gặp ác). Ngụ ý câu này khuyên người đời không nên dùng mưu kế để làm hại người khác. Vì câu này mà có câu: tham thì thâm. Bụt đã bảo thầm rằng chớ có tham. Bụt đã kín đáo hay gián tiếp (bảo thầm), dậy ta rằng hễ tham lam hại người, thì chính mình sẽ phải chịu tai họa sâu thâm về việc tham lam ấy. Vậy ta chớ có tham lam.

banhdacua
11-06-2012, 09:46 AM
Ngựa chạy có bầy, chim bay có bạn: Bầy là đàn là lũ. Ngựa chạy có bầy thì mới thi nhau chạy khoẻ. Chim cũng vậy, có bay với bầy bạn thì mới đua nhau bay cao. Câu này lấy vật ra làm thí dụ, ngụ ý khuyên người đời: làm việc gì cũng cần có bầy có bạn thì mới nô nức thi đua mà làm.

Ngựa con sáo đá: Nói thế là nói sai. Phải nói thế này mới đúng: “Ngựa con háu đá” nghĩa là con ngựa còn bé thì loăng quăng, nghịch ngợm, háu đá, gặp đâu đá đấy, cứ đá bừa đi. Câu này thường dùng để nói người trẻ tuổi, lấc cấc, ăn nói không chín chắn, giữ gìn, bạ đâu nói đấy, khiến người ta mếch lòng, cũng giống như con ngựa con háu đá vậy.

Ngựa Hồ gió bấc: Ngày xưa, dân tộc tiểu số Hồ ở phía Bắc nước Tàu, phải đem ngựa tốt tiến cống vua Tàu. Mỗi khi nghe gió bấc thổi, giống ngựa Hồ lại hí lên những tiếng rất là thê thảm. Người ta cho là ngựa tỏ ý nhớ quê hương. Vì gió bấc thổi từ phương Bắc xuống. Mà phương Bắc có nước Hồ.
Câu: “Ngựa Hồ gió bấc” và câu “chim Việt cành Nam”, thường được nêu ra, để nói bóng rằng người ta ai cũng có lòng yêu quê hương xứ sở (vật còn có lòng luyến tiếc quê hương nữa là loài người).
(Người) có chí (ắt) phải nên, (nhà) có nền (ắt) phải vững: Chí tức là ý chí, cái quyết tâm làm kỳ được một việc gì.
Nên tức là thành sự, là nên việc, là thành công, là thu được kết quả theo ý muốn. (Cụ Nguyễn Trãi có câu: Hễ làm người có chí thì nên. Tục ngữ có câu: Tay trắng làm nên, ăn nên nói nổi. Nên trong các câu đó đều nghĩa như trên, nên ở đây là thành công, nên việc). Nền tức là khoảng đất đắp cao để làm nhà cửa lên chốc. Nhà không có nền, là làm nhà ngay trên mặt đất, mặt đất không được đắp cao lên thành nền nhà. Làm nhà không có nền thì không vững, vì mặt đất tự nhiên thường thấp ngang với mặt đường, mặt vườn, mặt ruộng. Những khi trời mưa to tất nước chảy qua nhà hoặc đọng lại trong nhà, nhà bị ẩm ướt, như vậy không mấy chốc nhà đổ xập. Nền ở đây hàm ý là nền móng khi đắp nền nhà, người ta thường vẽ móng nhà và nền móng, nhà kỹ hơn là nền nhà. Móng là chỗ xây tường lên trên, phải nện kỹ, vì sợ đất lún, tường sẽ xiêu đổ. Ắt dịch nghĩa chữ tất của Tàu, nghĩa là tất nhiên, nhất định.
Người sống đống vàng: Người ốm cốt sao thuốc thang chữa chạy cho sống được là may, dù tốn kém bao nhiêu tiền của cũng không nên tiếc. Người còn là của còn, người chết là của hết, vì người làm nên của. Hễ người sống được là tự nhiên rồi sẽ có cả một đống vàng.
Câu này đại ý đề cao giá trị và sức làm việc của con người.

yenminh0210
12-06-2012, 10:08 AM
Chuột sa chĩnh gạo
Câu thành ngữ ý nói may mắn gặp được nơi sung sướng, đầy đủ một cách tình cờ, ngẫu nhiên, ví như chuột lọt được vào chĩnh đựng gạo, tha hồ mà ăn không phải khổ công tìm kiếm hàng ngày.

Chuyện kể:Đời xưa, chuột vốn là giống linh thiêng ở trời, trời giao cho chìa khóa giữ kho lúa. Lợi dụng quyền hành, chuột thường đến kho, mở khóa rả rích ăn bao nhiêu là thóc, trấu còn lại vương khắp kho.
Trời biết, lấy làm giận, bèn đuổi chuột xuống hạ giới. Nó khấn trời từ nay không dám ăn thóc nữa. Trời cứ tưởng nó ngứa răng, hạt thóc lại có trấu, nó mới cắn, còn cái khác thì nó không ăn, nên thương tình cho nó giữ chĩnh gạo của trần gian. Khi được giao việc, chuột sướng quá, vắt chân chữ ngũ giữa chĩnh gạo mà rung đùi. Cái thói ăn tham một mình không đành, nó còn rủ cả đàn, cả lũ đến ăn vô kể. Vì gạo không có trấu, nên chúng ăn không để lại dấu tích, lúc đầu người không phát hiện ra, chỉ khi cạn kiệt dần mới biết. Người tức giận tâu lên vua Bếp. Vua Bếp bắt chuột lên trả trời và tâu rằng:
- Từ khi Ngọc Hoàng cử thằng chuột đến canh chĩnh gạo cho người, dân ngày càng đói kém đi, bếp nổi lửa ít. Tại thằng chuột này cả. Nó ăn vụng gạo dữ lắm, cứ đà này thì dân chết đói hết.
Chuột cãi:
- Trước đây bảo tôi ăn vụng thóc, tôi chịu vì có trấu làm dấu tích. Giờ bảo tôi ăn vụng gạo, lấy bằng chứng đâu?
Vua Bếp và trời không có bằng chứng bỏ tù nên đành thả nó về trần gian, nhưng cho con mèo xuống để canh gác. Từ bấy, nó cũng không được giữ chìa khóa chĩnh gạo nữa và lại sợ mèo, nên nó không được ăn gạo thỏa thuê như trước đây mà chỉ rình khi vắng người, vắng mèo, ra ăn trộm vài ba hạt thóc lúa, ngô, khoai mà thôi.
Tuy vậy nó vẫn chờ dịp để lại được giao giữ chìa khóa chĩnh gạo của người.(1)

Chuột sa chĩnh gạo ở đây là nói người. Chuyện chuột sa chĩnh gạo đâu mà chẳng có. Nhưng điều may đến với một số người dốt nát, lười biếng do dựng nhau lên, do xếp đặt, cứ ngồi đó mà hưởng lộc, sống chết mặc bay, dân tình đói kém thì khác chi loài chuột bọ gặm nhấm.
Theo Đi tìm điển tích thành ngữ của Tiêu Hà Minh - NXB Thông tấn
(1): Dựa theo truyện “Chuột và mèo", “Truyện cổ nước Nam” - Ôn Như Nguyễn Văn Ngọc, NXB Văn học, 2003.

yenminh0210
13-06-2012, 10:12 AM
Cá chậu chim lồng
Câu thành ngữ ám chỉ cảnh sống bó buộc, tù túng, mất tự do.
Chuyện kể:Ngày xưa, có một nhà giàu nọ rất chơi thích chơi chim cảnh. Người nhà giàu thường nhốt chim sáo trong lồng treo trước cửa nhà để mua vui. Rồi một ngày, người nọ lại bắt được một con cá vàng, bèn thả vào chậu đặt cạnh lồng chim để làm cảnh. Ngày ngày, người chủ đem thức ăn đến cho chim và cá, cốt để thưởng thức tiếng hót của chim, dạy chim nói tiếng người và xem cá lượn lờ tung tăng trong chậu.
Một hôm, người chủ đi vắng, con cá nói với con chim rằng:
- Chị còn sung sướng nỗi gì mà còn nhảy nhót liên hồi, lại còn líu la líu lô. Chị có biết chị đang ở đâu?
Thấy con cá cùng cảnh ngộ bắt chuyện, con sáo mới giãi bày:
- Tôi thấy chị cứ lượn lờ bơi quanh cái chậu, còn nhởn nhơ nỗi gì, tôi thấy ấm ức cho chị lắm thay. Còn tôi, trước đây, sống ở trời đất bao la rộng bằng ngàn, bằng vạn chiếc lồng. Vườn là rừng, sông suối chỗ nào tôi cũng biết. Tôi muốn bay, muốn đậu, mặc sức, rồi líu lô suốt ngày trên vách đá cùng họ hàng chim muông. Giờ đây bị nhốt trong lồng, muốn đạp mà ra, tôi có hót là hót cho đỡ nhớ rừng, nhớ đàn, chứ nào có sung sướng gì.
Lúc ấy cá mới nói:
- Tôi và chị cùng chịu chung số phận. Tôi sống ở sông. Sông nước mênh mông, họ hàng nhà cá chúng tôi từng đàn lượn tung tăng, đến ngày con nước trẩy hội đông vui. Tôi nhớ sông, nhớ đàn mà quẫy quanh nơi thành chậu, để mà vươn ra chứ đâu có nhởn nhơ nỗi gì.
Một con mèo suốt ngày rình bên chậu nước và chiếc lồng, chỉ chờ thời cơ cá nhảy ra khỏi chậu là ngoạm lấy, rồi tìm cách thò tay vào lồng mà tóm ngọn con chim, nghe thấy chúng than thở với nhau, đành góp lời vào:
- Khổ thân cho chúng mày. Cá chậu chim lồng. Số phận đã run rủi vậy, con than vãn nỗi gì.

Cảnh đời không gì khổ hơn, nguy hiểm hơn cảnh “cá chậu chim lồng”, đã bị nhốt ở nơi chật hẹp lại bị đối xử không ra gì, số phận không biết đâu mà lường, sống chết không biết đâu mà tránh.


Ai ơi cá chậu chim lồng
Một ngày bằng cả năm gông ngồi tù
Ấy nên ngay cả con chim, con cá cũng muốn tự do, huống hồ là con người.
Theo Đi tìm điển tích thành ngữ của Tiêu Hà Minh

yenminh0210
16-06-2012, 10:03 AM
Giậu đổ bìm leo

Câu thành ngữ có ý muốn nói đến việc lợi dụng người ta gặp điều không hay hoặc khó khăn, hoạn nạn để lấn lướt, áp đảo.

Chuyện kể:
Hàng giậu không biết có từ bao giờ, cứ sừng sững đứng bao lấy khu vườn. Nó hãnh diện ca ngợi đôi tay khéo léo của người vì đã cắm chặt nó xuống đất, lại lấy lạt buộc chúng vào với nhau nên tin rằng chẳng bao giờ bị đổ.
Cạnh giậu có cây bìm bìm mấy lần cố ngóc cái đầu để rồi bám vào bờ giậu, hòng dựa vào đó mà leo cao một chút mong hưởng chút ít ánh nắng trời. Nhưng mỗi lần như thế, hàng giậu lại tỏ ra bực bội, không muốn cho bìm bìm phủ kín cả hàng giậu nhà mình. Vì vậy nó mách người, nó bảo:
- Bìm bìm nó sắp lấn át hàng giậu của chúng tôi. Nếu chúng tôi đổ thì chó gà vào phá hết rau.

Người nghe nó nói thế cho là phải mới phạt bìm bìm không leo lên hàng giậu nữa. Nhiều lần như thế, bìm bìm tức lắm.
Rồi thời vụ cũng qua đi, người ta thu hoạch hết rau trong vườn, không còn ngó ngàng gì đến hàng giậu. Hàng giậu đứng đấy chịu nắng khô nỏ, giờ lại bị nước mưa làm mục hết chân. Một đêm, mưa to gió lớn đùng đùng, hàng giậu bỗng xiêu vẹo. Nó nghiêng ngả xuống gần cây bìm bìm. Vụ khô hanh qua đi, giờ được nước, bìm bìm phởn phơ hẳn lên, nó thấy hàng giậu nghiêng xuống mới bám vào. Lúc đầu còn một vài dây, sau thì mấy dây khác cũng hùa nhau bám vào, làm cái giậu bị nặng quá nghiêng hẳn xuống. Cả họ nhà bìm bìm lúc đấy được đà mới nói với hàng giậu:
- Xưa giậu hắt hủi họ bìm bìm nhà ta, lúc ta cần thì chẳng cho nương tựa, giờ giậu nhà ngươi đổ kêu người nào có thấy ai. Không là hàng giậu ngăn chó, ngăn gà thì cứ để họ nhà ta leo lên, dẫu sao cũng còn có ích.

Cái sự tự nhiên là loại cây dây leo bao giờ cũng cần nương tựa vào tường, giậu hay cây khác để vươn ra ánh sáng để mà tồn tại. Cây bìm bìm là loại cây dây leo, sống dai và sức vươn mạnh mẽ. Cũng từ đặc tính này mà có câu chuyện trên, từ đó người ta liên tưởng vào cuộc sống, ám chỉ khi ai đó gặp khó khăn, hoạn nạn thì kẻ khác lợi dụng, lấn át nhằm hại thêm hoặc kiếm chác một chút gì đó. Quả thật là cuộc đời phù thịnh, ít phù suy.
Theo Đi tìm điển tích thành ngữ của Tiêu Hà Minh

banhdacua
26-06-2012, 01:07 PM
Nhà ngói cây mít: Người ta thường hiểu lầm nhà ngói làm bằng gỗ mít, hoặc nhà ngói có trồng cây mít.
Thật ra không phải thế. Nhà ngói cây mít tuy nói liền nhau, song hai phần riêng biệt. Nhà ngói là khi làm nhà thì làm nhà ngói hoặc có nhà ngói thì nên làm, vì ngói bền lâu, chắc chắn, làm một lần thì trong bao nhiêu năm mới phải chữa. Cây mít là khi trồng cây thì trồng cây mít, vì mít trồng một lần thì được ăn quả mãi, trăm năm cây vẫn chưa còi. Nhà ngói cây mít thường dùng để trỏ (chỉ) chung cái cơ sở vững chắc của nhà giầu ở nhà quê (phú quê).

Nhà trò giữ dịp (nhịp): Nhà trò tức là ả đào (tiếng cổ). Dịp tức là dịp phách. Trong cuộc hát ả đào, thì đàn của kép (người đàn ông) và phách của đào (cô đào) phải ăn nhịp với nhau. Lỡ khi hát mau quá, đánh phách mau quá, thì đào phải ngừng bớt dịp phách lại, cầm chừng để đợi dịp đàn, thế gọi là giữ dịp. Người ta thường mượn câu này để nói sự buôn bán cầm chừng chờ đợi cơ hội, không dám phát triển vội, sợ lỡ dịp bị thua lỗ.

Nhân hiền tại mạo: Nhân là người. Mạo là dung mạo, tức nét mặt.
Nhân hiền tại mạo là người hiền hậu, tử tế thì hiện ra nét mặt. Tinh thần người ta lộ ra nét mặt, muốn biết người hiền hay ác cứ nhìn nét mặt là đủ. Người tướng mạo gian ác, dù dùng lời nói khéo, dáng điệu nhũn nhặn, cũng không thể che mắt thiên hạ được. Tuy nhiên, ta cũng chớ nên quá tin ở tướng mạo bên ngoài. Thường thường thì: “khôn ngoan dồn ra nét mặt, con lợn có béo thì lòng mới ngon”. Nhưng cũng có người ngoài mặt coi hiền lành tử tế, mà trong lòng thì độc địa thâm trầm, cho nên có câu “Mặt sứa gan lim” và câu “tướng diện bất như tướng tâm”, nghĩa là xem tướng mặt không bằng xem bụng dạ.

Nhân vô thập toàn: Người không ai hoàn toàn cả mười phần, ý nói người ta ai cũng có nết tốt nết xấu cả, ai cũng có ưu điểm và nhược điểm.
Ta không nên dựa vào câu này để tự tha thứ cho những lỗi lầm, những khuyết điểm mình còn mắc. Trái lại, nên công nhận câu này là đúng, để tự nhận rằng dù thông minh, tài trí đến bực nào ta cũng chưa thể hoàn toàn được, ta vẫn cần phải sửa chữa những lỗi lầm, những khuyết điểm của ta, ta vẫn cần nghe những lời phê bình hay răn bảo của người khác. Cổ nhân nêu câu này là nhằm mục đích sửa chữa cho người ta đến chỗ hoàn toàn, chớ không cốt để cho người ta một ngày một xấu thêm, một ngày một thêm khuyết điểm.

Nhập gia tùy tục, đáo giang tùy khúc: Nhập gia tùy tục là vào nhà người ta, thì theo lề thói nhà người ta (vì mỗi nhà có một lề thói khác nhau).
Đáo giang tùy khúc là tới sông nào, thì theo khúc của con sông ấy (vì mỗi con sông có những khúc cong queo khác nhau). Câu này khuyên người ta uốn mình cho thích ứng (hợp) với hoàn cảnh từng nơi, ý nghĩa cũng tương tự ý nghĩa câu: “đi nước Lào, ăn mắm ngoé”.

(st)

banhdacua
06-07-2012, 11:41 AM
Nhất con nhì cháu, thứ sáu người dưng: Người dưng là người ngoài, người không có bà con họ hàng với mình. Nhất con nhì cháu là quí nhất là con mình đẻ ra, quí thứ nhì đến cháu mình. Thứ sáu người dưng là người dưng có được quí trọng, thì cũng quí trọng vào hàng thứ sáu, nghĩa là còn kém con cháu rất xa.

Nhất thế tụng, tam thế thù: Nhất thế là một đời, người Tàu xưa định thời gian một thế là 30 năm. Tụng là kiện tụng. Tam thế thù là thù nhau ba đời.
Nhất thế tụng, tam thế thù nghĩa là một đời kiện nhau (tất có bên thua, bên được kiện), thì thù oán nhau đến ba đời. Câu này khuyên người ta không nên kiện tụng, để tránh mối oán thù truyền kiếp.

Nhất tội, nhì nợ: Có tội thì van lạy, nói khó nói khăn thế nào cũng vẫn phải đền tội. Có nợ thì van lạy, nói khó nói khăn cũng vẫn phải trả nợ.
Cho nên người ta cho ở đời khổ nhất là bị tội, rồi đến mắc nợ. Câu này ngụ ý than phiền về nỗi khổ sở của người vay nợ. Đồng thời có ý khuyên người ta không nên làm điều bậy bạ để khỏi mắc tội, không nên ăn tiêu phung phí để khỏi mang nợ.

Nhờ gió bẻ măng: Ngày xưa ở thôn quê ta, để bảo vệ lũy tre, người ta thường khoán lệ cấm bẻ măng, ai phạm vào khoáng lệ của làng sẽ bị bắt vạ (tức là bắt phạt). Vì vậy nên người manh tâm thường hay nhờ cơn gió bão để bẻ trộm măng. Bẻ trộm măng vào những khi gió bão, thì chắc chắn sẽ tránh khỏi vạ, người ta có thể cho là gió bão đã làm gẫy măng, chớ không cho là có kẻ bẻ trộm.
Người ta thường dùng câu này để nói người lợi dụng cơ hội hay tình thế để mưu lợi ích riêng.

Như mèo thấy mỡ: Mèo xưa nay hay ăn mỡ. Mèo thấy mỡ thì thèm thuồng tìm đủ mọi cách để ăn được mới nghe.
Như mèo thấy mỡ tỏ ra thèm thuồng quá, chỉ lăm le chực vồ lấy.

yenminh0210
09-07-2012, 10:15 AM
Ruột để ngoài da
Câu thành ngữ chỉ người vô tâm vô tính, bộp chộp, không giấu ai điều gì.
Chuyện kể:

Thuở ấy, ở Thiên đình, các quả đào cứ đến độ chín đều được biến thành cô tiên bay ra nô đùa thỏa thích trong vườn.

Một hôm Thái thượng Lão quân trông coi vườn đào gặp một cô tiên tay xách làn xinh xắn, bay lả lướt trong vườn mà thấy lòng mình rạo rực, bèn lại gần bắt chuyện. Vì say đắm cảnh sắc lại thêm những lời tình tứ nên cả hai quên hết những điều luật Thiên đình. Thái thượng Lão quân thì kể cho nàng tiên nghe bao chuyện về Pháp đình, còn nàng tiên thì cũng chẳng giấu giếm gì những điều ong bướm trong vườn đào.

Họ cứ thế đùa chơi, lả lơi nồng thắm, cho đến khi hoàng hôn buông xuống mới sực nhớ ra. Thái thượng Lão quân thì vội lui về dinh thự của mình, còn nàng tiên thì chỉ trong chốc lát nhập vào quả đào thắm.
Nhớ buổi hàn huyên hôm qua, nên sớm hôm sau, nàng tiên lại từ quả đào bay ra. Lòng dạ xốn xang nên nàng tiên không sao giấu kín được nỗi niềm bèn tụ tập các nàng tiên lại rồi thao thao kể về chuyện pháp đình đến chuyện ong bướm mà hai người đã kể cho nhau nghe suốt một buổi.

Một miệng đâu đã kín, thế mà ở vườn hôm đó có chín mười miệng, nên chuyện ấy lan đi nhanh chóng. Ngọc Hoàng hay tin, cho rằng Thái thượng Lão quân để lộ thiên cơ chỉ vì ong bướm lả lơi, nên ra lệnh truất chức vụ trông coi vườn đào của Lão quân, cho đi coi chuồng ngựa. Còn nàng tiên nọ chuyện cứ oang oang, gặp đâu nói đấy nên Ngọc Hoàng phán rằng:

- Ngươi không giữ khuôn phép nhà trời, ruột để ngoài ra, thiếu chín chắn. Từ nay ngươi không được làm quả đào trong vườn nhà trời nữa. Cho ngươi xuống hạ giới nhập vào thứ cây quả hợp với lòng dạ của ngươi.

Nói đoạn, cây đào và quả đào nọ tự nhiên biến mất. Sau này, ở hạ giới, thấy xuất hiện một cây có trái, nhưng hột lại bám ở phía ngoài. Đồn rằng đó là cây đào nọ mà Ngọc Hoàng bắt phạt xuống trần gian. Người ta bảo hột nó để ngoài da, mới đặt tên cho nó là cây đào lộn hột. Ngày nay, nhiều vùng gọi nó là cây điều.


Đặc điểm của quả đào lộn hột là hột nằm bên ngoài, lộ ra. Có thể vì thế mà dân gian liên tưởng ví hột như ruột vậy.
Truyện trên kể về cô tiên lữ từ quả đào mà ra, nhưng chính là nói người . Phần nhiều “ruột để ngoài ra” thường được gán cho người phụ nữ, nên có câu:

Đàn ông nông nổi giếng khơi
Đàn bà sâu sắc như cơi đựng trầu.
Ở đây có cái đáng chê và cái đáng khen. Cái chê là vạch áo cho người xem lưng, nói toạc móng heo ra, cái khen là người bộc tuệch, thực bụng, có sao nói hết.

Theo Đi tìm điển tích thành ngữ của Tiêu Hà Minh

banhdacua
16-07-2012, 10:55 AM
Ơn ai một chút chớ quên,
Phiền ai một chút để bên cạnh lòng: Chịu ơn ai một chút cũng chớ nên quên ơn. Phiền lụy nhờ vả ai một chút cũng phải nhớ để cạnh lòng.
Đại ý câu này khuyên người ta nên nhớ công ơn những người đã giúp đỡ mình, bất cứ là việc to nhỏ.
Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài: Ở trong quả bầu thì phải uốn mình theo hình tròn, ở trong cái ống thì phải theo chiều dài. Ý nói ở hoàn cảnh nào, phải cư xử theo hoàn cảnh ấy.

Ở chọn nơi, chơi chọn bạn: Ở nên chọn nơi mà ở. Vì có chỗ ở tiện lợi cho việc buôn bán làm ăn, có chỗ ở gần láng giềng tốt. Có chỗ ở không tiện cho việc đi lại làm ăn, có chỗ ở gần kẻ gian tham trộm cướp, bất lợi cho mình.
Chơi nên chọn bạn mà chơi. Vì có bạn giúp ích cho mình, có bạn làm hại mình. Câu này khuyên người ta nên chọn láng giềng mà ở, chọn bạn mà chơi, để khỏi nhiễm phải thói hư nết xấu và khỏi bị vạ lây.
Ở đâu âu đấy: Ở chỗ nào thì yêu mến chỗ ấy. Âu tức là yêu nói trạnh đi. Khi nói chuyện trẻ thơ, người ta hay nói “Âu” tức là yêu. Trong truyện Kiều có câu: “Càng âu duyên mới càng đào tình xưa”. Âu duyên mới tức là yêu tình duyên mới.
Ca dao có câu: “Ngày xưa anh bủng anh beo, tay cất chén thuốc tay đèo múi chanh. Bây giờ anh đỏ anh lành, anh âu duyên mới anh tình phụ tôi”. Âu tức là yêu. Nghĩa ấy thấy trong thành ngữ âu yếm.
Ở gần nhà giầu, đau răng ăn cốm: Nghèo đã khổ rồi. Ở gần nhà giầu, nhà nghèo càng cảm thấy khó chịu, như người đau răng mà lại còn phải ăn cốm, giắt răng, khó chịu gấp hai lần. Câu này bỏ đoạn trót. Lẽ ra phải nói đầy đủ như thế này: “Ở gần nhà giầu, đau răng ăn cốm. Ở gần kẻ trộm, ốm lưng chịu đòn”. Gần kẻ trộm cũng khó chịu, đau đớn, như người đã ốm, lưng lại phải đánh đòn.

Ở nhà nhất mẹ nhì con,
Ra đường chán vạn kẻ dòn hơn ta: Dòn tiếng cổ, nghĩa là xinh đẹp, như đen dòn là đen mà đẹp. Ở nhà chỉ có mẹ và con, nên người ta thường cho mẹ là đẹp nhất, rồi nhì đến con. Đến khi ra đường, tức ra ngoài xã hội, thì mới nhận thấy không biết bao nhiêu là người đẹp hơn mẹ con nhà mình. Câu này đại ý riễu (chế diễu) những kẻ cậy thần cậy thế, cho mình là nhất ở một địa phương nào đó, và cũng là lời chế riễu những kẻ mới được một vào người khen, đã vội tự kiêu.

banhdacua
17-07-2012, 10:15 AM
Phải ai tai nấy: Người ta đánh phải ai, hoặc tai nạn xẩy ra cho ai, thì tai họa riêng cho người ấy.
Câu này ý nói ai gặp nạn thì người ấy thiệt thân, người ngoài không ai chịu giúp.

Phú quí sinh lễ nghĩa: Phú quí là giầu có, sang trọng. Lễ nghĩa là những điều ăn ở hợp với nền nếp đạo đức do thánh hiền nêu ra.
Phú quí sinh lễ nghĩa là giầu sanh đẻ ra lễ nghĩa. Ý nói người ta có giầu sang, thì mới ăn ở theo đúng lễ nghĩa được. Nghèo hèn thì dù biết rõ thế nào là lễ nghĩa, cũng không thể theo, vì thiếu điều kiện. Ý nghĩa câu này cũng na ná ý nghĩa những câu: Có tiền khôn như mài mại. Không tiền dại như đòng đong. Hoặc: Cái khó bó cái khôn. Hay: Bụng tỉnh mình gầy.

Phúc đức tại mẫu: Tại mẫu là tự người mẹ, do người mẹ.
Phúc đức tại mẫu là người con được hưởng sự phúc đức, sung sướng là do người mẹ đã làm việc phúc đức. Hay là: Người con ăn ở phúc đức, tử tế là tại người mẹ đã khéo dạy dỗ và làm gương cho con. Đại ý câu này muốn nói, con chịu ảnh hưởng của mẹ hơn là của bố. Ý nghĩa cũng gần như câu: “con nhờ đức mẹ”.

banhdacua
21-07-2012, 10:24 AM
Quá mù ra mưa: Mù đây là sương mù. Quá mù ra mưa nghĩa đen là sương mù xuống nhiều quá, thành ra mưa.
Nghĩa bóng câu này thường được dùng để trỏ (chỉ) sự đùa mà hóa thật, và nhất là theo nghĩa này: giấu giếm mãi sau vỡ lở ra ai cũng biết, lại chả giấu giếm gì.

Quan tám cũng ừ, quan tư cũng gật: Quan tám là một quan và tám tiền (quan gồm 10 tiền, trung bình mỗi tiền là 60 đồng, một quan là 600 đồng).
Quan tư là một quan và bốn tiền. Quan tám cũng ừ, quan tư cũng gật là người ta trả cho quan tám cũng bằng lòng, mà trả cho quan tư cũng nhận, ý nói không có chủ định (như nhà buôn không có giá nhất định). Hoặc người ta bảo nộp quan tám cũng vâng, bảo nộp quan tư cũng gật, ý nói hoàn toàn thụ động, không có chủ kiến gì. Người ta thường dùng câu này để tả người hiền lành đần độn.

Quan xa, bản nha gần: Quan là ông quan. Bản nha là bàn giấy ông quan hoặc nhân viên làm việc nơi bàn giấy đó.
Ông quan thường ít khi trực tiếp giao thiệp với dân nên gọi là xa. Mọi việc đều do bản nha giao thiệp với dân, cho nên gần dân. Đại ý nói quan thì xa nên không sợ bằng bản nha. Hoặc người ta phải xử tử tế với nha lại hơn là đối với ông quan. Câu này nêu cái thế lực của nha lại đối với nhân dân thửa xưa.

Quen mui thấy bùi ăn mãi: Mui tức là mùi nói trạnh đi. Mùi đây là vị thức ăn.
Bùi là ăn dòn, ngon và không béo (như ăn thịt nạc, ăn đậu phụng). Quen mui thấy bùi ăn mãi nghĩa là quen mùi rồi, thấy thức ăn ngon bùi thì cứ tì tì ăn mãi. Nghĩa bóng câu này có ý nói thấy có lợi thì đào sới mãi, thấy dễ xoay tiền thì nặn bóp không tha.

Quen sợ dạ, lạ sợ áo: Quen nhau, thì sợ cái bụng dạ ăn ở tốt với nhau. Không quen nhau, thì sợ nhau ở cái áo mặc sang trọng, tức là sợ nhau ở cái bề ngoài.
Câu này đại ý nói đối với người quen biết thân mật, thì chỉ cốt có cái bụng dạ cư xử với nhau. Đối với người lạ thì cần phải trưng cái lá mặt hào nhoáng bên ngoài.

Quen việc nhà nạ, lạ việc nhà chồng: Nạ tiếng cổ nghĩa là mẹ.
Quen việc nhà nạ, lạ việc nhà chồng nghĩa là con gái thường quen công việc nhà bố mẹ đẻ (vì ở với cha mẹ từ bé chí lớn), mà lạ lùng bỡ ngỡ đối với công việc nhà chồng (vì mới về làm dâu).

Quít làm cam chịu: Quít với cam là hai loại quả khác nhau. Nhưng mã ngoài coi có chỗ hơi giống nhau, người vô ý có khi lẫn quít ra cam.
Quít làm cam chịu là quít hành động mà cam chịu trách nhiệm, có ý nói cam bị lỗi oan, vì có sự lầm lẫn. Người ta thường mượn câu này để nói việc bị vạ lây.

Quyền rơm, vạ đá: Quyền thì bé như sợi rơm, vạ thì nặng như hòn đá. Ý nói quyền hành thì nhỏ mà trách nhiệm thì to, như quyền hành trách nhiệm các hương chức nước ta ngày trước.

yenminh0210
24-07-2012, 09:47 AM
Gan cóc tía
Câu thành ngữ chỉ sự gan góc, lì lợm, dám đương đầu với thế lực lớn hơn. Người nào không biết sợ hiểm nguy ta ví người đó có gan, gan như cóc tía.
Chuyện kể:
Có một con cóc tía bé nhỏ ở một vùng nọ, rất tức vì thấy cọp chuyên ỷ thế bắt nạt các con thú hiền lành. Một hôm gặp cọp, cóc tía nói:

- Con cọp kia, mày có biết tao là ai không? Tránh ra cho tao đi không tao xé xác bây giờ.

Cọp nhìn hình thù bé nhỏ, xấu xí của cóc tía bèn hỏi:

- Mày là ai mà dám hỗn xược với chúa sơn lâm ta thế hả.

Cóc tía nói:

- Mày không biết tao à? Tao là Cậu ông Trời đây. Đừng có lôi thôi. Cút đi!

Cọp tức quá, hét to:
- Đồ oắt con, mày hãy thi tài với ta, xem ai hơn nào.
Cọp đòi thi nhảy, cóc bảo:

- Được, tao chấp mày đứng trước, tau đứng sau, cả hai cùng nhảy.
Cọp đứng trước. Khi nhảy bao giờ cũng quật đuôi mấy cái để lấy đà. Cóc bèn ngậm chặt vào đuôi cọp, khi cọp quật đuôi, cóc văng xa. Cọp nhẩy đến đã thấy cóc ở phía trước, xa hơn mình thì phục và sợ lắm.

Nó bèn bỏ chạy, giữa đường gặp khỉ. Thấy cọp có vẻ sợ, khỉ bèn hỏi:

- Có việc gì mà ông chạy dữ vậy?

- Mày không biết ư? Ở đằng kia có con cóc xấu xí nhưng đáng sợ lắm, ta phải trốn nó đấy.

Khỉ nhăn răng cười bảo:

- Ôi thằng cóc tía thì có gì mà đáng sợ. Ông cứ đưa tôi đến gặp nó, tôi sẽ bóp nát nó cho ông xem.
Cọp buộc khỉ vào lưng rồi đến chỗ cóc. Thấy khỉ ngồi lên lưng cọp, cóc tía hét:

- À, thằng khỉ kia, mày làm gì mà chậm chạp thế. Mày bảo trả nợ tao hai con cọp, sao bây giờ mới dẫn có một con đến, làm sao tao ăn đủ no.
Cọp nhận thấy ở miệng cóc tía còn một dúm lông của mình, ngỡ là cóc vừa ăn thịt một con cọp khác thật, liền quay đầu chạy thục mạng. Khỉ va đầu vào cây chết từ lúc nào không hay. Khi dừng lại, cọp thấy khỉ nhe răng ra, nó tức quá quát:

- Đồ khỉ, mày lừa tao, còn nhăn răng ra mà cười hả. Rồi quăng khỉ đi thật xa và từ đó hễ gặp cóc tía đâu là cọp trốn biệt. (1)

Cóc tía trốn được cọp vì biết dùng trí lừa được cọp, để cho hả giận. Vậy là có kẻ thông minh như con khỉ, mạnh mẽ như con cọp lại thua trí một kẻ sức lực yếu và nhỏ. Vậy cái sự mưu trí mới đáng là kính nể.
Theo Đi tìm điển tích thành ngữ của Tiêu Hà Minh


(1)Theo “Truyện cổ nước Nam” Ôn Như Nguyễn Văn Học- NXB Văn học, 2003.

yenminh0210
31-07-2012, 09:53 AM
Hằng hà sa số

Câu thành ngữ nói đến sự nhiều được ví như cát sông Hằng Hà. Nhiều vô kể không đếm xuể.
Chuyện kể:

Có ba chú tiểu. một hôm rãnh rỗi việc chùa, ngồi chơi ở bờ sông mới đố nhau.
Chú tiểu nhỏ đố trước:
- Trên đời này trừ sao trời ra thì cái gì là nhiều nhất?
Chú tiểu nhỡ mới đáp:
- Cây rừng là nhiều nhất.
- Không phải, không phải! – Chú tiểu nhớn lên tiếng – Cây sao nhiều bằng lá. Mỗi cây bao nhiêu lá, đệ biết không?
Thấy chú tiểu lớn lý lẽ vậy, chú tiểu nhỡ đành chịu. Chú tiểu nhỏ bèn cự lại:
- Chưa nhiều, chưa nhiều. Mưa mới là nhiều nhất. Huynh có đếm được hạt mưa không?
Lúc ấy, sư cụ đi qua, thấy ba chú tiểu tranh cãi, cũng góp vào câu chuyện:
- Ba con nói đều có lý cả. Cây rừng, lá rừng, hạt mưa đều là những thứ không đếm được. Nhưng theo ta những thứ đó chưa phải là nhiều mà thuyết pháp mói nhiều kia.
Chú tiểu lớn hỏi lại sư cụ:
- Thế nhiều là bao nhiêu, thưa thầy.
- Không thể đếm được. Kinh kinh, quyển quyển. Thuyết pháp là lẽ đời, mà lẽ đời thì ai đếm được. Nhiều, nhiều lắm! Nhiều như cát sông Hằng, Các con thấy không, ngôi chùa ta ngự trên núi, nhìn xuống sông Hằng bao la, chảy qua biết bao vùng rộng lớn, hai bờ có biết bao nhiêu là cát. Các con có đếm được cát sông Hằng không?. Vậy thuyết pháp cũng nhiều như cất sông Hằng đấy các con ạ!
Cả ba chú tiểu nghe sư cụ giảng như thế thì nhìn xuống dòng sông Hằng mênh mông rồi cùng ồ lên một tiếng: Quả là Hằng hà sa số!


Cái sự nhiều vô tận không đo đếm được ở đời có nhiều, nhưng cái mà dân gian ví thường không phải là sao, là mưa, là lá… mà là cát sông Hằng. Đó là vật cụ thể, có địa chỉ cụ thể, nhưng số lượng thì vô kể. Sự cụ nói thuyết pháp nhiều nhưng vẫn phải ví với cát sông Hằng để khẳng định sự nhiều. Chắc hẳn từ một câu chuyện nào đó tương tự như câu chuyện trên mà nên thành ngữ này.

Theo Đi tìm điển tích thành ngữ của Tiêu Hà Minh

matbiec
11-08-2012, 01:56 PM
Ra tay, gạo xay ra cám: Ra tay là bắt tay vào làm một cách cẩn thận, cố gắng. Ra tay, gạo xay ra cám nghĩa đen là không làm thì thôi, đã cố gắng làm thì gạo xay ra cám (Xay gạo xưa nay chỉ ra hột gạo mà thôi, đây nói xay ra cám là nói cái kết quả tốt đẹp không ngờ, cái kết quả bằng cả việc xay gạo lẫn việc giã gạo).
Nghĩa bóng câu này muốn nói công việc cố gắng chu đáo, thì kết quả sẽ gấp đôi cái kết quả của công việc thường. Cũng có người cho câu này có ý diễu người khoác lác quá đáng (xay gạo thì xay ra cám thế nào được).

Rát (nhát) như cáy: Cáy là một giống cua nhỏ ở nước mặn, hình thù giống con cua đồng, nhưng ở cẳng nó có những cái lông nhỏ (Người ta vẫn gọi lông mọc trên mình sơ sinh là lông con cáy, ý nói lông nhỏ và non). Giống cáy rất nhát, thấy bóng người là thụt xuống cát hay khe đá. Nên rát như cáy nghĩa là nhát lắm.
Rau nào sâu ấy: Thứ rau nào có thứ sâu của rau ấy.
Người ta cũng vậy, cha mẹ thế nào thì con cái cũng thế. Cha mẹ hiền thì con cũng hiền, cha mẹ ác thì con cũng ác, cha mẹ xấu thì con cũng không đẹp. Ảnh hưởng của rau đối với sâu cũng như ảnh hưởng của cha mẹ đối với con cái.
Rậu (giậu) đổ bìm bìm leo: Bờ rào bờ rậu đổ xuống thì dây bìm bìm leo lên, ý nói đã suy lại càng suy thêm.
Cũng có nghĩa thấy người ta sa sút thì đè nén thêm, y như giây bìm bìm leo lên bờ rậu đã đổ. Câu này ý nghĩa cũng na ná như câu “tre lướt cò đỗ”.
Rỏ (giỏ) nhà ai, quai nhà ấy: Cái rỏ của nhà ai, thì cái quai rỏ cũng của nhà ấy. Ý nói con cái nhà ai thì giống nhà nấy, không lẫn được.
Người ta thường dùng câu này để nói rằng con cái người nào thì mặt mũi, tính tình cũng giống hệt người ấy.
Rình nhau như miếng mộc: Mộc là một thứ võ khí cổ, làm hình bầu dục, trong bằng giấy bồi, ngoài kèm mây bó sơn, làm hơi khum khum mui luyện, phình ra phía ngoài, phía trong có cái dây để xâu vào cánh tay, dùng giơ lên đỡ mũi gươm giáo. Miếng mộc tức là những miếng chống đỡ bằng cái mộc.
Người đeo mộc luôn luôn phải rình xem đối thủ định đâm vào chỗ nào, để giơ mộc lên che đỡ chỗ đó. Người ta thường dùng câu này để nói việc hai người hoặc nhiều người, lúc nào cũng tìm cơ hội để làm hại nhau. Cũng có người giảng: Rình nhau như miếng mộc là rình nhau như một bên đánh miếng võ với một bên cầm mộc đỡ.
Rồng rồng theo nạ: Rồng rồng là cá lúc mới sinh. Nạ tiếng cổ nghĩa là mẹ. Nghĩa ấy thấy trong các danh từ nạ lợn, nạ dòng (đàn bà đã có con). Cá rồng rồng kéo lũ lượt phía sau, con cá mẹ là theo đi đấy. Câu này ý nói con cái theo cha mẹ, cũng như nhân dân theo gương nhà cầm quyền.
Rủ nhau làm phúc, chớ rủ nhau đi kiện: Làm phúc tức là bỏ tiền bạc, sức lực, lời nói ra cứu giúp người ta để mình được phúc.
Làm phúc cũng như để dành tiền của ở chỗ chắc chắn, vì làm ơn bao giờ cũng được ơn người mình làm ơn cho, họ không giúp lại được mình, cũng có người khác giúp đỡ mình. Cho nên ta nên rủ nhau làm việc phúc đức. Còn kiện tụng là gây oán gây thù và làm mất phúc đức, ta chớ nên rủ nhau đi kiện. Câu này đại ý khuyên người ta không nên xui nguyên dục bị, khích bác cho người ta kiện nhau. Cũng có người nói: “khuyên nhau làm phúc, ai khuyên nhau đi kiện” ý nghĩa đại khái cũng thế.
Run như cầy sấy: Run như con chó (thường gọi là cầy) bị ướt lông vào sấy mình bên cạnh đống lửa. Ý nói run sợ quá, hoặc rét quá.

Ruộng ai thì nấy (ấy) đắp bờ: Ruộng của ai thì người nấy đắp bờ.
Câu này lấy ruộng ra làm thí dụ. Đại ý nói rằng: Cha mẹ ai người nấy phụng dưỡng, con ai người nấy bù trì (chăm no, nuôi nấng, thương yêu), sự nghiệp của ai thì người nấy xây dựng. Đời không ai làm thay, làm giúp những việc riêng của mình. Ngoài ra câu này còn có nghĩa là mình được nhờ vả ai, thì mình phải giữ gìn bênh vực cho người ấy. Ý nghĩa cũng gần giống câu: “Ăn cây nào rào cây ấy”.
Ruộng bề bề không bằng nghề trong tay: Ruộng bề bề là ruộng nhiều lắm.
Ruộng bề bề không bằng nghề trong tay là vì ruộng có thể bỏ hoang, có thể mất mùa, hoặc có ngày bán đi mất. Còn có nghề trong tay, thì ở đâu làm việc cũng được, mùa nào cũng làm được, làm mãi mà nghề không mất, trái lại càng làm nghề, càng tinh xảo thêm lên.
Rút dây động rừng: Rút một sợi dây động đến cả khu rừng, vì dây vướng vào cây nọ cây kia. Nghĩa bóng câu này nói làm việc tuy nhỏ, nhưng có thể động chạm đến nhiều người ta to mặt lớn; làm một việc nhỏ song có ảnh hưởng rất to.

Rước voi về giầy mồ: Rước nghĩa là đón. Rước voi về giầy mồ là đón voi về để nó giầy lên mồ mả cha ông mình. Chân voi to như phướng, giầy lên mồ mả thì mồ mả bẹp dí, san bằng mặt đất. Rước voi về như vậy, không lợi ích gì mà chỉ có hại.
Ở đời, thường có người rước những kẻ thế lực to lớn về, tưởng để làm lợi riêng cho mình, có biết đâu chỉ có hại, chẳng khác gì rước voi về giầy mồ.

banhdacua
14-08-2012, 11:31 AM
Sạch nợ làm giầu: Sạch nợ là trả hết các món nợ. Làm giầu là để của tích lại để làm giầu. Sạch nợ làm giầu nghĩa là hễ trả hết công nợ thì chỉ còn việc tích của làm giầu. Câu này nói rất đúng. Vì khi đã sạch nợ, tức là đã đủ ăn tiêu rồi, không phải vay mượn ai nữa. Đủ ăn, đủ tiêu, là bắt đầu làm giầu.

Sạch sẽ là mẽ con người: Mẽ tức là mã đọc trạnh đi! Mã là bộ cánh, bộ dạng bề ngoài. Nghĩa này là do nghĩa chữ mã lông cổ, lông đuôi chim, thứ lông dài, nhỏ và mềm mại óng ánh mà ra. Khoe mã là khoe khoang bộ mã, bộ cánh bề ngoài. Mẽ con người là mã con người, là bộ diện con người. Sạch sẽ là mẽ con người nghĩa là sạch sẽ thì coi người sáng mã đẹp đẽ, sạch sẽ thì có mẽ người. Câu này đại ý nói: muốn người đẹp đẽ trước hết phải ăn ở sạch sẽ.

Sáng tai họ (ọ), điếc tai làm (cày): Họ là tiếng bảo trâu bò “đứng lại”. Khi nghe bảo “họ” thì tai tỉnh,sáng lắm, nghe thấy ngay! Đến khi nghe tiếng bảo “làm đi”, thì lại làm ra điếc không nghe thấy. Câu này lấy trâu bò lười làm thích nghỉ để ví với người lười biếng. Cũng nói: “Sáng tai họ, điếc tai cầy”, nghĩa cũng như trên. Bảo họ thì nghe thấy ngay, bảo cầy thì tai giả điếc. Có người nói: “Sáng tai họ, điếc tai làng” là nói sai chữ làm ra chữ làng.

Sẩy cha còn chú, sẩy mẹ bú dì: Mất cha còn có chú trông nom cho, mất mẹ thì có thể nhờ sữa của dì nuôi nấng cho. Câu này đề cao tinh thần gia tộc. Đại ý muốn nói: dù không có cha mẹ, cũng còn ông cha bà chú, họ hàng, trông nom giúp đỡ cho.

Sẩy đàn tan nghé: Sẩy là mất, là sơi, là lạc, là trượt. Những nghĩa ấy thấy trong những câu: “Sẩy cha còn chú, sẩy mẹ bú dì”. Hay: “Sẩy vai xuống cánh tay”, hoặc: “Sẩy chân sẩy tay còn vớ được, sẩy miệng không vớ được,” hay: “Thai sẩy…” Sẩy đàn tan nghé là lạc mất đàn trâu, thì con trâu non (nghé) bị tan thây. Hay là: cả đàn trâu đang xum họp bị tan đi, trâu nghé mỗi con một ngã. Thường dùng để nói cái cảnh gia đình đang xum họ mà bị tan rã, chia lìa, mỗi người một ngả. Cũng có người nói: “Sễnh đàn tan nghé,” và giảng nghĩa là ra xa (sễnh là xa) đàn, thì một mình con nghé sẽ bị chết tan xác.

Sẩy vai xuống cánh tay: Rơi ở vai xuống thì đến cánh tay, nghĩa là vẫn ở trong thân thể chưa rơi ra ngoài. Ý nghĩa câu này cũng na ná như câu: “Lọt sàng xuống nia,” thường được dùng để nói việc thừa tự của hương hỏa (nhận lấy gia tài của người anh em bà con chết đi, không có con trai thờ cúng). Nếu người chi (ngành) trên không có con trai, thì người chi dưới được ăn thừa tự, chớ không bao giờ đến được người họ ngoài.

Sểnh nạ, quạ tha: Sểnh là xa, là thoái khỏi. Nạ là mẹ. Sểnh nạ, quạ tha là con gà con hễ xa gà mẹ ra là bị quạ tha đi mất. Người ta thường mượn câu này để nói: con cái hễ không được cha mẹ trông coi, là bị anh em rủ rê chơi bời đâm hư ngay.

banhdacua
22-08-2012, 03:49 PM
Tam ngu thành hiền: Ba người ngu dốt họp nhau lại thành một người thông minh tài giỏi. Ba người ngu họp nhau bàn bạc góp kinh nghiệm, thế nào cũng nảy được ý kiến hay, tìm được cách giải quyết sát với hoàn cảnh thực tế, như vậy là thành hiền. Câu này nêu giá của sự hợp quần. Hợp quần không những nên sức mạnh mà còn tạo nên trí sáng suốt thông minh; do sự gom góp kinh nghiệm và sáng kiến.

Tay đứt ruột xót: Cầm dao lỡ bị đứt tay chảy máu, thì lòng cảm thấy đau xót.
Người ta thường ví anh em như chân tay. Anh em lỡ bị ốm đau, hoạn nạn, hoặc chết đi, thì mình cảm thấy đau xót như bị đứt tay. Câu này nêu sự liên qua ảnh hưởng giữa các bộ phận trong người để nói rằng: những sự sướng khổ đau buồn của một người, cũng ảnh hưởng liên quan đến anh em, họ hàng.

Tay trắng làm nên: Tay trắng tức là tay không, không có của cải sản nghiệp gì.
Làm nên là làm nên giầu sang, làm nên sự nghiệp. Tay trắng làm nên là tự lực làm nên giầu sang chớ không phải nương tựa vào sản nghiệp của cha ông hoặc sự giúp đỡ của bà con cô bác. Câu này hình như thoái thai ở câu tục ngữ Tàu “Bạch thủ thành gia” nghĩa là với hai bàn tay trắng mà làm nên gia nghiệp. Người ta thường dùng câu này để khen ngợi tài trí và đức kiên nhẫn của người, chỉ nhờ vào sức làm việc của mình mà làm nên sự nghiệp.

Tắc kỳ ngôn lộ: Tắc là bế tắc, lấp kín không để lối thoát hoặc lối thông, kỳ là của người ấy.
Tắc kỳ ngôn lộ là lấy kín mất lối nói của người ta, khiến người ta không mở miệng nói vào chỗ nào được.

Tấc đất tấc vàng: Một tấc đất quí giá ngang một tất vàng. Vì chăm, bón, vun, sới thì đất sản xuất mãi mãi không ngừng, mối lợi thu được ở một tấc đất, cộng mãi lại cũng có khi bằng giá trị một tất vàng.
Câu này có ý khuyên người ta nên quí ruộng đất, không nên bỏ hoang, mà bỏ mất mối lợi lớn.

Tập dữ tính thành: Câu này là câu chữ liền trong sách Kinh Thư của Tàu. Tập là tập quán tức là thói quen, dữ là cùng với.
Tính là tính khí, là tính tự nhiên. Tập dữ tính thành là thói quen lâu dần biến thành bản tính. Thí dụ như người ta không ai sinh ra đã có tính nghiện rượu. Vì mỗi ngày uống một tý, uống mãi lâu dần quen thói đi, rồi sau thành nghiện rượu, không có rượu thì không chịu được, y như là trời sinh ra cái tính nghiện rượu vậy.

banhdacua
23-08-2012, 12:05 PM
Tằm có lứa, ruộng có mùa: Lứa là lần, là lượt, là khoảng thời gian từ lúc con tằm còn trong trứng, đến lúc con tằm nhả tơ, kéo kén. Mùa là lúc, là khoảng thời gian từ lúc cấy lúa đến lúc chín gặt về. Tằm có lứa, ruộng có mùa là tằm kéo tơ có lứa, ruộng sản xuất có mùa, không phải bất cứ lúc nào tằm cũng nhả tơ được, hay bất cứ lúc nào ruộng cũng sản xuất được lúa gạo. Lấy tằm và ruộng làm thí dụ: câu này nói ở đời, làm việc gì cũng phải có thời. Không phải thời, không đúng lúc thì việc làm không có kết quả.

Tế sớm khỏi ruồi: Phàm việc tế, lễ đều có xôi, thịt, cỗ bàn. Xôi, thịt, cỗ bàn đặt lên bàn thờ tế thần, thánh, tổ tiên thường có ruồi bâu vào. Đồ lễ để trên bàn thờ càng lâu, thì ruồi bâu càng nhiều. Cho nên, người ta thường tế sớm đi, để lễ vật khỏi bị ruồi bâu, hóa ôi đi mất. Đó là nghĩa đen. Nghĩa bóng câu này nói: việc phải làm thì trước sau cũng phải làm, chi bằng làm sớm ngay đi, cho khỏi phiền phức lôi thôi. Cũng như trước sau cũng phải tế một lần thì nên tế trước đi, để ruồi khỏi quấy.

Tiền liền khúc ruột: Người đời thường coi qúi tiền bạc quá, có khi quí hơn cả thân thể. Hễ ai động chạm đến tiền bạc hoặc bị thua thiệt về tiền bạc một chút, thì người ta đau xót như là bị đâm vào ruột gan. Bởi vậy có câu: “tiền liền khúc ruột” để mỉa mai người coi đồng tiền như sát khúc ruột, hoặc nối tiếp luôn vào khúc ruột không, dám để hở ra ngoài.

Tiền ngắn mặt dài: Ngày xưa tiêu tiền đồng, tiền kẽm, xâu vào lạt đóng thành tiền, thành quan. Sáu mươi đồng là một tiền. Mười tiền là một quan, tức là 600 đồng, bởi thế là nói tiền ngắn tiền dài. Tiền ngắn tức là quan tiền ngắn ý nói số tiền nhỏ. Mặt dài là mặt hờn giận không bằng lòng. Khi người ta hờn giận thì nét mặt sa sầm, coi như mặt chẩy dài ra. Nên có tiếng chảy mặt, nghĩa là hờn dỗi. Tiền ngắn mặt dài là thấy số tiền đem đến có ít thì hờn giận mặt chảy ra. Có người muốn giảng là: mặt người dài hơn tiền. Cho câu này nghĩa cũng tương tự câu: một mặt người mười mặt của. Xét ra không đúng.

Tiền vào nhà khó như gió vào nhà trống: Gió vào nhà trống bốn phía thì bao nhiêu gió cũng vừa, bao nhiêu gió cũng thoát ra như không. Tiền vào nhà khó (vốn cái gì cũng thiếu thốn và lắm công nợ) thì bao nhiêu tiền cũng là ít, không đọng lại được.

Tiếng cả nhà không: Tiếng cả là tiếng to, tiếng lớn, tức danh vọng cao. Nhà không là nhà không có gì, ý nói không có thóc lúa tiền của. Người ta thường dùng câu này để nói rằng: tuy có tiếng là giầu sang, nhưng thực ra trong nhà vẫn không có gì, nghĩa cũng gần giống câu: “Có tiếng mà không có miếng”.

Tiếng chào cao hơn mâm cỗ: Mâm cỗ tuy chồng chất bát đĩa thức ăn cao ngộn lên, nhưng tiếng chào mời còn cao hơn, quý hơn. Ý câu này nói người ta không quý trọng miếng ăn, mà quý trọng cái tình tốt với nhau, biểu lộ ra bằng những lời chào mời thân thiết.

Tiếng bấc tiếng chì: Tiếng bấc là tiếng nói nhẹ như bấc, tiếng chì là tiếng nói nặng như chì. Nếu trong câu chuyện không có sự bất bình giận dữ, thì tiếng nói thường đều đều, chớ không lúc nhẹ quá, lúc nặng quá, như chì với bấc. Khi mà tiếng chì lẫn với tiếng bấc là khi câu chuyện không còn giữ được vẻ ôn hòa.

banhdacua
28-08-2012, 04:08 PM
Tính không có, lại có tướng: Tính là tính nết, tính hạnh nết na. Tướng là nét mặt, vẻ mặt, tất cả bề ngoài của con người. Tính không có, lại có tướng nghĩa đen là tính nết không có mà lại làm bộ. Nghĩa bóng, người không có học vấn, đức hạnh (tính) mà ngoài mặt làm ra bộ khôn ngoan tài giỏi.

To đầu mà dại: To đầu đây nghĩa là người lớn, người ở địa vị cao. To đầu mà dại nghĩa người lớn, người danh giá mà bị mắc lừa, bị người ta lợi dụng tên tuổi mình làm những điều không tốt. Đại ý câu này khuyên người ta phải suy xét kỹ càng, không nên tự phụ rằng: mình người lớn thì bao giờ cũng khôn ngoan sáng suốt.

Tốt danh hơn lành áo: Tốt danh là có danh thơm tiếng tốt. Có danh tiếng tốt mà lại có quần áo tốt nữa thì nhất rồi. Nhưng nếu đem cái áo lành và cái danh tốt bắc lên cân, thì cái danh tốt bao giờ cũng nặng hơn. Vì danh thơm tiếng tốt có thể che mờ cả quần áo rách vá, chớ quần áo tốt đẹp khi nào lại tạo nên được danh thơm tiếng tốt? Câu này ngụ ý khuyên người ta nên chú trọng đến cách làm ăn cư xử sao cho lưu danh thơm tiếng tốt ở đời, chớ không nên chú trọng vào sự ăn mặc tốt mã.

Tốt mã dẻ cùi: Chim dẻ cùi là một giống chim đẹp, mỏ đỏ, đuôi dài, lông mã, lông đuôi sặc sỡ ngũ sắc, coi giống chim phượng. Người ta đã gọi là phượng hoàng Nam (phượng hoàng của nước Nam) hay phượng hoàng đất. Nhưng chim dẻ cùi phải cái tật hay ăn cứt chó, cứt lợn. Người ta đã có câu: “Dẻ cùi tốt mã dài đuôi, hay ăn cứt chó ai nuôi dẻ cùi!” Dẻ cùi tiếng hót lại không hay, vì vậy dẻ cùi tuy đẹp mã thật, song người ta không quí mà lại khinh. Người ta thường dùng câu này để chế diễu người bề ngoài đẹp đẽ sáng sủa, ăn bận diêm dúa mà bụng dạ bẩn thỉu không tốt mà lại vô tài.

Tốt tóc nhọc cột nhà: Các bà các cô tóc dài, mỗi khi gội đầu, muốn cho tóc chóng khô để quấn tóc hay vấn khăn, thường có thói quen quật mớ tóc nhiều lần vào cột nhà. Vì thế người ta bảo tốt tóc chỉ làm nhọc cột nhà, ý nói sắc đẹp không lợi ích chi hết.

Tu đâu cho bằng tu nhà, Thờ cha kính mẹ mới là chân tu: Tu chính nghĩa là sửa mình. Từ khi có đạo Phật, người ta thường hiểu chữ tu là đi ở chùa mới là tu. Cho nên mới có câu tục ngữ này để giác ngộ những người hiểu lầm nghĩa chữ tu. Chân tu là thật biết tu. Đại ý câu này phải đối việc bỏ nhà đi ở chùa, và khuyên người ta nên trước hết phải hiếu với cha mẹ. Không thờ kính cha mẹ thì không phải là chân tu. Có thể cho câu này tiêu biểu tư tưởng nhà Nho phản đối nhà Phật.

yenminh0210
29-08-2012, 09:39 AM
Chuồn chuồn đạp nước
Câu thành ngữ ý nói về việc làm ăn lớt phớt, chiếu lệ qua loa cho xong chuyện, không sâu sắc, kỹ càng.
Chuyện kể:

Có cô chuồn chuồn nước sinh ra trên mặt nước, sống ở đó hai năm rồi mà vẫn chẳng hơn gì loài bọ gậy gọng vó. Chuồn chuồn buồn lắm. Đến năm thứ ba, đôi cánh mỏng trong suốt của nó mới bắt đầu mọc ra. Chuồn chuồn lấy làm sung sướng lắm, mới nói với con gọng vó:
- Ta có đuôi dài, lại có đôi cánh đẹp. Ta chẳng thèm sống ở dưới ao tù này nữa. Ngày mai ta tạm biệt gọng vó, ta dành cả cho anh cái ao.

Gọng vó nói:

- Chị sống ở ao lâu ngày, chớ có quên nơi mình sinh ra. Mai chị bay đi, chắc cuộc đời làm chuồn chuồn của chị cũng chỉ vài ba tháng nữa. Đời ngắn ngủi, vậy chị cố mà về thăm chúng tôi.

Vào một buổi sáng đẹp trời, cô chuồn chuồn từ dưới ao bắt đầu cất cánh bay lên. Nó cứ bay lượn mãi trên cao, rồi sà vào vườn cây. Đôi cánh mỏng và nhẹ của nó lướt đi, đem theo thân hình nó với hai con mắt to và cái đuôi dài cũng nhẹ làm sao. Nó cứ bay, bay mãi, du lịch khắp đó đây. Nó vừa bay, vừa ăn thịt con mồi, hễ thấy con muỗi, con ruồi nào lảng vảng là nó há cái hàm ra mà đớp lấy.

Rồi cô chuồn chuồn cũng đến kỳ sinh nở. Trong cuộc hành trình vô định đó, chỉ có đến lúc này nó mới nhớ đến xứ sở của mình, nơi nó đã sinh ra. Nghĩ vậy, nó bèn chao mình xuống mặt nước, trong chốc lát lẹo cái đuôi xuống, đẻ ra bao nhiêu là trứng.

Có một con bọ nước thấy chuồn chuồn cứ chớp nhoáng như vậy, mới bảo:

- Chị đúng là người chẳng có tổ có tông. Đập nước như vậy thì có tích sự gì. Bằng không chị xuống đây, ao rộng, chị tha hồ mà tắm có thoải mái hơn không?

Chuồn chuồn mới nói:

- Tôi nhớ nước nhưng sà xuống đấy thì ướt hết cánh, làm sao bay được. Mặt nước vốn là nơi tôi sinh ra, bây giờ đến kỳ, tôi đẻ nhờ trên mặt nước vài quả trứng. chị trông giùm tôi với.

Nói rồi, nó lại chao xuống, chớp nhoáng, nhúng phần đít xuống mặt nước đẻ đến khi hết trứng.

Chuồn chuồn là loài sâu bọ cánh mỏng. Vòng đời không dài, chia làm hai giai đoạn, nhộng ở dưới nước ba năm, giai đoạn hóa chuồn chuồn hai đến ba tháng. Khi đẻ, nó lại đẻ xuống nước. Từ đặc tính của chuồn chuồn mà người ta vận vào đời sống. Ý nói rằng: Chẳng thiếu gì người được giao nhiệm vụ nhưng làm ăn cẩu thả tắc trách. Cái sự làm ăn được chăng hay chớ đó có khác gì con chuồn chuồn đạp nước mà dân gian đã chớp lấy ngắn cho con người.

Theo Đi tìm điển tích thành ngữ của Tiêu Hà Minh

reader
29-08-2012, 10:57 AM
* Bới lông tìm vết

Thành ngữ "bới lông tìm vết" xuất phát từ thành ngữ Hán Việt "suy mao cầu tì". Trong tiếng Việt, thành ngữ này được dùng để chỉ hành vi của những người hay bới móc khuyết điểm, thiếu sót của người khác.
Trước hết, hành động "bới lông tìm vết" được thực hiện khi xem xét các loại chim đẹp. Ngày xưa bên Trung Hoa hay mở các hội thi chim. Chim đẹp ở bộ lông và dáng điệu. Chim quý ở tiếng hót. Những điều này lộ ra ở bên ngoài, rất hiển nhiên, có thể nhận biết dễ dàng và chính xác. Một khi đã bới lông để dò tìm những vết xấu thân thể có thể bị che khuất dưới lớp lông đẹp của chim có nghĩa là về vẻ đẹp của bộ lông, của dáng điệu, của tiếng hót, những tiêu chí khách quan, có tính chất truyền thống, đã được thừa nhận nhưng vì chủ quan không muốn thừa nhận, hoặc muốn đánh sụt giá vẻ đẹp của chim. Đó là một sự cố tìm moi móc không thiện ý nhằm làm giảm giá trị của loài vật này. Với nhận thức đó, người dân gắn việc "bới lông tìm vết" với hành vi cố tìm moi móc khuyết điểm của người khác để hạ thấp uy tín của họ.
Trong vận dụng ngôn ngữ, thành ngữ "bới lông tìm vết" có thể được sử dụng linh hoạt để nhấn mạnh ý nghĩa biểu đạt của nó.
Bới lông mựa nỡ tìm nơi vết
Cũng có khi kinh, cũng có quyền
(Hồng Đức quốc âm thi tập)
Gần nghĩa với thành ngữ "bới lông tìm vết" là thành ngữ "vạch lá tìm sâu".
(Sưu tầm)

yenminh0210
05-09-2012, 09:51 AM
Lấy thúng úp voi
Câu thành ngữ ngụ ý nói về một việc làm khó khăn, không thể thực hiện được cố che giấu một việc lộ liễu.
Chuyện kể:

Có một thầy cúng đã dốt nhưng hay huênh hoang, bảo thủ. Từ bé đến lớn thầy rất ít ra khỏi nhà, vì thế rặt những gì nhà thầy có là thầy coi như thiên hạ cũng chỉ có thứ ấy. Nhà thầy có nuôi một con mèo và một con ngỗng ăn cỏ. Vậy nên thầy nghĩ thiên hạ chỉ có hai giống ấy.

Một hôm, người ta đồn có con voi từ rừng về phá làng. Chuyện đến tai thầy. Thầy hỏi người nhà:
- Nó có mấy chân?
Người nhà bảo:
- Nó có bốn chân.

Vậy là thầy chắc nhẩm, nó to lắm cũng thì cũng chỉ bằng con mèo là cùng.
Thầy mới hỏi lại:
- Thế nó ăn gì?
Người nhà bảo:
- Nó ăn cỏ.

Thầy nói luôn:
- Vậy có gì to tát đâu mà làm ầm cả lên thế. Chắc bằng con ngỗng là cùng.

Con voi về làng, phá nhà, quật chết người, thầy mới hung hăng gọi người nhà ra bảo.

- Việc ấy cứ để ta. Mang cho ta cái thúng ra đây!

Tưởng thầy có phép thần chú gì để đuổi voi nên người nhà đi lấy thúng cho thầy, rồi hỏi:

- Thầy làm phép gì ạ?

Thầy huênh hoang đáp:
- Ta úp nó lại, lấy đá đè lên, nó có mà chạy đằng giời.

Rõ ràng là thầy cúng ở truyện trên chưa cầm thúng úp vào con voi, nhưng ai cũng biết rằng cái thúng thì bé mà con voi thì quá lớn, quá khổ thì úp sao đặng. Cái sự vô lý đến nực cười. Nếu có dùng cái thúng úp lên con voi thì phần được che phủ chẳng thấm tháp gì với phần không được che, tức là cái nhỏ không thể che lấp được cái lớn, muốn che giấu không thể che được, vẫn lộ ra.

Dễ gì lấy thúng úp voi
Giấu đầu thì lại bị lòi đuôi ra.


Theo Đi tìm điển tích thành ngữ của Tiêu Hà Minh

banhdacua
12-09-2012, 11:16 AM
Uốn cây từ thuở còn non, Dậy con từ thuở hãy còn ngây thơ: Uốn cây để làm cảnh thì phải uốn từ thuở cây còn non, cây non thì còn dẻo, mềm, dễ uốn. Để cây lớn quá thì cành cứng, vin (với tay mà kéo níu) uốn thì gãy mất. Dậy con cũng vậy, phải dậy từ lúc con còn ngây thơ. Để lúc con lớn tuổi mới dậy, thì có thể người con cưỡng lại không nghe, tức là không dậy nổi. Câu này lấy việc uốn cây làm thí dụ, để khuyên người ta nên dậy con cái ngay từ lúc chúng còn thơ, ý nghĩa cũng gần như ý nghĩa câu: bé không vin, cả gẫy cành.

Uống nước không chừa cặn: Uống nước, người ta thường bao giờ cũng chừa lại cái cặn của nước lắng dưới đáy chén, đáy cốc (ly). Vì cặn nước không sạch. Đằng này uống nước lại uống hết, không chừa cặn, như thế là uống cả chất bẩn của nước. Người ta thường dùng câu này để chê người tham lam quá đỗi, thu lượm, vơ vét cả những cái nhỏ nhặt, vẩn thừa, như cặn nước cũng không từ.

yenminh0210
13-09-2012, 10:07 AM
Xui nguyên giục bị

Câu thành ngữ chỉ việc xúi bẩy, kích động cả hai bên kiện cáo nhau.
Chuyện kể:

Một hôm, hai người hàng xóm xích mích nhau chỉ vì việc giáp ranh nhà đất. Người nào cũng cho mình phải nên hễ trông thấy nhau là cãi nhau. Khi họ đang trong cơn giận thì một ông quan mới cho người nhà mình đến lân la hỏi chuyện một người, rồi húi vào:
- Ông cứ làm đơn kiện lên quan, gì chứ nhà ấy sai là cái chắc. Kiểu này thì nó mất nhà chứ chẳng chơi.


Người này nghe theo mới làm đơn kiện, hy vọng phần thắng thuộc về mình. Ông ta đến quan nhờ phân xét, không quên sắm mấy thứ lễ vật đáng giá biếu quan.


Quan bảo: “Việc như thế mà trước đây không trình quan, ngươi cứ để đấy ta xét”. Người đâm đơn đi kiện ra về, hy vọng vào món quà biếu quan, quan sẽ nghĩ đến rồi xử cho thắng cuộc.


Hôm sau, người nhà quan lại đến nhà người bị kiện nói:

- Này, có đơn người ta kiện ông, ông mau đến quan để trình bày trước đi, nhớ mang theo cái gì để làm quan vừa lòng. Quái sao họ đã sai lại còn đâm đơn đi kiện là sao.


Người bị kiện liền lên quan kêu oan và không quên mua sắm chút lễ vật. Quan lại bảo: “Cứ để đấy ta xem xét”.


Mấy ngày sau, không thấy động tĩnh gì, người đâm đơn kiện lại làm cái lễ nữa lên quan, mong quan phán xét.


Quan nhìn lễ vật bảo: “Việc ngươi kiện là phải, nhưng việc phân xử đâu chỉ có ta với mi”. Về nhà, người đâm đơn kiện mới gọi người hàng xóm kia ra mắng chửi. Người bị kiện tức quá lại làm cái lễ lên quan. Quan gật đầu nói:


- Nó đã sai lại còn chửi càn. Thôi ngươi cứ về đi việc này đâu chỉ có ta và ngươi.


Cứ hết ngày này qua tháng khác, kẻ đi kiện, người bị kiện chốc chốc lại lên bẩm quan nhờ xử kiện. Cứ động một tý lại sắm lễ vật lên quan, thành thử ai cũng tưởng nắm phần thắng về mình.

Rồi đến một hôm, nghe tin quan được bổ lên làm quan to hơn, hai người lại lên quan, gặp nhau ở đấy. Quan xoa tay bảo:

- Ta được bổ đi rồi, nhường lại cho quan khác thay ta giải quyết tiếp việc của các ngươi.


Nhìn cảnh nhà đã bán sạch để làm lễ lót tay cho quan, lại mất bao thời giờ đi kiện cáo kêu oan, hai người cùng thốt lên: “Đồ xui nguyên giục bị”.
Kẻ nguyên đơn và bị đơn đều đi đến khuynh gia bại sản, đã thế lại còn mâu thuẫn hiểu lầm nhau, ấy là do có kẻ “xui nguyên giục bị”. Những kẻ làm việc “đòn xóc hai đầu” ấy luôn gây mâu thuẫn, làm mất đoàn kết giữa người này với người khác.

Theo Đi tìm điển tích thành ngữ của Tiêu Hà Minh

yenminh0210
17-09-2012, 09:57 AM
Qua cầu rút ván
Câu thành ngữ có ý ám chỉ những người vô ơn, bội nghĩa.

Chuyện kể:

Ngày xưa, có hai người học trò một tên là Lưu Cải, một tên là Lễ Châu. Họ cùng nhau đèn sách mấy năm liền nên tình cảm như anh em ruột thịt.


Sắp đến kỳ thi, Lễ Châu bị ốm.Tưởng bệnh tình khó qua khỏi, Lễ Châu bèn nói với Lưu Cải:

- Tôi nay chắc không sống được. Ngôi nhà và mảnh vườn này của cha mẹ tôi để lại, anh hãy bán nó đi, một phần lấy tiền đi thi, bõ công đèn sách mấy năm qua, một phần để làm ma cho tôi. Anh đỗ đạt kỳ này là tôi mãn nguyện lắm rồi.

Lưu Cải thương bạn khóc nức nở. Theo lời bạn, Lưu Cải bán mảnh vườn lấy tiền vừa để lo thuốc thang cho bạn, vừa thêm vào việc lều chõng của mình. Rồi kỳ thi năm ấy, nhờ có tiền đi thi nên Lưu Cải đã đỗ, rồi được bổ làm quan. Thời gian trôi đi, nhờ thuốc thang chữa trị, lại thấy bạn mình thi đỗ thì thấy làm vui nên bệnh của Lễ Châu lui dần, rồi một ngày kia bệnh tình khỏi hẳn.


Nhớ đến bạn năm nào cùng chung đèn sách, Lễ Châu nghĩ đến tình xưa, nghĩa cũ đặng tìm đến bạn cũ nhờ đỡ đần để có dịp chờ ngày thi tiếp. Từ ngày làm quan, Lưu Cải tính tình thay đổi, lạnh nhạt với bạn cũ. Sợ bạn mình nhờ vả, liên lụy nên Lưu Cải tìm cách trốn tránh, rồi sinh lòng hại bạn. Nhưng Lễ Châu không hề biết bụng dạ của bạn đã thay đổi nên chẳng chút nghi ngờ. Một ngày kia, trời đã tối, tìm gặp được Lưu Cải, Lễ Châu theo bạn vào nhà. Thời ấy, người ta đào hào xung quanh nhà để chống trộm. Muốn vào nhà phải qua một chiếc cầu, dưới đó là hào sâu có cắm chông và rắn rết. Lưu Cải đi trước, lợi dụng lúc tối trời, vừa bước sang bên này ván cầu, anh ta bèn rắp tâm rút cái ván để cho Lễ Châu lăn xuống hào mà chết. Nghe tiếng rút ván Lễ Châu hiểu ngay sự tình nên đã kịp dừng chân. Tưởng bạn đã rơi xuống hào sâu chết rồi, Lưu Cải mới lỉnh vào vườn trong.


Lễ Châu trở về nhà, buồn rầu vì tình bạn tráo trở. Lưu Cải làm quan được mấy năm thì bỗng nhiên một hôm bị sét đánh chết. Hôm đưa ma bạn về, Lễ Châu mới kể chuyện cũ cho thầy dạy mình nghe. Thày dạy mới bảo:

- Đó là kẻ “qua cầu rút ván”, người như thế khó qua khỏi được trời quở trách. Chết bất đắc kỷ tử là phải lắm rồi.

Trước thì được người giúp đỡ, khi thành công, thành danh rồi thì lại bội ơn, khinh bạc người, rồi tìm cách hại người, những kẻ như thế, xưa nay, đời nào cũng có. Nên dân gian mới có câu:


Khi chưa, tình nghĩa trăm đàng
Được thì rút ván, phũ phàng làm ngơ.
Theo Đi tìm điển tích thành ngữ của Tiêu Hà Minh

banhdacua
20-09-2012, 02:38 PM
Vạch áo cho người xem lưng: Vạch áo cho người xem lưng là hành động của người ngốc dại vì đem phơi cái xấu, đẹp trong mình cho người ngoài biết. Lưng mình xấu thì mặt mình cũng không đẹp được. Anh chị em một nhà, bạn bè, là những người thân yêu nhau, mà bới xấu nhau ra, cho người ta biết, tức cũng như vạch áo cho người xem lưng. Nên người ta vẫn thường dùng câu này để chê những người kể xấu người nhà, người thân trước mặt người ngoài.

Ván đã đóng thuyền: Ván đã đóng thành thuyền thì không thể tháo ra được; giá có tháo ra được thì cũng có những lốt đanh, lốt sơn, không dùng được việc. Người ta thường ví việc đã rồi với ván đã đóng thuyền, không còn chữa lại được nữa.

Vàng bạc có giá, tôm cá theo buổi chợ: Vàng bạc là những thứ quí hiếm thì có giá nhất định sẵn rồi, mua sớm, mua muộn cũng không đắt không rẻ thêm. Tôm cá là những vật tầm thường ở đâu cũng có, thì giá cả thay đổi tùy theo buổi chợ. Chợ mới họp, hàng tôm cá có ít và cá tươi, thì giá cao. Chợ họp đông, khách mua bán nhiều thì tôm cá bán đắt. Chợ về chiều, người đã vãn, tôm cá không ai mua, tất phải bán đổ bán tháo đi, kẻo tôm cá ươn, ế mang về thì không tiền đong gạo. Của có nhiều loại, thì người cũng có nhiều hạng. Người chân tài thực học quí hiếm như vàng bạc, giá trị bao giờ cũng vậy. Còn hạng người tài đức tầm thường, chí khí nông cạn, thì giá trị đắt rẻ còn tùy theo nhu cầu của buổi chợ đời, cũng như giá tôm cá tùy theo buổi chợ vậy.

Vay ha hả, trả hi hỉ: Lúc đi vay thì cười nói ha hả, cốt nói khéo để người ta sẵn lòng cho vay. Khi trả nợ thì hi hỉ ra bộ không bằng lòng (hoặc hi hỉ làm ra bộ khốn khổ để người ta thương tình cho khất nợ).

yenminh0210
21-09-2012, 10:58 AM
Như vợ chồng ngâu
Câu này hàm ý chỉ cảnh vợ chồng xa cách, biệt ly.

Chuyện kể:

Ở một khu rừng nọ có một cái suối trong. Các nàng tiên trên trời thường đến suối tắm vui đùa thỏa thích, người ta gọi là Suối Tiên. Khi tắm, các nàng đều chút bộ cánh trên bờ, xuống bơi lội đùa giỡn cho thỏa thích. Một hôm có chàng đốn củi mải mê ngắm nhìn.

Bỗng có ba cánh trắng để trên bờ, chàng ta bèn lấy trộm một bộ rồi nấp vào bụi cây.Tắm xong, ba nàng tiên lên bờ. Hai nàng nhận được bộ cánh của mình bay vụt lên trời. Còn một nàng mất cánh đang ngơ ngác thì anh chàng đốn củi bước ra.


Nàng tiên cầu khẩn:

- Hỡi chàng trai, hãy vui lòng trả cho ta đôi cánh để ta về trời.

Chàng trai tươi cười trả lời:

- Nàng đã thuộc về ta, nàng hãy theo ta về làm vợ.

Kẻ xin, người giữ, nhùng nhằng mãi cho đến xế chiều, nàng tiên đành lòng theo chàng trai về nhà. Từ đó nàng tiên trở thành vợ người đốn củi. Họ sinh hạ được một người con trai. Một hôm, chàng đốn củi có việc phải đi xa. Chàng dặn vợ:

- Mẹ con nàng ở nhà, có ăn thì ăn đụn lúa vàng, rồi sang đụn lúa gié, chớ ăn đụn lúa giệ, có tổ ong vò vẽ, đốt cả mẹ lẫn con.


Nhưng người vợ ở nhà không làm theo người chồng dặn. Sau khi ăn hết đụn lúa vàng, nàng chuyển sang đụn lúa giệ. Không thấy có tổ ong vò vẽ nàng sinh nghi. Tìm tòi một lúc nàng nhận ra bộ cánh của mình chồng giấu trong cót thóc.


Được cánh, nàng tiên nóng lòng về thăm cha mẹ. Nhưng vì thương con nên nấn na chưa chịu về. Sắp đến ngày chồng về, một buổi nàng bèn làm thật nhiều bánh và dặn con:

“Con ở nhà, hễ khi nào đói bụng thì lấy bánh ra mà ăn, đợi cha về con nhé!”.

Đoạn gài lên áo con một chiếc lược và bảo:

- Con ở nhà nhớ giữ chiếc lược cho cha.


Rồi nàng bay bổng lên không trung về trời.

Người chồng về thấy chiếc lược trên áo con thì đoán ngay ra nông nỗi. Hai cha con buồn rười rượi, côi cút ngóng trông.


Một hôm, chàng bế con ra suối tiên, nấp vào chỗ kín. Trưa hôm sau một bà tiên già từ trên trời cầm lọ xuống lấy nước. Chàng tiến lại gần và cầu khẩn:

- Hỡi bà tiên. Bà hãy thương cha con tôi. Ba năm trước đây có nàng tiên xuống tắm chốn này, nàng đã làm vợ tôi và sinh hạ với tôi thàng bé này. Nay nàng đột ngột trở về trời để lại niềm thương nhớ cho hai cha con chúng tôi.


Bà tiên cầm lọ nước giơ lên như làm phép rồi nói:

- Nàng tiên đó là Ả Chức. Ả Chức hàng ngày dệt vải nhưng luôn nhớ chồng, nhớ con. Được, ta sẽ giúp ngươi.


Nói đoạn bà tiên múc lọ nước bay lên trời. Chiều hôm đó, có hai người nhà trời đem túi nhà trời đưa cho cha con người đốn củi bay vút lên chín tầng mây. Đến canh khuya, hai cha con được vào cõi lộng lẫy. Trước mặt họ, nàng Ả Chức xuất hiện vẫn đẹp như xưa. Vợ chồng, mẹ con gặp nhau mừng mừng, tủi tủi.


Sau khi biết rõ tình cảnh của họ, Ngọc Hoàng thương tình bèn cho cha con người đốn củi ở lại hà trời, giao cho chàng chăn trâu. Sau này người ta gọi chàng là chàng Ngưu, gọi chệch là chàng Ngâu. Hàng ngày, Ngưu thả trâu ăn cỏ bên này bờ sông Ngân Hà, còn nàng Chức dệt vải bên bờ sông kia. Mỗi năm Ngọc Hoàng chỉ cho họ gặp nhau một lần vào ngày mồng 7 tháng 7 âm lịch. Còn đàn quạ thì ngày đó phải đội đá bắc cầu qua sông cho vợ chồng họ gặp nhau. Cầu ấy gọi là cầu Ô Thước.


Từ đó, cứ đến mồng 7 tháng 7 thì trời khác thường. Mưa ào ào rồi lại tạnh ngay, người ta gọi là mưa ngâu. Mưa ngâu thất thường, rỉ rả suốt ngày. Người ta đồn rằng đó là những giọt nước mắt của hai vợ chồng họ được gặp gỡ nhau trong một ngày, rồi lại ly biệt cho đến năm sau.



Từ chuyện trên mà nên thành ngữ “Như vợ chồng Ngâu” để nói cảnh vợ chồng biệt ly. Dân gian cũng mượn cái quy luật của khí hậu thời tiết tháng bẩy mà thêu dệt cảnh nước mắt đặt cho nó cái cái tên mưa ngâu thần thoại, thật hợp với cảnh sụt sùi ly biệt của đôi vợ chồng yêu thương nhau mà khó khăn trắc trở. Có lẽ vì thế mà dân gian vẫn kiêng cưới hỏi vào tháng bảy là thế.

Theo Đi tìm điển tích thành ngữ của Tiêu Hà Minh

banhdacua
27-09-2012, 11:34 AM
Xanh không thủng, cá đi đằng nào: Xanh (một loại chảo bằng đồng, đáy bằng có hai quai để cầm) đang rán cá, thì tất nhiên là xanh phải thủng thì cá mới rơi ra ngoài được.
Người ta thường mượn câu này để nói: nếu không có người ăn tay ăn túi, thì tiền quỹ sao lại thiếu hụt được. Không có người lấy thì sao của lại mất?
Xấu đều hơn tốt lỏi: Câu này có lẽ do nhà tướng số dùng đầu tiên để nói rằng: Các bộ phận trên mặt, trong người hay các cung số tử vi đều xấu, nhưng đều đều với nhau, tức là tương đương cân đối với nhau, thì còn tốt hơn là có một chỗ tốt còn các chỗ khác xấu quá (tức là tối lỏi, tốt không đều).
Sau câu này dùng quá rộng ra để chỉ việc vợ chồng con cái trong nhà ăn mặc xoàng xoàng như nhau, còn hay hơn là một vài người ăn mặc thật sang trọng, còn thì tất cả các người khác trong nhà ăn mặc đói rách.
Xấu chàng hổ ai: Chàng đây là tiếng vợ gọi chồng. Người chồng mà xấu thì ai hổ thẹn?
Câu này đại ý nói chồng xấu thì vợ cũng xấu lây, vì người ta cho rằng vợ không biết khuyên chồng làm điều lành tránh điều dữ.
Xấu máu đòi ăn của độc: Xấu máu là máu không được tốt, ý nói đàn bà con gái ốm yếu có bệnh kinh nguyệt bất điều (không được điều hòa).
Người xấu máu tức là người có bệnh mà ăn của độc, thì bệnh sẽ nặng thêm, người càng ốm yếu. Nghĩa bóng câu này muốn nói người ở địa vị thấp mà đòi những danh vọng cao, người vô tài mà đòi làm những việc lớn. Đại ý câu này khuyên người ta nên tự biết mình, không nên đòi hỏi những điều quá đáng.

banhdacua
01-10-2012, 02:45 PM
Thả vỏ quít, ăn mắm rươi: Thả tức là buông xuống, bỏ ra. Ăn mắm rươi cần phải có vỏ quít. Mình không có mắm rươi là vật đắt và hiếm, nhưng mình có vỏ quít là vật tầm thường. Mình bỏ vỏ quít ra góp vào việc làm món ăn, để được ăn mắm rươi. Nghĩa đen như thế.
Nghĩa bóng, câu này muốn nói góp phần vào chút ít để được ăn. Đại ý câu này cũng na ná với câu: “giây máu ăn phần”.
Tham thực cực thân: Tham thực là tham ăn, tham uống. Cực thân là khổ thân. Tham thực cực thân là tham ăn tham uống thì khổ thân. Thí dụ như bị bội thực chẳng hạn. Dùng theo nghĩa bóng, người ta thường mượn câu này để chê người vì tham lam danh vọng mà phải chạy chọt cực nhục đủ điều.
Tháo dạ, đổ vạ cho chè: Đổ vạ tức là đổ tội vạ cho ai, hay cái gì.
Gặp phải khi tháo dạ, nhân có ăn chè, liền bảo là tại ăn chè, đổ tội cho chè gây ra bệnh tháo dạ. Câu này đại ý nói: chính mình làm nên tội, mình lại kiếm cớ đổ tội cho kẻ khác đã xui khiến, thúc dục, hoặc cho mình có cơ hội làm nên tội đó.
Thăm ván, bán thuyền: Mới thăm ván định mua để đóng thuyền mới, mà đã đem bán ngay thuyền cũ đi, thành ra thuyền mới chưa có, thuyền cũ không còn, không có thuyền để chèo chở kiếm ăn. Người ta thường ví kẻ chưa có mới đã nới cũ ra, với người mới đi thăm ván đã bán thuyền, có ý chê người ấy:
a) Ăn ở không thủy chung (có trước không có sau, vì không biết trọng những vật cũ đã giúp mình). b) Không biết suy tính lợi hại công việc mình làm.

yenminh0210
04-10-2012, 10:41 AM
Ma ăn cỗ
Chưa ai rõ ma hình dạng thế nào nhưng theo quan niệm trong dân gian thì ma là linh hồn người chết đi lang thang. Câu thành ngữ ý nói không thể biết được việc xấu người ta làm vụng trộm, giấu giếm.


Chuyện kể:
Có hai con ma nọ, thần Ma Vương quên không phân việc làm cho chúng nên chúng bị cực hình như những con ma khác. Vì thế, hai con ma thường lên trần gian gây tác oai tác quái cho người còn sống.


Chúng thần thông biến hóa, bay từ nhà này sang nhà nọ chẳng ai mà nhìn thấy, hễ nhà nào có cỗ là y rằng hai con sà ngay xuống, tìm mọi cách để ăn uống thỏa thích rồi lại bay đi.


Một nhà nọ có người đã qua đời, hôm cúng làm giỗ đầu có đông con cháu ăn cỗ. Thịt xôi và nhiều món ăn được bày lên bàn thờ, người nhà lại không quên rót ra đầy một chén rượu ngon.


Hai con ma đói ngửi thấy mùi rượu thịt hí hửng bay vào đậu lên bàn thờ. Người nhà nọ thắp một nén hương rồi xì xụp khấn khấn vái vái, cầu linh hồn người đã khuất, rồi không quên kể lể nghĩa tình, nhớ ngày thác đi, con cháu có mâm cơm cúng tạ. Thầy cúng thì ngồi xếp bằng tròn dưới chiếu, tay gõ mõ, mồm niệm thần chú, cầu hồn, cầu ma.


Hai con ma nọ nghe cúng bái vậy thì một con bảo:


- Tao nghe ông ma này thiêng lắm! Trước đây ông ấy là quan to, thấy mình giả danh, lại đến ăn trước, nhà họ phát hiện ra chẳng mách cụ ma, cụ quật cho hết đời nhà ma chúng mình.

Con kia mới bảo:

- Ma nào mà chẳng là ma, lai vô ảnh, khứ vô hình. Ai mà phân biệt được ma nào với ma nào, với lại ai đã nhìn thấy ma bao giờ mà mách.

Thế là hai con ma đói ngồi chễm chệ trên bàn thờ xơi bao nhiêu thứ. Ăn xong chúng ngự trên trần nhà xem sự thể ra sao. Còn cụ ma nhà, do già yếu, hôm ấy chẳng biết thế nào lại đi lạc sang một nhà khác, bèn ở lại đấy ăn cỗ, uống rượu, coi thế cũng xong.


Đợi hết tuần hương, người nhà khấn vái bưng mâm cỗ xuống, rồi dọn cỗ ra. Đám cỗ ăn uống hoan hỉ, hả hê cho đến tối.


Hai con ma trên trần nhà thấy thế mới bảo nhau:

- Thấy chưa! Việc gì mà sợ, cỗ bàn nguyên si. Ai biết ma mình ăn cỗ thế nào.

Quả thật, ma là tên người ta gọi thế nên thế, đúng là lai vô ảnh, khứ vô hình. Cúng giỗ thì cứ phải cúng, còn ma hay linh hồn người chết có về ăn không thì không ai biết và ăn khi nào, ăn thế nào cũng chẳng ai hay. Vì thế nên thành ngữ: “Ma ăn cỗ” như là một sự ăn vụng trộm, chẳng để lại dấu tích gì, thịt xôi cúng xong vẫn y nguyên.

Theo Đi tìm điển tích thành ngữ của Tiêu Hà Minh

banhdacua
06-10-2012, 12:11 PM
Trâu bò húc nhau, ruồi muỗi chết: Ruồi, muỗi hay đậu ở lưng bò, lưng trâu. Trâu bò húc nhau thì trâu bò chưa con nào việc gì, những ruồi, muỗi ở giữa thì bị trâu bò húc chết.
Người ta thường mượn câu này để nói cuộc xung đột giữa hai nước, hai phe, hai người, gây ảnh hưởng tai hại cho các nước khác, các phe khác, các người ở ngoài cuộc.
Trâu chậm uống nước đục: Đàn trâu xuống sông uống nước, con nào đi chậm đến sau sẽ phải uống nước đục, vì nước sông đã bị những trâu đến trước khuấy đục mất rồi. Câu này lấy chuyện trâu để khuyên người ta đi đâu không nên đi chậm giờ mà lỡ việc, hay gặp phải những việc không may.

Trâu chết, bò cũng lột da: Lột da là bị làm thịt. Trâu chết, bò cũng lột da là nói trâu bị làm thịt thì rồi bò cũng bị làm thịt. Cùng trong một hoàn cảnh, cùng một giống loài, thì phải chịu chung một số phận như nhau.
Câu này lấy chuyện trâu bò nuôi làm thịt, để khuyên người đời không nên riễu cợt, những hoạn nạn tai biến của người đồng loại. Vì cùng trong một hoàn cảnh, cùng là giống người, số phận ai rồi cũng phải giống nhau.
Trâu chết chả khỏi rơm: Giết thịt trâu, người ta thường đem thui và thui bằng rơm. Lúc sống trâu ăn rơm, mà lúc chết trâu cũng không thoát khỏi rơm. Người ta thường mượn câu này để nói: người hằng ngày vẫn làm ra bộ không cần nhờ vả, quy lụy mình và tỏ ý khinh thường mình, nhưng thật ra, sống chết vẫn không thoát khỏi sự săn sóc giúp đỡ của mình, dù người đó muốn hay không muốn.
Người ta có ý ví mình như rơm, ví người mình săn sóc trông nom như trâu. Rơm tuy là vật tầm thường, trâu là vật quí giá hơn, song vẫn phải cần đến, lúc sống cũng như lúc chết. Cũng như ở đời, người quân tử dù tỏ ý khinh bỉ kẻ tiểu nhân, nhưng sống chết, người quân tử cũng vẫn phải nhờ kẻ tiểu nhân.
Trâu chết để da, người ta chết để tiếng: Trâu chết để lại bộ da, người chết thì để lại cái tiếng.
Tiếng ấy là tiếng xấu hay tốt còn tùy cách ăn ở của con người lúc sinh thời. Câu này khuyên ta khi ăn ở nên nghĩ đến tiếng chê khen của người đời sau.
Trâu lấm vẩy càn: Trâu tính ưa nước. Gặp những ngày nóng nực, oi bức, trâu không chịu nổi, thường đằm mình xuống đám bùn lầy, khắp mình lấm như chôn như vùi.
Đằm mình chán, trâu đứng dậy, thường vẫy đuôi, quẫy mình để trút bớt bùn đất bám ở mình. Như thế là trâu lấm vẩy càn. Người ta thường mượn câu này để nói: kẻ làm nên tội vạ, hay khai bậy khai bạ làm liên lụy đến người khác, hoặc kẻ đã mắc tiếng xấu hay làm cho người khác xấu lây, có ý ví những kẻ ấy như con trâu lấm vẩy càn.

yenminh0210
09-10-2012, 10:26 AM
Tham thì thâm
Câu thành ngữ hàm ý chê trách kẻ tham lam sẽ gặp điều xấu, hám lợi, dễ bị lừa, bị hại.

Chuyện kể:
Hai anh em nhà kia, cha mẹ mất đi để lại một gia tài và một cây khế. Người anh tham lam nhận hết nhà cửa, vườn tược cho mình, chỉ để lại cho người em cây khế. Một buổi sáng, có con chim lạ đến đậu bên cây khế và mổ quả ăn khế. Người em than phiền đuổi chim đi, con chim vừa ăn khế vừa trả lời rằng: “Ăn một quả nhả cục vàng, may túi ba gang đem ra mà đựng”. Người em nghe vậy may túi ba gang để chờ chim. Sáng hôm sau, chim lại lại đến, nó bảo người em ngồi bám chặt lên mình nó rồi bay đi thật xa, đến hòn đảo từ từ hạ xuống một cái hang rồi bảo người em chui vào mà nhặt vàng. Người em vào hang thấy rất nhiều vàng bạc và châu báu, vội lấy một túi nhỏ mang ra khỏi hang. Chim lạ chờ sẵn đưa người em về nhà. Có vàng bạc, châu báu người em trở lên giàu có nhất vùng. Một hôm người anh lân la sang nhà hỏi dò em. Người em thật thà kể lại câu chuyện con chim lạ về ăn khế. Lòng tham trỗi dậy, người anh tìm cách chiếm lấy cây khế về cho mình rồi ngày ngày chờ chim đến. Rồi một ngày kia con chim lạ lại đến. Người anh cũng than phiền rồi đuổi chim đi. Chim lạ lại nói: “Ăn một quả nhả cục vàng, may túi ba gang đem đi mà đựng” rồi hẹn sáng hôm sau lên đường. Người anh sung sướng chắc mẩm phen này giàu to, bèn may cái túi thật to để sẵn ở gốc khế chờ chim. Sáng hôm sau chim đến và cũng như người em, chim chở người anh đến hòn đảo có hang giấu vàng. Vừa đến hang, người anh hoa cả mắt, rồi vơ thật nhiều vàng vào một cái túi, khi chất đã đầy túi nhưng lòng tham khôn cùng, người anh tiếp tục vơ vàng vào cái túi tiếp theo, sau đó lần lượt chuyển từng túi ra cửa hang. Đã đến lúc mặt trời sắp lặn, com chim lạ đợi mãi, người anh chuyển hai túi vàng lên mình chim rồi giục chim bay nhanh về nhà. Chim cất cánh được một lúc, khi ra đến giữa biển khơi, nặng quá chim mới bảo người anh bỏ bớt vàng đi nhưng người anh không nghe. Bay được một đoạn nữa thì chim mỏi cánh, không chịu đựng được đành hất cả người anh và hai túi vàng xuống biển. Người anh bơi lóp ngóp dưới biển vẫn kêu “vàng của tôi đâu, vàng của tôi đâu”, lúc sau thì chìm hẳn. (1)


Tham lam tới mức mù quáng không tính toán được gì, bất chấp tất cả là chuyện của người anh trong truyện. Nay thiên hạ nhiều kẻ tham lam hiểm hóc, lừa lọc thì không hại dân sao được. Tham lam đi liền với với tham nhũng thì mưu mô lắm lắm, đã thế lại đi liền với xa hoa đồi trụy. Than ôi “ Điều tham thực như vong, nhân tham tài như tử” cái lẽ xưa nay ở đời là vậy.
Theo Đi tìm điển tích thành ngữ của Tiêu Hà Minh - NXB Thông tấn

(1) Theo truyện “Cây khế” – “Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam” Nguyễn Đổng Chi, NXB KHXH, 1973.

banhdacua
13-10-2012, 10:41 AM
Trăm bó đuốc cũng được con ếch: Người ta thường đốt đuốc đi bắt ếch ban đêm.
Bị ánh đuốc soi lóa mắt, ếch cứ trợn mắt lên nhìn, nên người ta bắt dễ lắm. Bắt ếch hết bó đuốc này, người ta lại đốt bó đuốc khác, có khi đốt liên tiếp năm bảy bó đuốc và bắt ếch đến quá nửa đêm. Có khi bắt được nhiều ếch lắm, cũng có khi đông người bắt quá (đuốc như sao sa ngoài cánh đồng) ếch cũng hiếm. Nhưng cứ đốt hết bó đuốc này đến bó đuốc khác, kiên tâm kiếm mãi thì thế nào cũng bắt được, không nhiều thì ít. Bởi vậy có câu: “trăm bó đuốc cũng được con ếch”, ý nói kiên tâm bắt mãi rồi cũng được ếch. Người ta thường dùng câu này để nói hễ kiên gan bền chí, điều tra mãi thì thế nào cũng tìm được thủ phạm, hoặc làm việc mãi thì thế nào cũng thu được kết quả.

Trăm dâu đổ đầu tằm: Trăm dâu là trăm lá dâu, trăm mớ dâu, trăm thúng dâu, hay trăm thứ tiền dâu.
Trăm dâu đổ đầu tằm có thể có hai nghĩa: a)Bao nhiêu dâu đều đổ lên đầu tằm cho tằm ăn. b)Bao nhiêu tiền chi phí về dâu, sau này đều trông mong cả ở việc bán kén tằm để thu lại. Người ta thường mượn câu này để tự ví mình với con tằm để nói: a)Bao nhiêu công việc đều do một mình quyết định. b)Bao nhiêu món chi tiêu đều trông ở túi mình.

Trăm tội đổ đầu nhà oản: Nhà oản là nói gồm đoàn người được cắt chuyên môn coi việc thổi xôi oản cho nhà chùa trong những dịp cúng bái to tát. Phàm lễ nghi bày biện lên các bàn thờ Phật đều do một tay nhà oản. Cho nên về việc cỗ bàn, xôi oản, trách nhiệm nhà oản phải chịu. Nếu xôi oản làm không được tinh khiết, sạch sẽ, thổi nấu không được chín kỹ, hoặc đơm đầy đơm vơi, thì các tội ấy các Sư không phải chịu trước chư Phật, mà nhà oản phải chịu. Đại ý câu này muốn nói: việc đã phân công, thì trách nhiệm đã có người chịu.

Tre lướt cò đỗ: Tre đã ngả lướt xuống rồi, mà cò lại đỗ lên trên thì tre lại càng lướt thêm. Câu này có ý nói lúc vận đã suy lại gặp việc bĩ (xui, rủi ro) thêm, nạn này chưa hết, lại gặp nạn khác. Cũng có nghĩa: thấy người ta xuống lại đạp cho xuống thêm, cũng như con cò thấy tre lướt thì đỗ cho lướt thêm.

Trẻ cậy cha, già cậy con: Người ta lúc còn trẻ bé thì trông cậy ở cha mẹ. Ăn mặc học hành, mọi việc nhất nhất nhờ cha mẹ lo liệu cho.
Khi già cả, sức lực suy yếu, không làm lụng được nữa, thì trông cậy ở con. Con phải phụng dưỡng săn sóc cha mẹ, như cha mẹ nuôi nấng con, săn sóc con thuở xưa. Câu này nêu cái phận sự của người làm cha mẹ và của kẻ làm con cái.

yenminh0210
15-10-2012, 10:30 AM
Thả mồi bắt bóng
Câu thành ngữ ý nói bỏ đi cái đã nắm chắc trong tay để chạy theo cái chỉ là hy vọng viển vông không thực tế.

Chuyện kể:
Một con chó tham ăn, một hôm nó đớp được miếng thịt của làng bày ra đình để khao làng. Con chó ba chân bốn cẳng tha miếng thịt đến bờ sông. Sợ người làng đuổi theo nên nó chạy về phía cầu để qua sông tẩu thoát. Khi đến giữa cầu, nó nhìn xuống dòng sông, thấy có một con chó khác đang ngoạm miếng thịt to hơn. Con chó tham ăn mới nghĩ: “Ta phải cướp miếng thịt của con chó kia mới được”. Nghĩ thế nào, làm thế ấy, nó bèn nhả miếng thịt đang ngoạm ra, rồi nhảy xuống sông để tranh miếng thịt với con chó kia. Vừa nhảy xuống sông thì bóng nước tan ra, nó vùng vẫy một thôi một hồi chẳng kiếm được gì, lúc bấy giờ mọi người đổ xô ra cầm đòn đánh chó. Nước cuốn mạnh, con chó bị chìm nghỉm dưới dòng sông. (1)

Con chó tham lam là hiện thân cho kẻ ngu ngốc, thiếu thực tế.
Truyện trên gần với truyện “Bán bò tậu ễnh ương”, chê kẻ tham lam ngốc ngếch, tham bát bỏ mâm, thả con cá rô, vồ con săn sắt cuối cùng phải trả giá một cách đau đớn!
Có câu:
Người đâu tham của mắt mờ
Chó tham thấy bóng ngù ngờ mất thân.
Theo Đi tìm điển tích thành ngữ của Tiêu Hà Minh - NXB Thông tấn
(1) Theo “Con chó và miếng thịt” Truyện ngụ ngôn Việt Nam – Nguyễn Văn Ngọc, NXB Văn học, 2003.

yenminh0210
22-10-2012, 11:46 AM
Lươn ngắn lại chê chạch dài, thờn bơn méo miệng chê trai lệch mồm
Câu thành ngữ hàm ý chỉ kẻ không biết người, biết mình, chỉ biết chê người chứ không biết mình cũng có tật như người.

Chuyện kể:

Cá chép sau khi hóa rồng mới trở về vùng sông nọ tổ chức một cuộc thi sắc đẹp cho muôn loài sống dưới nước nhân vào kỳ vũ cốc. Ban tổ chức sau khi đánh giá sơ khảo, cuối cùng thì cũng tuyển chọn được con lươn và con chạch vào một cặp, con trai và con cá thờn bơn vào một cặp. Cả hai cặp thi này đều có thân hình hơi giống nhau.
Đối với cặp lươn, chạch, ban tổ chức xét đi xét lại các tiêu chí thì cái gì cũng một chín một mười, nên cuối cùng ra tuyên bó kẻ nào có thân ngắn hơn thì sẽ là kẻ trúng tuyển. Chạch sướng quá vọt lên khỏi bùn. Con lươn tuy thế không chịu bèn lươn lẹo cãi: “Con chạch mới là giống dài người, tôi đâu có đuôi, chạch nó có vây đuôi, sao tôi lại dài hơn nó được”. Hai con từ bấy cãi nhau một hồi, khiến ban tổ chức phải cầm thước đo, lươn mới chịu. Chấm đến cặp thờn bơn và trai, so đi tính lại hai con mình cũng mỏng. Con thì miệng há ra, con thì ti hí cái mồm, chẳng con nào chịu kém con nào, ban tổ chức mới tính chuyện con nào mồm miệng cân đối thì cho thắng cuộc. Lúc ấy chị thờn bơn mới nói: “Miệng tôi là cân đối nhất. Cái trai kia, mồm nó lệch hẳn một bên sao đẹp được”. Con trai và con thờn bơn lại lên diễn đàn cãi nhau, không con nào chịu con nào khiến ban tổ chức đau đầu phân định. Lúc đó cá chép vốn có kinh nghiệm phân giải mới tuyên bố: “Lươn ngắn sao chê chạch dài, thờn bơn méo miệng chê trai lệch mồm”. Thôi giải tán!

Câu này là cách nói hoán dụ. Con lươn dài hơn con chạch lại chê chạch dài, con cá thờn bơn mồm vẹo một bên lại chê trai lệch mồm. Như vậy cái không thể có cứ cãi là có, đó là cãi chày cãi cối. Truyện này dựa vào đặc điểm hơi giống nhau của lươn, chạch, trai, thờn bơn thành ra thành ngữ để răn đời. Thế nên mới có câu: Chuột chù chê khỉ rằng hôi, khỉ mới trả lời cả họ mày khôn! Những kẻ không hơn, thậm chí không bằng người khác mà vẫn cứ lên giọng chê người, thật đáng ghét!

Theo Đi tìm điển tích thành ngữ của Tiêu Hà Minh

yenminh0210
05-11-2012, 09:09 AM
Một nghề thì sống đống nghề thì chết
Câu thành ngữ ý nói một nghề mà giỏi thì thành đạt, một nghề mà chắc chắn thì sống, đừng có hời hợt, nghề gì cũng biết nhưng không chuyên một nghề gì thì sẽ đổ vỡ không thành.
Chuyện kể:
Ở một làng nọ, có một người muốn làm giàu, chuyên học đòi, ai mách gì cũng nghe theo.

Một hôm, nghe người ta đồn ở làng Ứng Thủy có nghề làm gầu kiếm ra tiền. Anh ta bèn cất công sang Ứng Thủy để học. Ba năm sau thành nghề, anh làm được gầu rồi thì năm ấy lại mưa đều, nước dư nước dật, ruộng đồng tốt tươi, chẳng ai cần đến gầu để chống hạn cả. Có người bảo: “Mưa nhiều, thì sẽ úng. Ở làng Vạc có nghề làm guồng chống úng, anh sang đó mà học”. Anh ta nghe người ta mách lại sang làng Vạc học nghề làm guồng. Nhưng năm ấy thời tiết lại khô hạn, có nước đâu mà cần guồng chống úng. Thấy trời nắng anh ta lại quyết tâm lên đường học nghề làm nón. Lần này chắc mẩm sẽ thành. Nhưng chẳng tính toán gì, lúc anh ta học được nghề làm nón thì thiên hạ chẳng mấy ai dùng nón nữa. Người ta sử dụng mũ nỉ, mũ lưới, vừa tiện vừa gọn. Chẳng bán được hàng, chẳng ra nghề ngỗng gì, anh ta ngửa mặt lên trời than:
- Trời ơi, tôi già mất rồi. Một đống nghề như tôi mà vẫn chết đói ư!

Người ta làm nghề gì cũng muốn thành đạt, nghề tinh xảo mà phát triển. Muốn được như vậy phải tu chí đến nghề, ta gọi là “chuyên”. Vậy nên có câu “Nhất nghệ tinh” là làm một nghề cho tinh thông còn hơn chín mười nghề hời hợt, chẳng nghề gì tinh thông cả. Câu thành ngữ hàm ý ca ngợi những người biết say sưa theo đuổi nghề nghiệp của mình để đem lại cuộc sống đẹp. Đồng thời hàm ý chê bai, phê phán những người thiếu kiên trì không có được nghề nào tinh thông cả.
Dân gian có câu: “Một nghề cho chín còn hơn chín nghề”.
Còn “Một nghề thì sống, đống nghề thì chết”, như anh chàng truyện trên là vậy.

Theo Đi tìm điển tích thành ngữ của Tiêu Hà Minh - NXB Thông tấn
(1) Theo “Đông Tây ngụ ngôn” – Ôn Như Nguyễn Văn Học – NXB Văn học, 2003

yenminh0210
06-11-2012, 09:15 AM
<tbody></tbody>

Mèo già hóa cáo
Câu thành ngữ ý nói đến kẻ tinh ranh càng lâu ngày càng thêm tinh khôn ranh mãnh.

Chuyện kể:
Xưa có con muỗi và con dơi, hai con có việc bất bình đi thưa kiện nhau.
Muỗi thì muốn mèo làm thầy kiện, dơi thì cầu chuột làm thầy cãi. Thầy kiện và thầy cãi vốn không ưa nhau lại chẳng biết tranh tụng ra sao nên cậy thế, thầy kiện mèo mới tiện mồm xơi thịt quách thầy cãi chuột. Dơi không còn thầy cãi, dơi thua kiện bèn tính cách báo thù muỗi.
Muỗi sợ không dám bay ra ban ngày nên cứ đợi nhá nhem tối bay ra. Dơi cũng đợi có thế, kéo đàn kéo lũ ra đớp cho thật nhiều muỗi mới hả giận.
Vì thương nhớ thầy kiện chuột nên dơi cứ tâm niệm mình là chuột, thế rồi lột xác bộ mặt của chuột vào mình để trả thù loài muỗi. Vì thế bộ mặt dơi bây giờ mới chẳng khác gì mặt chuột.
Còn nói về con mèo, càng ngày nó càng ăn chuột dữ lắm, không những thế lại còn dở chứng ăn vụng. Không có ai ngăn cản nó càng làm dữ, lâu ngày trở thành mèo già hoang. Thấy nó đã trở thành mèo già hoang, lang bạt kỳ hồ, nên trời ấn chỉ bắt nó thành loài cáo.
Ai ngờ nó thành cáo rồi thì càng ranh ma quỉ quyệt hơn, không chỉ vồ chuột, nó còn rình bắt trộm gà vịt của người.
Từ đấy dân gian truyền tụng nhau “mèo già hóa cáo” là vậy. (1)
Thực ra mèo không phải là cáo. Truyện trên nói mèo càng già thì càng ranh mãnh quỉ quyệt. Nói cáo nhưng lại thành ra con người. Người chuyên lừa đảo, sống ranh ma quỉ quyệt thì người ta ví như loài cáo vậy./.

Theo Đi tìm điển tích thành ngữ của Tiêu Hà Minh - NXB Thông tấn


(1) Theo “Đông Tây ngụ ngôn” – Ông Như Nguyễn Văn Ngọc – NXB Văn học, 2003.

yenminh0210
10-11-2012, 08:56 AM
Lừa ưa nặng


<tbody>

<tbody>
Lừa cũng có ích như ngựa, người ta dùng để chở hàng hoặc cưỡi. Đặc điểm của lừa là khi trên lưng không thồ hàng hoặc thồ quá nhẹ thì quất thế nào cũng cứ ỳ ra. Thành thử người ta phải chất lên lưng lừa hàng nặng hoặc cưỡi lên thì lừa ta mới chịu cất bước. Từ đặc điểm trên, người ta suy ra với nghĩa bóng ám chỉ người nào đó không chịu nghe lời nói nhẹ nhàng, chỉ khi nặng lời hoặc dùng roi vọt, vũ lực mới nghe theo.

Chuyện kể:
Có một người tiều phu nuôi một con lừa, hằng ngày vào rừng kiếm củi. Nhưng mỗi lần đi hái củi, người tiều phu phu này lại phải đào đất cho vào bao để khoác lên lưng con lừa. Người hàng xóm thấy lạ bèn hỏi:
- Sao bác lại chở đất vào rừng.
Người chủ con lừa phàn nàn:
- Tôi đâu muốn, chỉ tại con lừa nó chẳng chịu đi cho, khi chưa khoác lên nó cái gì.
Người tiều phu đi kiếm củi, có hôm được nhiều, có hôm được ít. Một hôm được ít củi quá, mà trời đã tối, người tiều phu chất củi lên lưng lừa nhưng nhẹ quá, lừa cứ ì ra, chẳng chịu đi cho. Lúc ấy người hàng xóm đi qua liền nói:
-Thì bác cứ chất thêm ít đất nữa lên, xem nó có chịu đi không!
Quả nhiên khi thêm đất, con lừa bắt đầu nhúc nhích theo bác tiều phu chở củi về nhà.
Từ lần ấy, khi nào có ít củi, bác tiều phu lại chất thêm cho lừa ít đất. Càng nặng thì lừa của bác tiều phu càng nhọc nhằn hăng hái men theo đường núi mà về nhà. Cứ như vậy, thành ra đất bác tiều phu mang đi thì rồi lừa lại mang đất về cùng với củi, chẳng mất đi tí gì.
Đặc tính của lừa là như vậy, người tiều phu lợi dụng nó để làm một việc có ích. Nhưng ở đời khối kẻ giống con lừa, nhỏ nhẹ thì chẳng nghe lại cứ phớt lờ lý tình, để đến khi phải to tiếng, dùng vũ lực mới nghe thì đã muộn. Vậy nên người đời mới ám chỉ rằng: “Thân lừa ưa nặng” là vậy.


Theo Đi tìm điển tích thành ngữ của Tiêu Hà Minh - NXB Thông tấn



</tbody>




</tbody>


<tbody></tbody>

tomhe
16-11-2012, 10:01 AM
Mất bò mới lo làm chuồng
Câu thành ngữ chỉ kẻ không biết lo liệu đề phòng trước, để việc hỏng rồi mới ứng cứu, lo liệu phòng thân. Cũng hàm ý chỉ kẻ dốt nát.
Chuyện kể:

Nhà kia tích cóp mua được con bò đẹp, ưng lắm, chăm bẵm suốt ngày. Tối đến, chủ nhà dắt bò buộc vào gốc tre cạnh nhà. Thằng trộm mấy lần rình, đợi khi cả nhà ngủ say, nó tháo dây thừng dắt bò đi mất. Sáng ra ngủ dậy không thấy bò đâu, nhà kia tức lắm. Người hàng xóm sang chơi thấy vậy bảo:

- Chẳng là bác không có chuồng để ngăn kẻ trộm, chứ buộc vào gốc tre thì nó dắt mất là phải.

Nhà kia nghe ra cho là phải, bèn đi mua cột cây về dựng giữa vườn một cái chuồng bò. Vừa làm anh ta vừa nói:

- Phen này thì thằng trộm kia đó mà dắt được bò của ông đi.

Người hàng xóm sang, cả cười:

- Bác mất bò rồi thì làm chuồng làm gì cho phí công, phí của.
Người mất bò lúc ấy mới mới ngớ ra mình làm gì còn bò nữa mà làm chuồng, đành lại dỡ xuống. (1)

Chuyện như bịa nhưng vẫn có trong cuộc sống. Ở đời nhiều người vẫn chẳng phòng xa, khi hỏng việc, cháy nhà, vỡ nợ, sụt cầu hoặc mất của rồi mới có ý đề phòng cẩn thận, lúc ấy, mọi sự đã trỏ nên quá muộn. Chả trách dân gian mới có câu “Cháy nhà mới đi tìm nước”, “Mất bò mới lo làm chuồng” là vậy.

Theo Đi tìm điển tích thành ngữ của Tiêu Hà Minh - NXB Thông tấn(1) Theo “Truyện cổ nước Nam”
Ông Như Nguyễn Văn Học – NXB Văn học, 2003

yenminh0210
23-11-2012, 09:04 AM
Một miệng thì kín, chín miệng thì hở
Câu thành ngữ ý nói bất cứ chuyện gì đã đến người thứ hai biết thì khó giữ được bí mật.
Chuyện kể:
Có một ông quan, một hôm, vợ quan đi vắng mới tí tóe với người hầu gái. Người hầu gái sợ quan bà nên chạy xuống bếp, chẳng may làm đổ chậu nước. Quan vừa đến đấy, quần áo lại lụng thụng, dẫm phải vũng nước nên ngã chỏng vó ra giữa bếp. Anh người làm không nhịn được mới cười chí chết. Quan ngượng quá gọi anh người làm đến dọa:
- Mày phải kín tiếng, không được nói chuyện này cho ai nghe chưa? Nếu không chết cả nhà mày đấy.
Anh người làm dạ dạ, vâng vâng. Khi hết buổi làm, anh ta về nhà nhưng nghĩ mãi đến chuyện vừa xảy ra thì cứ thế mà cười không sao nhịn được. Vợ anh ta mới hỏi, anh ta trả lời:

- Chuyện buồn cười lắm, không thể kể được.
Thấy sự lạ, vợ càng sinh nghi mới hỏi vặn anh ta mãi, sau anh ta đành kể đầu đuôi, rồi nói:
- Chuyện kín chỉ mình mình biết không được hở ra.
Câu chuyện tưởng đến đấy là dừng. Ai ngờ quan bà biết chuyện mới rày la quan ông. Quan ông cho là thằng làm mách lẻo nên tức lắm, mới gọi đến quở phạt.
Bị quở phạt, anh người làm mới gọi vợ ra trách:
- Mình rõ tệ. Câu chuyện kín đáo tôi đã nói với mình, dặn mình đừng có nói cho ai nghe. Quan bà biết chuyện là tại mình.
Anh người làm rày la vợ. Vợ chạy sang nhà Dần, đùng đùng trách cái Dần rằng:
- Cái nhà chị Dần này thật đáng trách. Tôi kể cho chị nghe, đã dặn đừng nói ai biết cơ mà. Thế mà chị tung tin ra, có chết không cơ chứ.
Dần bực lắm, mới te te chạy sang nhà Sửu mắng té tát:
- Tôi đã bảo rằng chuyện ấy không được nói cho ai hay, chỉ mình chị biết thôi. Thế mà chị cứ bô bô kể cho mọi người biết, thế là thế nào?
Trong khi người nọ tra vấn người kia rằng chẳng giữ kín chuyện, làm phiền đến nhau, mất cả chữ tín, thì anh người làm bị quan khảo cho mấy khảo rồi mắng rằng:
- Đã bảo rồi, một miệng thì kín, chín miệng thì hở. Mày kể với vợ mày, chắc vợ mày không có mồm? Bà biết chuyện tao là tại mồm vợ mày mà ra. Từ nay về sau, ông cấm mày không được vào trong bếp.

Nước ngoài có chuyện ông vua có đôi tai lừa, chỉ người cắt tóc biết. Người cắt tóc không nhịn được mới đào hố mà nói xuống hố rồi lấp đất chôn lời nói ấy đi. Nhưng “tai vách mạch rừng” nên chuyện ấy cũng giống như thành ngữ: “Một miệng thì kín, chín miệng thì hở”. Ở đời chẳng có chuyện gì là giấu kín được mãi. Chuyện quan nọ còn là chuyện nhỏ mà không giấu nổi, huống hồ những chuyện tày đình thì kín tiếng làm sao?


Theo Đi tìm điển tích thành ngữ của Tiêu Hà Minh

banhdacua
01-12-2012, 11:30 AM
Rau muống tháng 9 nhịn cho mẹ chồng Thấp thoáng trong câu tục ngữ rau muống tháng chín nhịn cho mẹ chồng là hình ảnh một nàng dâu hiền thảo, biết nhường nhịn, chăm sóc mẹ chồng, một từ nhịn hẳn cũng nói lên được điều đó. Lại nữa, nhường nhịn rau muống tháng chín lại càng rõ, vì rằng độ tháng chín rau muống đã hết vụ nên hiếm hoi. Ở đây, chúng ta gặp một cô con dâu tốt bụng và một bà mẹ chồng hạnh phúc. Nhưng trớ trêu thay, điều đó lại là một nghịch lý. Những gì tưởng như được nói ra một cách hiển minh, lại được tiềm ẩn những ngụ ý sâu sắc với một cách hiểu trái ngược đầy vẻ mỉa mai. Vẫn là rau muống tháng chín nhưng đâu phải hiểu như trên. Đành rằng, tháng chín rau muống hiếm hoi hơn, nhưng đó chỉ là thứ rau trái vụ, chát đắng và dai nhách. Vẫn là nhịn nhưng đâu phải là sự nhường nhịn chia sẻ mà là sự chịu đựng, thà không ăn, nhịn đói nhịn khát còn hơn.
Hóa ra là nàng dâu trong rau muống tháng chín nhịn cho mẹ chồng là một người con bất hiếu, dồn những gì khó nuốt, nuốt không trôi cho mẹ chồng. Câu tục ngữ phản ánh sự đối xử không tốt, thậm chí nhẫn tâm của nàng dâu đối với mẹ chồng. Quan hệ giữa nàng dâu và mẹ chồng xưa nay thường được nhìn nhận như vậy, thành ra, trong lời ăn tiếng nói của nhân dân ta mới có câu thành ngữ có tính "tổng kết" là như nàng dâu với mẹ chồng. Dĩ nhiên, đây là cách đánh giá cũ, nặng thành kiến từ xa xưa để lại ngày nay. Người phụ nữ biết rõ mối quan hệ cùng giới tính, mối quan hệ "nội bộ", và chính họ, cũng nhận thức rõ, ai chẳng qua một thời trẻ trung, ai chẳng là nàng dâu, ai chẳng về buổi xế chiều, mấy ai chẳng phải là mẹ chồng, để rồi họ thông cảm cho nhau hơn, thương yêu nhau hơn. Trong sử dụng ngôn ngữ, tục ngữ này có thể được dùng với dạng đầy đủ rau muống tháng chín nhịn cho mẹ chồng. Về ý nghĩa, câu tục ngữ này có thể được dùng vượt ra ngoài phạm vi chỉ mối quan hệ giữa nàng dâu và mẹ chồng. Trên thực tế, nó được dùng để phủ nhận, bác bỏ sự chăm sóc giữa các đối tượng khác nhau trong những mối quan hệ khác nhau.

(S.t)

banhdacua
21-12-2012, 09:40 AM
Cửa Khổng sân TrìnhTrong thành ngữ nổi bật tên tuổi hai nhân vật tiêu biểu của đạo Nho: Khổng (Khổng Tử) và Trình (Trình Tử). Khổng Tử là người học rộng, tài cao, vốn là người nhà </SPAN>Chu</SPAN> nước Lỗ (551 trước công nguyên). Khổng Tử soạn lại Lục Kinh, Kinh Thi, phê bình Kinh dịch, dịch Kinh lễ, Kinh nhạc làm Kinh Xuân – Thu và Lục nghệ. Đạo của Khổng Tử dạy gồm 8 tôn chỉ: hiếu, dễ, trung, thứ, tu, tề, trị, bình. Học trò của Khổng Tử rất nhiều. Về sau, chính họ đã chép những lời dạy của thầy mình thành Luận ngữ. Còn Trình Tử, tức là Trình Điều, một danh nho thời Tống thì cũng không hiếm người theo học. Như vậy, nói đến cửa Khổng sân Trình là nói đến hai bậc thầy nổi tiếng trong mối quan hệ với học trò của họ. Thầy và trò là tiêu biểu cho nhà trường, do đó thành ngữ cửa Khổng sân Trình dễ dàng được hiểu là trường học, nơi dạy đạo Nho thuở trước. Thành ngữ cửa Khổng sân Trình còn có biến thể là sân Trình cửa Khổng.</SPAN></SPAN>
Ngoài ra, trong văn học cổ còn dùng các từ ngữ như sân Trình, cửa Trình, cửa Tuyết, sân Tuyết với ý nghĩa tương tự như cửa Khổng sân Trình. Các dạng thức này được hình thành từ điển tích được ghi lại trong </SPAN>Chu</SPAN> Tử ngữ học</SPAN>. Số là, có hai học trò là Du Tạc và Dương Thời đến nhà Trình Tử ra mắt thầy. Đến nơi thì thầy đang nhắm mắt ngẫm nghĩ. Họ không dám cắt dòng suy nghĩ của thầy, cứ như vậy đứng lặng yên. Mãi đến khi thầy Trình mở mắt thì tuyết đã rơi ở chỗ hai cậu học trò đứng dày đến một thước. Do tích này mà các từ ngữ sân Trình, cửa Trình, sân Tuyết, cửa Tuyết chẳng những biểu hiện nơi học tập đạo Nho mà còn thêm nét nghĩa hàm chỉ ý chí quyết tâm cầu học của những người có chí tiến thủ theo con đường đèn sách thuở trước:</SPAN></SPAN>
“Thông minh sẵn có tư trời</SPAN>
Còn khi đồng ấu mãi vui cửa Trình”</SPAN>
(Bích Câu kỳ ngộ)


(S.t)</SPAN></SPAN>

banhdacua
08-01-2013, 04:38 PM
Sợ Truông Nhà Hồ, Ngại Phá Tam Giang


Sử còn ghi lại, nơi địa đầu tỉnh Quảng Bình ngày nay có một vùng đất rộng lớn cạnh là Hồ Xá, nên gọi là Truông Nhà Hồ. Ngày xưa vùng này nổi tiếng nhiều trộm cướp. Về sau, ông Nguyễn Khoa Đăng được chúa Nguyễn ủy thác đi dẹp loạn. Ông liền nghĩ ra kế giả làm khác bộ hành đi ngang Truông Nhà Hồ, để cho bọn cướp bắt đem về giam ở sào huyệt, nhưng đi đến đâu ông rải lúa để làm dấu, nhờ đó mà quân lính của ông vào tận sào huyệt dẹp tan quân cướp.

Phá Tam Giang có khúc cạn khúc sâu bất thường nên việc đi lại rất khó khăn nguy hiểm. Nhiều thuyền bè qua lại bị sóng cuộn bất ngờ bị đắm chìm.

Cho nên trong dân gian có câu:

"Thương em anh cũng muốn vô,
Sợ Truông Nhà Hồ, sợ Phá Tam Giang"

Câu đó ý nói nhiều trở ngại khó khăn khó mà vượt qua được.

(St)

yenminh0210
15-01-2013, 08:48 AM
Mưa không khắp
Câu thành ngữ ý nói về việc phân phát không đều, kẻ được người không, nơi ít nơi nhiều.
Chuyện kể:
Một năm, trời làm hạn hán, đâu đâu ruộng vườn cững nứt nẻ, hồ ao cạn kiệt, dân tình khổ sở.
Ở vùng nọ có chàng Trần Công quyết đi hỏi trời để bắt thần mưa tìm cho ra nhẽ. Trên đường đi, chàng giúp giải thoát cho một con vượn bị mắc bẫy. Vượn tạ ơn cho chàng một cây gậy thần. Nhờ gậy thần chàng tìm đến được chỗ thần mưa. Gặp thần mưa, chàng vung gậy lên, thần mưa sợ hãi nói:
- Người có việc gì mà định đánh cả người nhà trời vậy?
Chàng đáp:
- Ở hạ giới đã mấy năm nay, trời làm hạn hán, khắp nơi không có một giọt nước nào, dân tình điêu đứng. Ta lên hỏi tội thần, mau mau làm cho mưa xuống.
- Ta là thần mưa thật, nhưng nhiệm vụ này ta đã trao cho con ta. Nó đi ăn tiệc ở Thiên Cung chưa về kịp, đã mấy ngày nay ta cũng nóng ruột lắm. Thôi chàng đã lên đây ta mời chàng giúp cho con ta vậy.
Chàng Trần Công chưa hiểu gì thì thần mưa nói:
- Kia là bầu nước, bên cạnh là một nhành lá. Chàng trèo lên lưng con sư tử kia, nhúng cành lá vào bầu nước. Sư tử sẽ đưa chàng đến những miền chàng muốn, rồi cứ thế chàng vẩy nước xuống, nơi ấy sẽ có mưa.
Trần Công làm theo lời thần mưa. Nhìn xuống đã thấy một trời mù mịt. Chàng đoán là nơi ấy mưa to lắm. Mong muốn cho trần gian nước ngập đầy đồng, hết cảnh hạn hán nên Trần Công ra sức vẩy. Mệt quá chàng thiếp đi trên lưng sư tử. Khi tỉnh dậy thì sư tử đã đi hết một vòng hạ giới. Nơi sư tử đi qua lúc chàng thiếp đi, do không vẩy được nước thần, thành thử nơi ấy vẫn chưa có mưa. Khi sư tử cùng chàng bay tới vùng Hạ Hòa, chàng thấy vùng này nắng hạn đã lâu mà bầu nước thì còn nước bèn đổ tất cả nước còn lại trong bầu xuống vùng Hạ Hòa. Xong việc khi trở về hạ giới, Trần Công giật mình vì vùng Hạ Hòa nước ngập mênh mông. Ngập lụt đã làm cho dân tình điêu đứng. Chàng buồn rầu trở lại quê mình thì thấy ruộng đồng vẫn khô hạn nứt nẻ. Bấy giờ chàng mới vỡ lẽ ra rằng tại mình làm mưa không khắp.(1)
Có lẽ từ câu chuyện trên mà có thành ngữ trên. Nhưng quan trọng là từ truyện trên người ta vận dụng để nói việc khác, đó là việc xử sự không công bằng trong xã hội.
Trên thực tế thì mưa không thể rải khắp cùng lúc được nên người đời mới có câu chống chế: “Mưa làm sao khắp được”. Nhưng nói mưa là nói sự công bằng trong xã hội, đó là sự cần bàn.


Theo Đi tìm điển tích thành ngữ của Tiêu Hà Minh - NXB Thông tấn
(1) Theo "Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam", NXB Văn học, 1973

matbiec
19-01-2013, 11:01 AM
Một nghề thì sống đống nghề thì chết

Câu thành ngữ ý nói một nghề mà giỏi thì thành đạt, một nghề mà chắc chắn thì sống, đừng có hời hợt, nghề gì cũng biết nhưng không chuyên một nghề gì thì sẽ đổ vỡ không thành.

C</SPAN>huyện kể:
Ở một làng nọ, có một người muốn làm giàu, chuyên học đòi, ai mách gì cũng nghe theo.
Một hôm, nghe người ta đồn ở làng Ứng Thủy có nghề làm gầu kiếm ra tiền. Anh ta bèn cất công sang Ứng Thủy để học. Ba năm sau thành nghề, anh làm được gầu rồi thì năm ấy lại mưa đều, nước dư nước dật, ruộng đồng tốt tươi, chẳng ai cần đến gầu để chống hạn cả. Có người bảo: “Mưa nhiều, thì sẽ úng. Ở làng Vạc có nghề làm guồng chống úng, anh sang đó mà học”. Anh ta nghe người ta mách lại sang làng Vạc học nghề làm guồng. Nhưng năm ấy thời tiết lại khô hạn, có nước đâu mà cần guồng chống úng. Thấy trời nắng anh ta lại quyết tâm lên đường học nghề làm nón. Lần này chắc mẩm sẽ thành. Nhưng chẳng tính toán gì, lúc anh ta học được nghề làm nón thì thiên hạ chẳng mấy ai dùng nón nữa. Người ta sử dụng mũ nỉ, mũ lưới, vừa tiện vừa gọn. Chẳng bán được hàng, chẳng ra nghề ngỗng gì, anh ta ngửa mặt lên trời than:
- Trời ơi, tôi già mất rồi. Một đống nghề như tôi mà vẫn chết đói ư!

Người ta làm nghề gì cũng muốn thành đạt, nghề tinh xảo mà phát triển. Muốn được như vậy phải tu chí đến nghề, ta gọi là “chuyên”. Vậy nên có câu “Nhất nghệ tinh” là làm một nghề cho tinh thông còn hơn chín mười nghề hời hợt, chẳng nghề gì tinh thông cả. Câu thành ngữ hàm ý ca ngợi những người biết say sưa theo đuổi nghề nghiệp của mình để đem lại cuộc sống đẹp. Đồng thời hàm ý chê bai, phê phán những người thiếu kiên trì không có được nghề nào tinh thông cả.
Dân gian có câu: “Một nghề cho chín còn hơn chín nghề”.
Còn “Một nghề thì sống, đống nghề thì chết”, như anh chàng truyện trên là vậy.

Theo Đi tìm điển tích thành ngữ của Tiêu Hà Minh - NXB Thông tấn</SPAN></SPAN></SPAN></SPAN>
(1) Theo “Đông Tây ngụ ngôn” – Ôn Như Nguyễn Văn Học – NXB Văn học, 2003</SPAN>

banhdacua
23-01-2013, 09:49 AM
Quạ nào mà chẳng đen đầu

Khẳng định đầu con quạ nào cũng đen. Đen ở đây là ý xấu xa. Thành ngữ ví von cùng một giuộc, cùng bản chất xấu xa như nhau cả. Còn có câu: Giống quạ đen đầu. Đen như quạ.
Chuyện kể:
Xưa, quạ và công là đôi bạn thân. Màu lông của chúng đều xám xịt như rúc ở bùn lên. Một hôm, quạ bảo công:
- Đằng kia có người thợ vẽ, ta ăn trộm một ít về sửa lại bộ cánh cho đẹp.
Rồi hai con rủ nhau ăn trộm được thỏi mực tàu, một gói thuốc xanh và gói kim nhũ.
Quạ đem công ra vẽ. Nó dùng màu xanh tô vào cổ, vào mình cho công. Tô đến đâu rắc kim nhũ đến đấy. Đến cái đuôi, công xòe ra cho quạ vẽ nhưng vì màu xanh đã cạn nên chỉ vẽ được vành tròn rồi rắc nhũ lên.
Đến lượt công vẽ cho quạ thì bỗng có tiếng lợn kêu eng éc ở đằng xa. Quạ chắc mẩm sẽ được bộ lòng lợn. Càng nghĩ càng thèm, nó không tự chủ được nữa bèn giục công rối rít.
- Thôi chị vẽ cho tôi nhanh lên, kẻo lỡ hết bữa cỗ ngon.
Công vẫn đủng đỉnh:
- Cô cứ từ từ, phải có bộ cánh đẹp thì đi dự tiệc mới ra dáng chứ.
Tiếng lợn kêu càng dồn dập, quạ càng sốt ruột, nó giục:
- Chị công ơi, chị đổ cả màu đen lên mình tôi cho mau đi!
Công chưa kịp nghe ra thì quạ liền nhảy vào chậu thuốc vẽ rồi cứ thế chúi đầu xuống chậu thuốc mực tàu. Công bực quá, cầm chậu thuốc đổ cả lên đầu đó.
Thành thử bây giờ chả con quạ nào không đen đầu (1)
Tham lam, háu ăn và hấp tấp đến như quạ thì chẳng còn coi nghệ thuật là gì. Những người cùng hội cùng thuyền thì giống nhau, vì thế, phải chọn bạn mà chơi, kẻo người đời cho rằng “ngưu tầm ngưu, mã tầm mã”, bởi:
“Quạ nào mà đầu chẳng đen
Quạ đâu lại dám mon men với cò” (2)

Theo Đi tìm điển tích thành ngữ của Tiêu Hà Minh - NXB Thông tấn
(1): Phỏng theo truyện “Con công và con quạ”, Truyện cổ nước Nam, Nguyễn Văn Ngọc, NXB Văn học, 2003.
(2): Ca dao.

matbiec
24-01-2013, 03:04 PM
Mũ ni che tai

Ý nghĩa của câu thành ngữ nói về thái độ bàng quang, tiêu cực, gác bỏ ngoài tai mọi sự đời, trốn tránh đấu tranh.
Chuyện kể:
Xưa có hai vợ chồng con chiền chiện làm tổ ở tai ông sư. Vốn tâm niệm không sát sinh nên ông sư cứ để cho chiền chiện sống ở đó. Được ít lâu chiền chiện đẻ ra một chiền chiện con.

Một hôm, chiền chiện mẹ bay đi kiếm ăn. Lúc trở về qua hồ sen, chiền chiện ngỡ trong hoa sen có sâu bọ, bèn bay vào kiếm thức ăn thì bấy giờ trời đã tối, cánh hoa sen cụp lại, chiền chiện không sao ra được, phải nương náu trong hoa.

Đêm ấy, chiền chiện bố ở tổ một mình, bị con cào cào nó đánh chiếm tổ, vô tình thế nào cào cào đè gẫy mất chân chiền chiện con.

Sáng ra, hoa sen nở, chiền chiện mẹ bay về tổ. Chiền chiện bố vừa giận, vừa ghen, quát tháo mắng ầm cả lên rằng:

- Con kia! Đêm qua mày ăn nằm với ai, để ở nhà cào cào nó vào nó phá, nó làm gẫy chân con…

Chiền chiện mẹ nghe nói vội nhảy ra đứng ở vành tai ông sư om sòm chửi cào cào rằng:

- Mày làm thế nào cho chân con bà lành lại thì làm. Nếu mày để cho chồng bà đánh mắng bà thì mày chết với bà.

Cào cào bay lại đậu lên vành tai bên kia ông sư mà mắng lại rằng:

- Mày nấu cơm không lành, canh không ngọt cho chồng mày, nó đánh mắng mày chứ việc gì đến tao.

Rồi hai con hăng lên, đánh nhau toán loạn, chửi rủa nhau đến cùng, làm ông sư đinh tai nhức óc, không sao chịu được.

Có người đến bảo ông sư rằng:

- Nhà chùa không nỡ vứt cái tổ chim đi thì chụp cái mũ lên đầu, chúng cứ cãi nhau nữa cũng chẳng hề gì.

Ông sư nghe nói phải mới nhờ bà vãi đan cho một cái mũ len có cái diềm rộng.

Bà vãi đan xong cái mũ này làm ngơ được mọi điều trong thiên hạ thì gọi nó là mũ ni.

Thế rồi mỗi lần vợ chồng chiền chiện và cào cào cãi nhau, ông sư nọ lại lấy cái mũ ra đội vào, cẩn thận che kín cả hai tai và sau gáy lại, rồi a di đà Phật, “mũ ni che tai, mũ ni che tai”.

Cũng vì không bỏ tổ chim, cứ để nó làm tổ tai mình nên chẳng bao lâu nhà sư ấy đắc đạo. (1)

Cái sự cãi nhau mà lại ở ngay tai người khác mà người ấy vẫn làm ngơ được chẳng qua là nhờ cái mũ ni che tai. Thế mới hay, thờ ơ bàng quan lại được thăng chức là điều thật vô lý. Cái thói như thế, người đời còn gọi là “dĩ hòa vi quý”.

Theo Đi tìm điển tích thành ngữ của Tiêu Hà Minh - NXB Thông tấn(1) Theo truyện “Vợ chồng con chiền chiện và ông sư” Nguyễn Văn Ngọc – NXB Văn học, 2003.

banhdacua
25-01-2013, 10:24 AM
Lòng vả cũng như lòng sung

Câu truyền miệng “Lòng vả cũng như lòng sung” ám chỉ một điều lòng ta thế nào thì lòng người cũng thế. Ta sao người vậy, chớ vội chê người mà không xét mình.


<TBODY>

<TBODY>
Vả và sung cây cùng họ với nhau, quả mọc thành chùm. Quả vả to hơn quả sung. Quả sung ăn được. Ruột quả vả và ruột quả sung có côn trùng sống ký sinh.
Nghĩa bóng: Lòng dạ, suy nghĩ, tâm trạng của con người ai cũng như ai, không có gì khác nhau; cùng chung cảnh ngộ thân phận.
Còn có câu: Bụng trâu làm sao bụng bò làm vậy; Chanh khế một lòng, bưởi bòng một dạ; Lòng bầu cũng như ruột bí; Máu bò cũng như tiết dê; Ngài khác gì tằm; Sung cũng như ngái; Mái cũng như mây.

Chuyện kể:
Cây vả và cây sung mọc ở bờ ao. Hai cây làm bạn với nhau che mát cho đám rêu rong, ếch nhai. Một hôm, chả biết thế nào cây sung nói với cây vả:
- Bác vả ơi, lá của bác to như cái tai trâu, mà toàn lông lá phát khiếp. Bác sống ở đây bọn cóc nhái ghét bác vì quả của bác chẳng ai thèm ăn, rụng thối cả bờ ao. Bằng không, bác mọc ra chỗ đồi kia, vừa rộng lại có bao nhiêu đất ăn, chẳng phải tranh nhau tý đất bờ ao làm gì cho khổ.
Cây vả thấy thế bực lắm. Nó bảo:
- Cô sung thật chẳng biết điều. Vả tôi mọc ở đây trước. Ngày xưa tổ tiên cô mọc ở suối trên rừng kia, may mà có con chim ăn quả của cô, bay về đậu lên vả tôi, mới ỉa một bãi xuống, mà mọc thành cô.
Hai cây cãi nhau mãi chẳng ai chịu ai. Có con chim thường bay qua lại đây để mổ quả vả và quả sung nghe thấy vậy, nó cười như hót, rồi bảo rằng:
- Chị vả và chị sung ơi, đừng cãi nhau nữa, các chị không biết đấy thôi chứ tôi mổ quả của các chị tôi biết. Lòng chị vả cũng như lòng chị sung thôi, đều đầy những muỗi, hay gì mà cứ cãi nhau thế.
Cây vả và cây sung lúc ấy mới ngượng ngùng xem lại quả của mình thì thấy ruột quả rỗng giống nhau, lại còn đầy côn trùng sống ký sinh.

--------------------Câu truyền miệng “Lòng vả cũng như lòng sung” ám chỉ một điều lòng ta thế nào thì lòng người cũng thế. Ta sao người vậy, chớ vội chê người mà không xét mình.
Lòng vả cũng như lòng sung
Một trăm con lợn cũng chung một lòng.

(Ca dao)Giống như cây vả và cây sung chê trách, nói xấu nhau, nhưng chỉ có con chim mới biết trong ruột sung, ruột vả như thế nào.

(Theo “Đi tìm điển tích thành ngữ”. NXB Thông Tấn)


</TBODY>





</TBODY>

yenminh0210
28-01-2013, 10:44 AM
Cốc mò cò xơi
Câu thành ngữ nói đến việc làm uổng công, vô ích, làm cho người khác hưởng


Chuyện kể:

Con cò và con cốc chơi với nhau. Con cò thì thì lanh lợi, hay bắt nạt con cốc nhưng nó lại lười biếng, co chân ngủ suốt ngày. Con cốc thì hiền lành thật thà. Một hôm, con cò nói với con cốc:
- Cốc ơi, mày có cái mỏ dài, lại mò cá giỏi. Mày chịu khó ra ruộng bờ sông kia, mỗi buổi mò lấy vài con chúng ta cùng ăn.
Cốc hiền lành, nhưng phàn nàn nói lại:

- Chị cũng là giống cò chuyên bắt tôm cá, vậy tôi với chị cùng đi, càng được nhiều.
Con cò mới tán tỉnh rằng:

- Hai người cùng đi, ai trông nhà, lỡ có con rắn hay con quạ cắp mất trứng thì khốn.
Cốc thật thà đi mò, nhưng được con cá tép nào nó tiện mỏ xốc luôn vào ruột. Lúc về chỉ quắp được mỗi con cá nhỏ mang về cho cò. Nhiều lần như thế, cò liền nghĩ ra một mẹo bắt cốc mò được con cá nào cũng phải mang về hết cho mình, liền nịnh cốc:

- Cốc à, ta có cái vòng xinh xắn, chị sếu mới tặng cho, ta thấy cốc thật thà hiền lành, ta tặng lại cốc. Lại đây, ta đeo vào cổ cho nào.
Cốc thấy cái vòng cổ đẹp thì thích quá. Nó giục cò đeo vào cổ cho mình. Nhưng cái vòng nhỏ làm cho cò phải hết sức mới cho vòng lọt xuống cổ cốc được. Vòng đeo vào cổ rồi, cốc lấy làm mãn nguyện lắm, bèn nhanh nhảu ra ruộng bắt cá. Nhưng mỗi lần mò được con cá, nó định nuốt vào bụng thì lại cứ nghẽn ở cổ vì cái vòng ở ngoài thắt chẹn lại, nó đành quắp về cho cò. Cứ thế, cứ thế, mỗi lần nó thèm con cá nhưng không sao nuốt cho được lại thật thà đem dâng cò. Cò ăn cá no bụng mới nói:
- Mày không ăn được con to thì có con tép tôm nào nho nhỏ có nuốt lấy mà sống.
Con vạc đứng trên cây cao chứng kiến cảnh ấy mới nghển cổ ca rằng:
- Cốc mò cò xơi. Cốc mò cò xơi! (1)


Cái phép ăn chặn của cò thật tài tình. Kẻ làm ra của cải chẳng được hưởng mà kẻ ngồi chơi bắt kẻ khác mang thức ăn cho mình. Thật là bất công. Thời nay, cái chuyện “cốc mò cò xơi” chẳng lấy gì là lạ. Những ông chủ cò khoác vào cổ kẻ làm công những cái ách có khác gì cái vòng đeo cổ cốc. Có thể từ chuyện trên mà có thành ngữ: “Cốc mò cò xơi”.
Theo Đi tìm điển tích thành ngữ của Tiêu Hà Minh,
NXB Thông tấn
(1) Theo “Truyện cổ nước Nam” của Ôn Như Nguyễn Văn Học, NXB Văn Học, 2003

matbiec
28-01-2013, 01:36 PM
Như nước đổ đầu vịt

Với một số đối tượng, thì có khuyên bảo, dạy dỗ đến đâu cũng vô ích, không có tác dụng gì. Công sức dạy bảo khuyên nhủ đó cũng như "nước đổ đầu vịt" mà thôi.
Như đã biết, đầu vịt đã bị thon, lại hơi nhô. Lông ở đầu vịt thường dày và mượt. Thành ra, nước đổ lên đầu vịt cứ trôi tuồn tuột, chẳng dành thấm vào đâu được. Hiện tượng có thực này dễ làm người ta liên tưởng đến việc không tiếp thu lời khuyên bảo ban của một số người. Ở họ, dẫu có cố công giảng giải, răn bảo bao nhiêu thì cũng vô ích. Họ không ghi nhớ, không hiểu ra do kém trí thông minh, ít hiểu biết hoặc trì độn. Nhưng cũng có khi không phải vì kém cỏi, tối dạ mà là do sự bướng bỉnh, gàn quấy, hiểu cả đấy, biếtt là lời hay lẽ phải đấy, nhưng cứ không nghe theo không làm theo như chẳng nghe gì cả. Kẻ dốt nát thì không tiếp nhận lời dạy bảo là chuyện bình thường. Họ cứ ù ù cạc cạc như vịt nghe sấm. Nói với họ rõ là chán, nói với đầu gối còn hơn. Như vậy, cả kẻ dốt nát và kẻ bướng bỉnh đều gặp nhau ở chỗ là mọi lời giáo huấn, chỉ dẫn đều vô tích sự, đều vô dụng, không mang lại hiệu quả gì.
Dần dần thành ngữ "nước đổ đầu vịt" được mở rộng để chỉ sự vô tác dụng, vô ích, không có kết quả nói chung.
Gần nghĩa với "nước đổ đầu vịt" còn có một loạt thành ngữ như: như nước đổ lá khoai (môn), như nước đổ đầu chày...

(St)

thocon
22-02-2013, 02:33 PM
Ông Tơ bà Nguyệt
Thành ngữ chỉ những người mối lái trong việc dựng vợ gả chồng, xe duyên cho đôi lứa.
Chuyện kể:
Tương truyền Vi Cố, đời nhà Đường, bên Trung Quốc, một hôm gặp một bà già chột mắt ẵm đứa bé đi qua chợ. Một người không rõ ở đâu đến bảo: “Đứa bé sau này sẽ là vợ anh”.
Giận quá, Vi Cố cho đầy tớ đi giết đứa bé. Người đầy tớ lùng sục, rồi lén đâm đứa bé, sau đó bỏ trốn.
Mười bốn năm sau, Vi Cố lấy vợ. Vợ Vi Cố là Vương Thái, con quan Thái Sử Trương Châu. Cô gái có dung nhan đẹp, giữa lông mày có đính điểm một bông hoa vàng. Gạn hỏi vợ mới bảo:
- Thuở còn bé, một bà vú họ Trần bế vào chợ bị cuồng tặc đâm dao. Vi Cố bèn gạn hỏi:
- Người vú đó có phải bị chột một con mắt không?
Vợ Vi Cố trả lời:
- Đúng thế.
Chuyện cũ nhắc lại khiến Vi Cố ngày đêm lo nghĩ khôn nguôi.
Một đêm trăng sáng, Vi Cố mơ thấy có con hạc ở đâu bay đến, mời Vi Cố ngồi lên lưng rồi bay lên trời. Đến cung trăng, Vi Cố thấy một ông già quắc thước, râu trắng như cước và một bà lão ngồi trên hai bậc đá. Vi Cố đánh bạo hỏi ông cụ:
- Dám hỏi hai cụ làm gì ở đây và tên họ là gì?
Cụ già điềm tĩnh đáp:
- Ta là lão Tơ, còn kia là Nguyệt lão. Chúng ta chỉ có một việc là xe duyên.
Vi Cố lại hỏi tiếp:
- Hai cụ xe duyên thế nào?
Cụ già đáp:
- Cứ đợi đấy sẽ biết!
Một lúc sau, có đôi trai gái từ đâu tới. Lão Tơ lấy ra một sợi tơ hồng trong một cái giỏ buộc hai cổ chân của đôi nam nữ lại với nhau. Đoạn Nguyệt lão vẩy lên tóc của hai người một thứ nước tiên, rồi hai người ra đi. Cứ thế, chốc chốc lại có một đôi trai gái đến để được buộc tơ hồng vào cổ chân rồi lại được vẩy lên tóc một thứ nước thơm. Lúc vãn việc cụ già nói với Vi Cố:
- Họ đã thành vợ thành chồng rồi đấy.
Tỉnh giấc, nghĩ cái duyên của mình với người con gái ngày xưa mà mình cố ý lén cho người đâm chết, chính lại là vợ mình, mới cho rằng “tình duyên là do trời xe nên”. Đó cũng là nhân là nghĩa, những đôi trai gái mà Vi Cố đã gặp trên cung trăng cũng là duyên phận. Nghĩ mình, Vi Cố mới hết sức lập ra người mối lái, giống như ông Tơ, bà Nguyệt trên trời để se duyên kết chỉ cho các đôi trai gái, và cũng đặt tên cho người mối lái xe duyên là ông Tơ, bà Nguyệt. Ông Tơ, bà Nguyệt ở dưới trần gian do Vi Cố lập ra dùng chỉ hồng buộc cổ tay cho các đôi trai gái hoặc dùng cau trầu đặt lễ để bắt mối se duyên.
Vi Cố hết sức mãn nguyện và cảm ơn hạc trời đa đưa ông lên tận ông Tơ, bà Nguyệt để học cách xe duyên.
Trải qua nhiều đời, ông Tơ, bà Nguyệt hay còn gọi là ông mối, bà mối vẫn còn lưu truyền. (1)

Mối lái với nhân duyên là chuyện gắn bó với nhau. Nét văn hóa đẹp lưu giữ muôn đời và được thêu dệt từ những sợi tơ hồng và ánh trăng, với nước thơm. Đó là tình yêu lung linh bền chặt. Tuy nhiên trong thực tế, càng ngày trai gái càng có nhu cầu tự mình tìm và lựa chọn, quyết định người bạn đời của mình nên vai trò ông Tơ, bà Nguyệt ít được nói đến. Thậm chí, khi xe duyên, nếu không xuất phát từ tình yêu thì cũng thật trớ trêu.

Theo Đi tìm điển tích thành ngữ của Tiêu Hà Minh,
NXB Thông tấn(1): Theo truyện “Nguyệt Lão” – “Điển tích Văn học” Mai Thục- Đỗ Đức Hiểu- NXB Văn học, 1997

yenminh0210
01-03-2013, 09:19 AM
Ốc không nổi mình ốc lại mang cọc cho rêu
Câu thành ngữ ý nói về việc lo liệu cho mình chẳng xong lại còn ôm đồm, cáng đáng cho người khác.
Chuyện kể:

Một con cốc xuống ao mò cá bắt được con ốc. Ốc hổi cốc:
- Trời lạnh thế này mà anh cũng dám tắm à?
Cốc khoác loác rằng:
- Ta quản chi giá lạnh, mưa nắng, khi ta dẹp cánh lại thì ta lội khắp sông hồ. Khi ta giương cánh lên thì bay được mấy tầng cao.
Ốc nói:

- Nhà tôi ở dưới nước quen rồi. Còn anh, tôi chỉ lo anh xuống đây không khéo thì nó mọc rêu ra đầy đầu đấy.

Chuyện giữa ốc và cốc kéo dài làm cho cốc phải ở dưới nước lâu quá thành ra mỏi cánh. Cốc liền dọa ốc:
- Này ốc, mày phải cõng cái cọc dựng lên để cho ta đậu, không ta nuốt mày vào bụng.
Ốc chậm dãi van nài cốc rằng:
- Thân tôi đã thế này, anh thấy đấy, tôi mang nổi mình đã khổ lắm rồi. Vậy mà rêu còn bám đầy vào, bắt tôi phải cõng cả rêu. Bây giờ lại mang cả cọc và rêu cho ông đậu, tôi làm sao nổi. Thôi được, tôi cố mang cái cọc rêu này, ông cứ đậu vào cho đỡ mỏi cánh.

Nói rồi, con ốc cố gắng hết sức cõng cái cọc để cho cốc đậu, nhưng cọc rêu nặng quá, không chịu nổi, nó bèn ngậm miệng lại, rồi chìm xuống nước. Còn con cốc mỏi cánh phải bay lên bờ đậu. (1)

Chuyện hàm ý nhắc nhở người đời đừng làm gì vượt quá khả năng của mình. Bản thân ốc phải vác cái vỏ to hơn người nó nên đã vất vả khó nhọc lắm rồi thế mà còn phải đèo bòng thêm cái cọc rêu nữa, thử hỏi vác sao nổi. Câu thành ngữ này có ý chê bai những kẻ không hiểu được sức mình, không tự lo được cho mình lại còn ôm đồm, gánh vác cho người khác chỉ làm trò cười cho thiên hạ.

Theo Đi tìm điển tích thành ngữ của Tiêu Hà Minh,
NXB Thông tấn(1) Dựa theo truyện Ốc và Cốc
Ôn Như Nguyễn Văn Ngọc – NXB Văn học, 2003

tomhe
09-03-2013, 09:33 AM
Chữ như gà bới
Thành ngữ này ý chê người viết chữ xấu, nguệch ngoạc, thiếu nét, chẳng có hàng lối.
Chuyện kể:

Một đêm cậu ấm học bài rả rích. Con bò nghe tiếng bảo con gà:
- Thằng này nó đi thì thì mày chết trước. Nó thi đỗ thì tao chết sau. Mầy biết sao không?
Gà ra chừng không hiểu, bò liền giải thích:
- Khi nó đi thi thì chắc ông chủ sẽ giết mày làm lễ cáo tổ. Còn như nó thi đỗ thì chắc tao sống sao được, nó khao cả làng.
Con gà bèn nói:
- Mày ngủ mày biết đâu đấy. Chớ tao thức, tao biết cả. Này nhé. Nó học cũng chỉ như mày, mà nó viết cũng chỉ như tao, chắc nó không dám vác lều chõng đi thi đâu mà sợ.
Bò hỏi:
- Học như tao, viết như mày là thế nào?
Gà đáp:
- Học dốt như mày thì ai chả biết. Còn viết như tao, thì mày cứ xem tao bới như thế nào thì nó viết như thế! (1)

Xưa và nay người ta đều có luận điểm: nét chữ nết người. Quả là chữ đẹp dễ đọc, dễ mến, đánh giá được phần nào tính chăm chỉ, cẩn thận, siêng năng. Vậy nên giáo dục nước nhà mới có phong trào “vở sạch chữ đẹp”. Tuy nhiên giới trẻ ngày nay lại chuyên chú tâm đến công nghệ chứ ít chú tâm đến luyện chữ rèn người. Vậy nên học sinh rèn viết chữ đẹp là việc cần làm.

Theo Đi tìm điển tích thành ngữ của Tiêu Hà Minh,
NXB Thông tấn (1) Theo “Truyện cổ nước Nam” của Ôn Như Nguyễn Văn Học, NXB Văn Học, 2003

yenminh0210
15-03-2013, 09:16 AM
Chết đuối vớ được cọc




Câu thành ngữ chỉ việc gặp may mắn, đang lúc nguy ngập lại có chỗ bám víu, thoát khỏi tình trạng tuyệt vọng.
Chuyện kể:

Xưa có tên nhà giàu, keo kiệt đến bẩn thỉu. Một hôm có người làng bên mời hắn sang ăn liên tục, lúc về biếu hắn một bị khoai ngon. Hắn khoác bị khoai xuống thuyền sang sông xem chừng hí hửng lắm.

Người lái đò mới hỏi:

- Bác khoác bị gì mà nặng thế? Bác cứ để xuống sạp thuyền cho đỡ mỏi.

Tên nhà giàu ích kỷ, sợ lúc lên bờ quên bị khoai nên chống chế:

- Thôi cảm ơn bác, tôi đã khoác nó vào cổ rồi, tháo ra buộc vào ngại lắm.

Thuyền đến gần bờ bỗng chòng chành do có sóng lớn ập đến. Người lái đò quen với sông nước nên chẳng có cơ sự gì, nhưng còn tên nhà giàu kia bị lộn cổ xuống sông, chới với một lúc. Rất may ở gần đấy có một cái cọc tre của người cắm đăng, hắn mới quờ quạng bám vào được. Người lái đò biết cái cọc cắm ở đấy lâu ngày đã mục, lại thêm cái bị khoai nặng, nên kêu to:

- Bác thả cái bị ra.

Tên nhà giàu lúc ấy mới hoảng hồn, tháo cái bị đeo ở cổ ra. Cái bị khoai chìm xuống, tên nhà giàu nhìn theo tiếc rẻ.

Người lái đò vội bơi thuyền đến vớt tên nhà giàu lên, đoạn mới nói:
- Số ông còn may đấy! Chết đuối vớ được cọc.

Lúc đã hoàn hồn, tên nhà giàu mới mở miệng nói:

- Nhưng bị khoai của tôi…Tiếc thật!

Giữa lúc nguy ngập, khó khăn tưởng như không còn lối thoát mà có “cứu tinh”, nhờ đó mà thoát hiểm, đó là gặp may mắn, giống như “chết đuối vớ được cọc” vậy.

Theo Đi tìm điển tích thành ngữ của Tiêu Hà Minh,
NXB Thông tấn






Theo Quehuongonline

banhdacua
25-03-2013, 11:49 AM
Cốc mò cò xơi

Câu thành ngữ nói đến việc làm uổng công, vô ích, làm cho người khác hưởng



Chuyện kể:

Con cò và con cốc chơi với nhau. Con cò thì thì lanh lợi, hay bắt nạt con cốc nhưng nó lại lười biếng, co chân ngủ suốt ngày. Con cốc thì hiền lành thật thà. Một hôm, con cò nói với con cốc:
- Cốc ơi, mày có cái mỏ dài, lại mò cá giỏi. Mày chịu khó ra ruộng bờ sông kia, mỗi buổi mò lấy vài con chúng ta cùng ăn.
Cốc hiền lành, nhưng phàn nàn nói lại:

- Chị cũng là giống cò chuyên bắt tôm cá, vậy tôi với chị cùng đi, càng được nhiều.
Con cò mới tán tỉnh rằng:

- Hai người cùng đi, ai trông nhà, lỡ có con rắn hay con quạ cắp mất trứng thì khốn.
Cốc thật thà đi mò, nhưng được con cá tép nào nó tiện mỏ xốc luôn vào ruột. Lúc về chỉ quắp được mỗi con cá nhỏ mang về cho cò. Nhiều lần như thế, cò liền nghĩ ra một mẹo bắt cốc mò được con cá nào cũng phải mang về hết cho mình, liền nịnh cốc:

- Cốc à, ta có cái vòng xinh xắn, chị sếu mới tặng cho, ta thấy cốc thật thà hiền lành, ta tặng lại cốc. Lại đây, ta đeo vào cổ cho nào.
Cốc thấy cái vòng cổ đẹp thì thích quá. Nó giục cò đeo vào cổ cho mình. Nhưng cái vòng nhỏ làm cho cò phải hết sức mới cho vòng lọt xuống cổ cốc được. Vòng đeo vào cổ rồi, cốc lấy làm mãn nguyện lắm, bèn nhanh nhảu ra ruộng bắt cá. Nhưng mỗi lần mò được con cá, nó định nuốt vào bụng thì lại cứ nghẽn ở cổ vì cái vòng ở ngoài thắt chẹn lại, nó đành quắp về cho cò. Cứ thế, cứ thế, mỗi lần nó thèm con cá nhưng không sao nuốt cho được lại thật thà đem dâng cò. Cò ăn cá no bụng mới nói:
- Mày không ăn được con to thì có con tép tôm nào nho nhỏ có nuốt lấy mà sống.
Con vạc đứng trên cây cao chứng kiến cảnh ấy mới nghển cổ ca rằng:
- Cốc mò cò xơi. Cốc mò cò xơi! (1)


Cái phép ăn chặn của cò thật tài tình. Kẻ làm ra của cải chẳng được hưởng mà kẻ ngồi chơi bắt kẻ khác mang thức ăn cho mình. Thật là bất công. Thời nay, cái chuyện “cốc mò cò xơi” chẳng lấy gì là lạ. Những ông chủ cò khoác vào cổ kẻ làm công những cái ách có khác gì cái vòng đeo cổ cốc. Có thể từ chuyện trên mà có thành ngữ: “Cốc mò cò xơi”.
Theo Đi tìm điển tích thành ngữ của Tiêu Hà Minh,
NXB Thông tấn

honghue
25-03-2013, 01:22 PM
Như vợ chồng ngâu

Câu này hàm ý chỉ cảnh vợ chồng xa cách, biệt ly.

Chuyện kể:

Ở một khu rừng nọ có một cái suối trong. Các nàng tiên trên trời thường đến suối tắm vui đùa thỏa thích, người ta gọi là Suối Tiên. Khi tắm, các nàng đều chút bộ cánh trên bờ, xuống bơi lội đùa giỡn cho thỏa thích. Một hôm có chàng đốn củi mải mê ngắm nhìn.

Bỗng có ba cánh trắng để trên bờ, chàng ta bèn lấy trộm một bộ rồi nấp vào bụi cây.Tắm xong, ba nàng tiên lên bờ. Hai nàng nhận được bộ cánh của mình bay vụt lên trời. Còn một nàng mất cánh đang ngơ ngác thì anh chàng đốn củi bước ra.


Nàng tiên cầu khẩn:

- Hỡi chàng trai, hãy vui lòng trả cho ta đôi cánh để ta về trời.

Chàng trai tươi cười trả lời:

- Nàng đã thuộc về ta, nàng hãy theo ta về làm vợ.

Kẻ xin, người giữ, nhùng nhằng mãi cho đến xế chiều, nàng tiên đành lòng theo chàng trai về nhà. Từ đó nàng tiên trở thành vợ người đốn củi. Họ sinh hạ được một người con trai. Một hôm, chàng đốn củi có việc phải đi xa. Chàng dặn vợ:

- Mẹ con nàng ở nhà, có ăn thì ăn đụn lúa vàng, rồi sang đụn lúa gié, chớ ăn đụn lúa giệ, có tổ ong vò vẽ, đốt cả mẹ lẫn con.


Nhưng người vợ ở nhà không làm theo người chồng dặn. Sau khi ăn hết đụn lúa vàng, nàng chuyển sang đụn lúa giệ. Không thấy có tổ ong vò vẽ nàng sinh nghi. Tìm tòi một lúc nàng nhận ra bộ cánh của mình chồng giấu trong cót thóc.


Được cánh, nàng tiên nóng lòng về thăm cha mẹ. Nhưng vì thương con nên nấn na chưa chịu về. Sắp đến ngày chồng về, một buổi nàng bèn làm thật nhiều bánh và dặn con:

“Con ở nhà, hễ khi nào đói bụng thì lấy bánh ra mà ăn, đợi cha về con nhé!”.

Đoạn gài lên áo con một chiếc lược và bảo:

- Con ở nhà nhớ giữ chiếc lược cho cha.


Rồi nàng bay bổng lên không trung về trời.

Người chồng về thấy chiếc lược trên áo con thì đoán ngay ra nông nỗi. Hai cha con buồn rười rượi, côi cút ngóng trông.


Một hôm, chàng bế con ra suối tiên, nấp vào chỗ kín. Trưa hôm sau một bà tiên già từ trên trời cầm lọ xuống lấy nước. Chàng tiến lại gần và cầu khẩn:

- Hỡi bà tiên. Bà hãy thương cha con tôi. Ba năm trước đây có nàng tiên xuống tắm chốn này, nàng đã làm vợ tôi và sinh hạ với tôi thàng bé này. Nay nàng đột ngột trở về trời để lại niềm thương nhớ cho hai cha con chúng tôi.


Bà tiên cầm lọ nước giơ lên như làm phép rồi nói:

- Nàng tiên đó là Ả Chức. Ả Chức hàng ngày dệt vải nhưng luôn nhớ chồng, nhớ con. Được, ta sẽ giúp ngươi.


Nói đoạn bà tiên múc lọ nước bay lên trời. Chiều hôm đó, có hai người nhà trời đem túi nhà trời đưa cho cha con người đốn củi bay vút lên chín tầng mây. Đến canh khuya, hai cha con được vào cõi lộng lẫy. Trước mặt họ, nàng Ả Chức xuất hiện vẫn đẹp như xưa. Vợ chồng, mẹ con gặp nhau mừng mừng, tủi tủi.


Sau khi biết rõ tình cảnh của họ, Ngọc Hoàng thương tình bèn cho cha con người đốn củi ở lại hà trời, giao cho chàng chăn trâu. Sau này người ta gọi chàng là chàng Ngưu, gọi chệch là chàng Ngâu. Hàng ngày, Ngưu thả trâu ăn cỏ bên này bờ sông Ngân Hà, còn nàng Chức dệt vải bên bờ sông kia. Mỗi năm Ngọc Hoàng chỉ cho họ gặp nhau một lần vào ngày mồng 7 tháng 7 âm lịch. Còn đàn quạ thì ngày đó phải đội đá bắc cầu qua sông cho vợ chồng họ gặp nhau. Cầu ấy gọi là cầu Ô Thước.


Từ đó, cứ đến mồng 7 tháng 7 thì trời khác thường. Mưa ào ào rồi lại tạnh ngay, người ta gọi là mưa ngâu. Mưa ngâu thất thường, rỉ rả suốt ngày. Người ta đồn rằng đó là những giọt nước mắt của hai vợ chồng họ được gặp gỡ nhau trong một ngày, rồi lại ly biệt cho đến năm sau.



Từ chuyện trên mà nên thành ngữ “Như vợ chồng Ngâu” để nói cảnh vợ chồng biệt ly. Dân gian cũng mượn cái quy luật của khí hậu thời tiết tháng bẩy mà thêu dệt cảnh nước mắt đặt cho nó cái cái tên mưa ngâu thần thoại, thật hợp với cảnh sụt sùi ly biệt của đôi vợ chồng yêu thương nhau mà khó khăn trắc trở. Có lẽ vì thế mà dân gian vẫn kiêng cưới hỏi vào tháng bảy là thế.

Theo Đi tìm điển tích thành ngữ của Tiêu Hà Minh - NXB Thông tấn

yenminh0210
29-03-2013, 09:40 AM
Gửi trứng cho ác

Con quạ còn được gọi là ác. Gửi trứng cho ác tức là gửi trứng cho quạ, mà trứng là món ăn quạ thèm khát. Câu thành ngữ ở đây hàm ý nói kẻ khờ dại, thật thà tin tưởng cậy nhờ vào kẻ bất lương, gửi gắm niềm tin vào, tình cảm cảu mình vào kẻ ác mà không biết.
Chuyện kể:
Ở trên cây cao có tổ ác là. Chim ác là mẹ vừa đẻ ra một loạt trứng. Nó mừng, nó ấp mong nở thành con. Ấp trứng đã mấy ngày rồi, ác là đói quá định bụng đi kiếm gì lót dạ để mà có sức ấp tiếp. Nhưng định bay đi lại thôi, sợ ở nhà mấy con rắn nó xơi mất trứng. Đang băn khoăn thì có một con quạ bay tới gần chỗ đó. Chim ác là nghĩ “quạ nó tuy to nhưng cùng loài chim, có thể gửi nó trông hộ trứng, nếu nó ấp cho thì càng tốt”. Chim ác là bèn nhờ:

- Chị quạ ơi, tôi ấp mấy ngày nay rồi cũng cần phải có cái gì vào bụng. Chị trông giúp tôi đàn con sắp nở. Sau này đàn con tôi ra nhiều, loài chim chúng ta cùng hưởng chung cảnh vui thú thiên nhiên.
Chim ác là có đâu biết rằng, quạ đang rắp tâm rình ổ trứng của nó. Trúng ý đồ, quạ như cởi lòng:

- Em ơi, em cứ đi kiếm mồi, lâu cũng được. Chị sẽ thay em ấp trứng cho em. Em chẳng phải lo gì cả. Chị vốn khỏe mạnh, lại chẳng sợ kẻ khác. Đứa nào dám lấy trứng của em. Chim ác là nghe lời ngon ngọt bay đi kiếm mồi, lòng những mong mau chóng chóng về ấp trứng. Chỉ chờ có thế, ác là bay đi được một quãng đường quạ ta ung dung chén hết trứng trong ổ trứng ác là chỉ để lại phần vỏ trứng.

Chim ác là về thấy vậy, khóc lóc thảm thiết, vật lộn trên cây, mồm kêu “sao nó ác thế, ác ác là”. Nó kêu mãi, như thế người ta mới đặt cho nó là con chim ác là chửi rủa con quạ để nhắc tới việc con quạ ăn sạch trứng của nó. Rồi loài chim cũng vỡ lẽ, con quạ chính là kẻ ác, đừng bao giờ gửi trứng cho ác.
Ở đời quá nhiều người hiền lành, cả tin. Song cũng không thiếu kẻ lợi dụng lòng tin đó để làm điều ác. Kẻ đó là kẻ bất lương. Chuyện trên cũng cho ta lời khuyên và bài học cảnh giác. Câu “gửi trứng cho ác” thường được vận dụng để răn nhau trong cuộc sống sinh hoạt thời nay.

Theo Đi tìm điển tích thành ngữ của Tiêu Hà Minh,
NXB Thông tấn

(Quehuongonline)

yenminh0210
05-04-2013, 11:43 AM
Như vợ chồng sam
Câu thành ngữ chỉ vợ chồng chung thủy, sống chết bên nhau, luôn luôn cùng nhau.

Chuyện kể:

Ngày xưa, ở một vùng biển Đông, có hai vợ chồng người đánh cá nghèo. Một hôm chồng ra khơi thả lưới thì bão lớn nổi lên, nhấn chìm cả thuyền đánh cá.

Tin dữ về làng. Người vợ ở nhà, lòng đau như cắt, rồi nàng bỏ nhà ra đi hy vọng tìm thấy chồng.

Người vợ cứ đi, đi mãi, men theo bờ biển đến một hòn núi lớn, rồi mệt quá ngủ thiếp ở dưới một gốc cây.

Đang ngủ thấy một ông lão đầu tóc bạc phơ đứng trước mặt mình. Ông lão nói:

- Ta là thần cây. Thấy nhà ngươi chân tình ta rất thương. Vậy ta báo tin cho nhà người biết là chồng ngươi còn sống, hiện ở ngoài hải đảo.

Nói rồi ông cụ trao cho người đàn bà viên ngọc và bảo:

- Ngươi hãy ngậm ngọc này thì tự nhiên sẽ bay qua biển đến đảo sẽ được gặp chồng. Nhưng nhớ là phải nhắm mắt, ngậm miệng kẻo rơi viên ngọc mà nguy đó.

Ông cụ nói xong biến mất. Người đàn bà ngậm ngọc nhắm mắt bay đi. Đến khi chân chạm đất nàng nở mắt ra thì thấy đã đứng ở bãi cát. Trông thấy chồng, nàng mừng quá. Hai vợ chồng hàn huyên hồi lâu rồi tính chuyện quay về làng.

Người chồng ôm ngang lưng vợ để vợ bay qua biển cả. Người vợ sung sướng không thể nói hết. Vì thế người vợ quên mất lời dặn của thần cây. Người vợ mở miệng, hỏi han chồng. Đột nhiên viên ngọc văng ra. Người vợ chỉ kịp kêu lên một tiếng rồi cả hai sa xuống biển. Rồi sau đó họa hóa thành đôi sam.
Ngày nay, những con sam thường đi cặp đôi lúc nào con đực cũng ôm lấy con cái, giống như đôi vợ chồng bay từ hòn đảo nọ qua biển trời để trở về nhà.(1)


Đôi sam đã trở thành câu vận cho những đôi vợ chồng chung thủy quấn quýt, không thể rời nhau. Cái đức học được là tình chồng vợ cao cả vậy. Từ đặc điểm của đôi sam mà có truyện trên, sau trở thành thành ngữ.

Theo Đi tìm điển tích thành ngữ của Tiêu Hà Minh,
NXB Thông tấn(1) Theo “Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam”, Nguyễn Đổng Chi –NXB Văn học 1973.
Theo quehuongonline

yenminh0210
17-05-2013, 11:15 AM
Niêu cơm Thạch Sanh

<tbody>

<tbody>
Câu thành ngữ chỉ của cải vật chất không bao giờ hết, hết lại có, vơi lại đầy.
Niêu là một loại nồi nhỏ được làm bằng đất nung để nấu cơm, kho cá.

Thạch Sanh là nhân vật trong truyện cổ tích, hiền lành khỏe mạnh có công giết đại bàng cứu công chúa. Niêu cơm Thạch Sanh biến hóa, ăn không bao giờ hết.

Chuyện kể:

Sau khi chém được chằn tinh, giết đại bàng cứu công chúa, Thạch Sanh được nhà vua làm lễ cưới gả công chúa Quỳnh Nga cho. Lễ cưới của họ tưng bừng nhất kinh kỳ. Thấy vậy, hoàng tử các nước chư hầu trước kia bị công chúa khước từ lấy làm tức giận. Họ hội binh lính 18 nước kéo sang đánh. Thạch Sanh xin nhà vua đừng động binh. Chàng một mình cầm cây đàn ra trước quân giặc. Tiếng đàn của chàng vừa cất lên thì quân sĩ 18 nước bủn rủn tay chân, không còn nghĩ gì tới chuyện đánh nhau nữa. Cuối cùng các hoàng tử phải cởi giáp xin hàng. Thạch Sanh sai dọn một bữa cơm thết đãi những kẻ thua trận. Cả mấy vạn tướng lĩnh, quân sĩ thấy Thạch Sanh chỉ cho dọn ra vẻn vẹn có một niêu cơm tí xíu thì bĩu môi không muốn cầm đũa. Biết ý, Thạch Sanh đố họ ăn hết được niêu cơm và hứa sẽ trọng thưởng cho những ai ăn hết. Quân sĩ mười tám nước ăn mãi, ăn mãi nhưng niêu cơm bé xíu cứ hết lại đầy. Cảm phục và sợ hãi chúng cúi đầu lạy tạ vợ chồng Thạch Sanh rồi kéo nhau về nước.(1)


Niêu cơm bé xíu nhưng chính là tượng trưng cho uy quyền, cho sự thần thông biến hóa để được sự giàu có thịnh vượng, cho thỏa mãn ước mơ ở đời. Vận câu thành ngữ này vào cuộc sống mang nhiều ý nghĩa.

Theo Đi tìm điển tích thành ngữ của Tiêu Hà Minh,
NXB Thông tấn


(1) Theo truyện “Thạch Sanh” Nguyễn Đổng Chi – NXB KHXH, 1973
Quehuongonline


</tbody>





</tbody>

banhdacua
31-05-2013, 11:07 AM
Lấy thúng úp voi

Câu thành ngữ ngụ ý nói về một việc làm khó khăn, không thể thực hiện được cố che giấu một việc lộ liễu.
Chuyện kể:

Có một thầy cúng đã dốt nhưng hay huênh hoang, bảo thủ. Từ bé đến lớn thầy rất ít ra khỏi nhà, vì thế rặt những gì nhà thầy có là thầy coi như thiên hạ cũng chỉ có thứ ấy. Nhà thầy có nuôi một con mèo và một con ngỗng ăn cỏ. Vậy nên thầy nghĩ thiên hạ chỉ có hai giống ấy.

Một hôm, người ta đồn có con voi từ rừng về phá làng. Chuyện đến tai thầy. Thầy hỏi người nhà:
- Nó có mấy chân?
Người nhà bảo:
- Nó có bốn chân.

Vậy là thầy chắc nhẩm, nó to lắm cũng thì cũng chỉ bằng con mèo là cùng.
Thầy mới hỏi lại:
- Thế nó ăn gì?
Người nhà bảo:
- Nó ăn cỏ.

Thầy nói luôn:
- Vậy có gì to tát đâu mà làm ầm cả lên thế. Chắc bằng con ngỗng là cùng.

Con voi về làng, phá nhà, quật chết người, thầy mới hung hăng gọi người nhà ra bảo.

- Việc ấy cứ để ta. Mang cho ta cái thúng ra đây!

Tưởng thầy có phép thần chú gì để đuổi voi nên người nhà đi lấy thúng cho thầy, rồi hỏi:

- Thầy làm phép gì ạ?

Thầy huênh hoang đáp:
- Ta úp nó lại, lấy đá đè lên, nó có mà chạy đằng giời.

Rõ ràng là thầy cúng ở truyện trên chưa cầm thúng úp vào con voi, nhưng ai cũng biết rằng cái thúng thì bé mà con voi thì quá lớn, quá khổ thì úp sao đặng. Cái sự vô lý đến nực cười. Nếu có dùng cái thúng úp lên con voi thì phần được che phủ chẳng thấm tháp gì với phần không được che, tức là cái nhỏ không thể che lấp được cái lớn, muốn che giấu không thể che được, vẫn lộ ra.

Dễ gì lấy thúng úp voi
Giấu đầu thì lại bị lòi đuôi ra.

Theo Đi tìm điển tích thành ngữ của Tiêu Hà Minh - NXB Thông tấn

honghue
03-06-2013, 11:11 AM
Mưa không khắp

Câu thành ngữ ý nói về việc phân phát không đều, kẻ được người không, nơi ít nơi nhiều.
Chuyện kể:
Một năm, trời làm hạn hán, đâu đâu ruộng vườn cững nứt nẻ, hồ ao cạn kiệt, dân tình khổ sở.
Ở vùng nọ có chàng Trần Công quyết đi hỏi trời để bắt thần mưa tìm cho ra nhẽ. Trên đường đi, chàng giúp giải thoát cho một con vượn bị mắc bẫy. Vượn tạ ơn cho chàng một cây gậy thần. Nhờ gậy thần chàng tìm đến được chỗ thần mưa. Gặp thần mưa, chàng vung gậy lên, thần mưa sợ hãi nói:
- Người có việc gì mà định đánh cả người nhà trời vậy?
Chàng đáp:
- Ở hạ giới đã mấy năm nay, trời làm hạn hán, khắp nơi không có một giọt nước nào, dân tình điêu đứng. Ta lên hỏi tội thần, mau mau làm cho mưa xuống.
- Ta là thần mưa thật, nhưng nhiệm vụ này ta đã trao cho con ta. Nó đi ăn tiệc ở Thiên Cung chưa về kịp, đã mấy ngày nay ta cũng nóng ruột lắm. Thôi chàng đã lên đây ta mời chàng giúp cho con ta vậy.
Chàng Trần Công chưa hiểu gì thì thần mưa nói:
- Kia là bầu nước, bên cạnh là một nhành lá. Chàng trèo lên lưng con sư tử kia, nhúng cành lá vào bầu nước. Sư tử sẽ đưa chàng đến những miền chàng muốn, rồi cứ thế chàng vẩy nước xuống, nơi ấy sẽ có mưa.
Trần Công làm theo lời thần mưa. Nhìn xuống đã thấy một trời mù mịt. Chàng đoán là nơi ấy mưa to lắm. Mong muốn cho trần gian nước ngập đầy đồng, hết cảnh hạn hán nên Trần Công ra sức vẩy. Mệt quá chàng thiếp đi trên lưng sư tử. Khi tỉnh dậy thì sư tử đã đi hết một vòng hạ giới. Nơi sư tử đi qua lúc chàng thiếp đi, do không vẩy được nước thần, thành thử nơi ấy vẫn chưa có mưa. Khi sư tử cùng chàng bay tới vùng Hạ Hòa, chàng thấy vùng này nắng hạn đã lâu mà bầu nước thì còn nước bèn đổ tất cả nước còn lại trong bầu xuống vùng Hạ Hòa. Xong việc khi trở về hạ giới, Trần Công giật mình vì vùng Hạ Hòa nước ngập mênh mông. Ngập lụt đã làm cho dân tình điêu đứng. Chàng buồn rầu trở lại quê mình thì thấy ruộng đồng vẫn khô hạn nứt nẻ. Bấy giờ chàng mới vỡ lẽ ra rằng tại mình làm mưa không khắp.(1)

Có lẽ từ câu chuyện trên mà có thành ngữ trên. Nhưng quan trọng là từ truyện trên người ta vận dụng để nói việc khác, đó là việc xử sự không công bằng trong xã hội.
Trên thực tế thì mưa không thể rải khắp cùng lúc được nên người đời mới có câu chống chế: “Mưa làm sao khắp được”. Nhưng nói mưa là nói sự công bằng trong xã hội, đó là sự cần bàn.
Theo Đi tìm điển tích thành ngữ của Tiêu Hà Minh - NXB Thông tấn
(1) Theo "Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam", NXB Văn học, 1973

yenminh0210
03-06-2013, 12:30 PM
Lang bạt kỳ hồ trong tiếng Việt và tiếng Hán

Nghĩa của câu “lang bạt kỳ hồ” [狼跋其胡] trong tiếng Hán hoàn toàn không giống với nghĩa của nó trong tiếng Việt. Đó là câu đầu tiên của một bài ca dao trong “Kinh Thi”, nguyên văn như sau:1. Lang bạt kỳ hồ, 狼跋其胡、Tái trí kỳ vĩ. 載疐其尾。Công tốn thạc phu 公孫碩膚、Xích tích kỷ kỷ. 赤舄几几。2. Lang trí kỳ vĩ, 狼疐其尾,Tái bạt kỳ hồ. 載跋其胡。Công tốn thạc phu, 公孫硕膚,Đức âm bất hồ (hà). 德音不瑕?Sau đây là phần chú thích theo truyền thống về từ, ngữ: – Bạt = đạp lên; – Hồ = miếng da thòng dưới cổ (cái yếm) một vài loài động vật; – Tái = thì, ắt; – Trí = vấp; – Công = chỉ Chu Công; Tốn = khiêm nhường; – Thạc = to lớn; – Phu = đẹp; – Xích tích = giày đỏ trong lễ phục; – Kỷ kỷ = dáng tự tại, đĩnh đạc; – Đức âm = Tiếng tốt; – Hà (đọc “hồ” cho hợp vận) = tì vết.Nghĩa của mỗi đoạn (cũng theo cách hiểu truyền thống) là: Con sói đạp phải yếm của nó thì lại vấp phải đuôi (Ý chỉ sự lúng túng). Chu Công khiêm tốn về đức độ tốt đẹp của mình nhưng sắc màu đôi hài đỏ (của ông) vẫn rờ rỡ (đoạn 1). Con sói vấp phải đuôi của nó thì lại đạp phải cái yếm (cũng là sự lúng túng). Chu Công khiêm tốn về đức độ tốt đẹp của mình nhưng tiếng tốt (của ông) thì không mảy may bị tì vết (đoạn 2).Vậy “lang bạt kỳ hồ” chỉ đơn giản có nghĩa là “con sói giẫm lên cái yếm cổ của nó” (nên lúng túng không đi tới được). Ít nhất thì đây cũng là một cách hiểu gần như độc tôn cho đến nay. Nhưng một thân hữu trong giới ngữ học đã nói với chúng tôi rằng trước đây nhà giáo Nguyễn Can Mộng lại giảng khác. Vị giáo sư này đã giảng rằng “lang” là một con vật có hai chân trước ngắn và hai chân sau dài còn “hồ” là một con vật ngược lại, có hai chân trước dài và hai chân sau ngắn nên hai con vật này phải nương tựa vào nhau thì mới cùng nhau đi tới được. Nhưng bất kể lời giảng này có đích thực là của tác giả Nguyễn Can Mộng hay không (?), nó cũng hoàn toàn không phù hợp với chữ nghĩa của câu “lang bạt kỳ hồ”.Liên quan đến động vật, ta có 5 chữ “hồ”: [狐], [猢], [蝴], [鶘] và [鰗]. Chữ thứ nhất có nghĩa là cáo; chữ thứ hai đi với “tôn” thành “hồ tôn” [猢猻] chỉ một loài khỉ; chữ thứ ba, đi với chữ “điệp” thành “hồ điệp” [蝴蝶] là con bướm; chữ thứ tư đi sau chữ “đề” thành “đề hồ” [鵜鶘] là tên một loài chim còn chữ thứ năm thì đi với chữ “di” thành “hồ di” [鰗鮧] là tên một loài cá. Chẳng có con vật nào có tên đồng âm với tên những con vật trên đây (hồ) mà lại có hai chân trước dài hơn hai chân sau. Huống chi, chữ “hồ” trong câu “lang bạt kỳ hồ” thì lại có tự dạng là [胡], xưa nay chưa bao giờ bị dân Tàu xác định là tên của bất cứ một loài động vật nào.Nhưng ở bên Tàu hiện nay, một số tác giả đã bày tỏ thái độ đối với cách hiểu truyền thống về câu “lang bạt kỳ hồ”, đặc biệt là về chữ “hồ” mà chúng tôi muốn nhân tiện bàn thêm. Tác giả Trần Lương Dục [陈良煜], GS Đại học Sư phạm Thanh Hải cho rằng, trong câu này, “kỳ” [其] là con mồi bị con sói săn được còn “hồ” [胡] là cổ họng của con vật bị săn (“lạp vật đích hầu lung” [猎物的喉咙]). Chúng tôi cho rằng ý kiến này rất có lý, đặc biệt là nếu xét theo góc nhìn từ nguyên học. Nếu người ta thường nói rằng tiếng Việt còn lưu giữ được nhiều yếu tố Hán cổ đã tuyệt tích giang hồ trong tiếng Hán hiện đại thì đây là một minh chứng rất đẹp cho nhận định đó. “Hồ” [胡] là một chữ hình thanh mà nghĩa phù là “nhục” [月] (đây là “nhục” - không phải “nguyệt”) còn thanh phù là “cổ” [古]. Cái chữ có thanh phù mà âm Hán Việt là “cổ” [古] lại có nghĩa là “cổ (họng)” thì còn gì thú vị cho bằng! Huống chi chuyện đâu có phải chỉ do một mình Trần Lương Dục khảo chứng ra mà còn được ghi nhận trong từ điển trước cả họ Trần nữa. Hình âm nghĩa tổng hợp đại từ điển của Cao Thụ Phiên đã cho cái nghĩa thứ 8 của danh từ “hồ” [胡] là “nhân cảnh viết hồ” [人頸曰胡] (cổ người gọi là “hồ”). Vậy thì ta có thêm một cách hiểu nữa về chữ thứ tư của câu “lang bạt kỳ hồ”: “hồ” là “cổ”.Về câu này, trên Kiến thức ngày nay số 125 (1/12/1993), chúng tôi đã theo truyền thống mà giải thích như sau:“Lang bạt kỳ hồ” là một câu trong “Kinh Thi” của Trung Hoa. “Lang” là chó sói, “bạt” là giẫm đạp, “kỳ” là một đại từ thay thế cho danh từ “lang” còn “hồ” là cái yếm da dưới cổ của một số loài thú. Vậy “lang bạt kỳ hồ” là con chó sói giẫm lên cái yếm của chính nó (nên không thể bước tới được). Hán Việt tân từ điển của Nguyễn Quốc Hùng giảng và chú như sau: “Con chó sói giẫm lên cái phần da cổ của nó, lúng túng không biết làm sao. Chỉ sự lúng túng khó xử. Ta lại hiểu là sống trôi dạt đây đó (không rõ tại sao)”.“Điều mà quyển từ điển trên ghi “không rõ tại sao” chung quy cũng là do từ nguyên dân gian mà ra. Không biết được ý nghĩa đích thực của câu đang xét, người ta đã liên hệ các thành tố của nó với những yếu tố mà mình đã biết: “lang” với “lang thang”, “bạt” với “phiêu bạt”, “hồ” với “giang hồ”, chẳng hạn. Thế là thành ra cái nghĩa “sống lang thang rày đây mai đó”. Chẳng những thế, người ta còn lược bỏ hai tiếng “kỳ hồ” mà nói gọn thành “lang bạt” để diễn đạt cái nghĩa trên đây. Quả vậy, Từ điển tiếng Việt 1992 đã ghi nhận: “lang bạt: sống nay đây mai đó ở những nơi xa lạ”. Nhiều quyển từ điển khác cũng làm như thế vì hai tiếng “lang bạt” đã trở thành một đơn vị từ vựng thông dụng trong tiếng Việt”.Chúng tôi đã viết như thế trên Kiến thức ngày nay số 125 nhưng xin nhấn mạnh rằng, đó chỉ là một cái nghĩa méo mó so với nghĩa gốc trong tiếng Hán. Trong tiếng Hán thì hai từ “lang bạt” tuy ít được dùng nhưng hễ được dùng thì nó lại có nghĩa là “lúng túng” (“dụ gian nan quẫn bách” [喻艰难窘迫]). Và bất kể ta hiểu chữ “kỳ” và chữ “hồ” theo nghĩa nào trong phạm vi của tiếng Hán thì sang đến tiếng Việt, từ nguyên dân gian đã đưa hai tiếng “lang bạt” và cả câu “lang bạt kỳ hồ” đi xa hàng dặm so với nghĩa gốc của nó trong tiếng Hán.
Học giả An Chi

matbiec
05-06-2013, 03:10 PM
Tìm hiểu câu tục ngữ "Ẵm con chồng hơn bồng cháu ngoại"

1. Câu tục ngữ "Ẵm con chồng hơn bồng cháu ngoại" được sách Kho tàng tục ngữ người Việt (Nguyễn Xuân Kính (chủ biên), Nguyễn Thuý Loan, Phan Lan Hương, Nguyễn Luân; Nxb Văn hoá thông tin, Hà Nội, 2002) (KT), tr 75, ghi lại, trên cơ sở 12 đầu sách có chép nó.Sách này chép nghĩa từ hai nguồn:
- Theo sách Từ điển thành ngữ và tục ngữ Việt Nam (Nguyễn Lân; Nxb Văn hoá, Hà Nội, 1989), tr 11: "Khuyên những người vợ kế nên thương yêu con vợ trước";
- Theo Nguyễn Hùng Vĩ: "Đây là sự than phiền về nỗi vất vả của người mẹ khi phải giúp đỡ con gái mình bồng bế, chăm sóc cháu ngoại. Có thể tái lập cả câu là: Thà ẵm con chồng hơn bồng cháu ngoại".

Sách Đại từ điển tiếng Việt (Nguyễn Như Ý (chủ biên), Nguyễn Văn Khang, Vũ Quang Hào, Phan Xuân Thành; Nxb Văn hoá thông tin, Hà Nội,1999) (TĐ), tr 45, cũng có ghi câu tục ngữ, kèm lời giải nghĩa: "Có tư tưởng coi trọng đàn ông, coi thường phụ nữ, ví như thà ẵm con của chồng, tuy không yêu quý thích thú gì, nhưng dẫu sao vẫn thuộc dòng họ nội, còn hơn bế con của con gái mình".

Nguyễn Đức Dương trong bài viết "Sao không đưa tục ngữ vào giảng dạy ở bậc tiểu học?" (Tạp chí Ngôn ngữ và đời sống, số 10 - 2004; tr 4 - 9) (NĐD), sau khi dẫn lời giải nghĩa trên của Đại từ điển tiếng Việt, đã viết: "GS Nguyễn Như Ý cho rằng đây là câu phê phán "tư tưởng coi trọng đàn ông, coi thường phụ nữ". Cách giảng đó rõ ràng chưa nêu hết được chủ ý của tác giả câu tục ngữ đang xét. Giá coi trọng hơn nữa những đặc trưng về văn hoá hôn nhân lồng trong câu trên, chắc hẳn ông sẽ thấy ngay rằng mục đích chính của câu ấy không phải là bàn chuyện "trọng nam khinh nữ", mà là tập trung vào việc nhắc nhở các cô gái "cao số" (cho nên hay gặp chuyện trắc trở trong đường tình duyên) một kinh nghiệm quý được đúc kết từ thực tiễn nghiệt ngã của cuộc sống thời trước: [Thà lấy người goá vợ làm chồng] và bế ẵm [=chăm sóc] lũ con mà anh ta đã có với người vợ trước [để lúc về già có nơi nương tựa] còn hơn là [ở vậy để đến khi về già] chỉ còn biết bồng bế đám cháu phía bên ngoại của chính mình [cho đỡ cô quạnh]".

2. Những trình bày trên cho thấy, đây là câu tục ngữ khá phổ biến, nhưng cách hiểu không giống nhau giữa các nhà nghiên cứu. Vấn đề đặt ra ở đây là hoàn cảnh nào và vì sao ẵm con của chồng lại hơn bồng cháu ngoại?

"Ẵm" và "bồng" là hai từ đồng nghĩa(1) (miền Bắc hay dùng "ẵm", miền Trung và Nam thường nói "bồng"), ở đây, chúng còn hàm nghĩa chăm sóc, nuôi nấng.

Hai lối nghĩa ở KT và cách giải thích của TĐ chưa thoả đáng, bởi không xác định được hoàn cảnh, bối cảnh tạo ra (hay ứng dụng) của câu tục ngữ, cũng như chưa giải thích lí do vì sao chăm sóc con chồng lại hơn nuôi nấng cháu ngoại. Hướng tiếp cận của NĐD tuy có nêu hoàn cảnh và lí do (rất vắn tắt) của vấn đề, nhưng lại có chỗ cần bàn. Chúng ta thường dùng "ngoại" khi đặt trong quan hệ đối sánh với "nội". Người chưa có chồng / vợ thì chỉ phân biệt "nội", "ngoại" ở phía bà con thuộc cha hay mẹ mình. Nên khi nói người phụ nữ "ở vậy để đến khi về già chỉ còn biết bồng bế đám cháu phía bên ngoại của chính mình", thì nghe rất lạ tai. Vì người phụ nữ trong trường hợp này chỉ có hai loại cháu để có thể chăm sóc, đó là con của anh chị em chú bác cô cậu dì ruột(2) (ít gặp), và con của anh chị em ruột (gặp nhiều hơn), cả hai đối tượng là cháu này, người phụ nữ đều được gọi bằng cô (một số tỉnh miền Trung gọi là O), bằng dì, trong nói năng bình thường, không ai coi đó là cháu ngoại(3). Nên đây không phải là lời khuyên dành cho các cô gái "cao số".

Như vậy, hoàn cảnh viện ra cho câu tục ngữ này chỉ có thể là: người phụ nữ đã lớn tuổi nhưng chỉ sinh toàn con gái, nay người chồng cần có con trai để nối dõi tông đường (thường bằng hai cách, hoặc lén lút quan hệ với một người đàn bà nào đó, hoặc cưới vợ lẽ)(4), đặt người phụ nữ này vào một sự lựa chọn, hoặc tìm mọi cách ngáng trở chồng, chấp nhận lấy cháu ngoại làm vui khi tuổi già, hòng bảo vệ hạnh phúc, hoặc để chồng kiếm con trai, chịu hi sinh phần nào hạnh phúc, và phải khó nhọc chăm sóc con trai của chồng để nhờ cậy về lâu dài; và bà ta đã chọn (hoặc được cộng đồng khuyên nên chọn) cách sau: "Ẵm con chồng hơn bồng cháu ngoại".

Vì sao "Ẵm con chồng hơn bồng cháu ngoại"? "Con chồng" chẳng những không có quan hệ máu mủ mà thường nằm ở vết thương lòng của người phụ nữ (bằng chứng về sự thiếu chung thủy của chồng). Có điều, vết thương này đã có hai phương thuốc chữa: một là tâm lí đã được cộng đồng chuẩn bị "trai năm thê bảy thiếp, gái chính chuyên một chồng"; hai là sự báo đáp theo luật tục của con trai chồng: anh ta và con cháu của anh ta có trách nhiệm phải phụng dưỡng khi già yếu, lo tang chế khi mất, và sau đó, lo xây lăng đắp mộ, cúng giỗ phụng thờ mãi mãi... "Cháu ngoại" (nói riêng đối với bà ngoại) thì chắc chắn là máu mủ của mình, chăm sóc, cưng chiều chúng là hiển nhiên. Nhưng cháu ngoại thì khuyết điểm rất lớn, mà tục ngữ đã nhìn nhận: khi bà còn sống thì "Bà nuôi cho uổng công bà; đến khi nó lớn, tìm cha nó về"; khi bà đã chết thì "Cháu ngoại không đoái đến mồ". Như vậy, lấy cái được mất của bản thân mà xét, thì nuôi nấng "cháu ngoại" chỉ thoả mãn tình cảm trước mắt, còn nuôi nấng "con chồng" lại nhằm làm chỗ dựa lâu dài. Còn nếu đem vai trò "phụng sự gia nương chồng" ra mà xét, thì nuôi con chồng là giúp chồng được việc lớn, tục ngữ nói "Gái có công, chồng không phụ", tất sẽ được chồng, gia đình chồng yêu quý. Theo đó mà suy, thì quả là "Ẵm con chồng hơn bồng cháu ngoại" (5).

3. Trở lại với cách giảng giải câu tục ngữ của NĐD, nếu chúng ta xem "cháu ngoại" là cháu không trực hệ, tức không do con mình sinh ra, mà là con (hay cháu) của anh chị em mình, thì có thể xem đó là hướng nghĩa thứ hai của câu tục ngữ. Nhưng như trên đã phân tích, sức thuyết phục của cách hiểu như vậy không cao.

Sách KT ngoài ghi lại câu tục ngữ đang bàn từ 12 đầu sách có chép nó đã nói, còn ghi thêm một "bản khác", từ sách Nam âm sự loại (sách Hán nôm, sưu tập cả tục ngữ và ca dao, do Vũ Công Thành biên soạn năm 1925), quyển 2, tr 6a, đó là: "Ẵm con chồng hơn bồng cháu ruột". "Cháu ruột" ở đây là con của anh chị em ruột. Cách hiểu của NĐD phù hợp với câu này hơn (với một bổ sung, là không chỉ người con gái "cao số" - hiểu như luống tuổi, hết khả năng sinh nở - mà còn cả những người phụ nữ lấy chồng đúng dịp xuân thì, nhưng vì một lí do gì đó mà không sinh đẻ được) (6).

Nắm hiểu nghĩa của tục ngữ là chuyện không mấy dễ dàng. Như câu tục ngữ đang bàn, vấn đề không nằm ở bản thân câu nói, mà thuộc vào hoàn cảnh, bối cảnh để câu nói ấy phát huy tác dụng. Thường thì đó là một vấn đề thuộc phong tục, tập quán, lĩnh vực văn hoá nói chung, mà để hiểu được câu tục ngữ không thể không biết đến(7). Hoàn cảnh càng hẹp, xác định càng khó, có khi người đọc có cảm giác khiên cưỡng. Nhưng có lẽ trong trường hợp đang xem xét, không còn cách nào khác hơn.

T.N.
(201/11-05)

-----------------------
(1)Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê (chủ biên); Nxb Khoa học xã hội-Trung tâm từ điển học, Hà Nội, 1994): “ẵm đg. Bế (trẻ nhỏ). Mẹ ẵm con.” (tr 10); “bồng đg. (cũ; hoặc ph.). Bế, ẵm. Bồng con. Bồng trẻ dắt già.” (tr 81).
(2) Thường nói là anh chị em con chú con bác (ruột), anh chị em con cô con cậu (ruột), anh chị em bạn dì (ruột)
(3) Trong quan niệm của ngừoi Viêt, cháu gọi bằng cô thuộc về bên nội, cả với người phụ nữ đã có chồng con tử tế. Riêng cháu gọi bằng dì, thì ít thấy đặt vào bên “nội” hay bên “ ngoại”.
(4) Lưu ý là tập quán ủng hộ việc làm này của người đàn ông, không xem đó là hành động thuần tuý vì nhục dục. Khi người đàn ông không có con trai quan hệ vụng trộm với người đàn bà không phải là vợ mình, nếu sinh được con trai, người đàn bà ấy sẽ giao con lại cho ông ta, xem như “đẻ giúp”, bấy giờ, người vợ của người đàn ông này sẽ sắm vai mẹ, chăm sóc đứa trẻ.
(5) Cái lẽ thì như vậy, nhưng có không ít người phụ nữ không đồng tình. Người viết đã chứng kiến khá nhiều trường hợp người vợ (chỉ sinh toàn con gái) không chấp nhận con riêng (là con trai ngoại hôn) của chồng mình, khiến những người con ấy vĩnh viễn không nhận được họ cha, và người chồng phải tiệt tự.
(6) Theo đó, thì vấn đề “bản khác” đối với tục ngữ cần hết sức thận trọng, bởi lắm khi tưởng khác biệt một vài từ ngữ thì chẳng ảnh hưởng gì nhiều đến ý nghĩa cả câu, nhưng thực chất là vấn đề liên quan đã bị chuyển lệch một khoảng rất lớn.
(7) Tương tự câu đang bàn, có câu “Góc ao không bằng đao đình”. Hoàn cảnh ứng dụng của câu này là chuyển trổ hướng nhà. “Nhà hướng vào góc ao hay đao đình đều độc, nhưng hướng vào đao đình thì độc hơn” (Vũ Dung, Vũ Thuý Anh, Vũ Quang Hào; Từ điển thành ngữ và tục ngữ Việt Nam; Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1993; tr 362).

honghue
11-06-2013, 05:25 PM
Xui nguyên giục bị

Câu thành ngữ chỉ việc xúi bẩy, kích động cả hai bên kiện cáo nhau.
Chuyện kể:

Một hôm, hai người hàng xóm xích mích nhau chỉ vì việc giáp ranh nhà đất. Người nào cũng cho mình phải nên hễ trông thấy nhau là cãi nhau. Khi họ đang trong cơn giận thì một ông quan mới cho người nhà mình đến lân la hỏi chuyện một người, rồi húi vào:
- Ông cứ làm đơn kiện lên quan, gì chứ nhà ấy sai là cái chắc. Kiểu này thì nó mất nhà chứ chẳng chơi.


Người này nghe theo mới làm đơn kiện, hy vọng phần thắng thuộc về mình. Ông ta đến quan nhờ phân xét, không quên sắm mấy thứ lễ vật đáng giá biếu quan.


Quan bảo: “Việc như thế mà trước đây không trình quan, ngươi cứ để đấy ta xét”. Người đâm đơn đi kiện ra về, hy vọng vào món quà biếu quan, quan sẽ nghĩ đến rồi xử cho thắng cuộc.


Hôm sau, người nhà quan lại đến nhà người bị kiện nói:

- Này, có đơn người ta kiện ông, ông mau đến quan để trình bày trước đi, nhớ mang theo cái gì để làm quan vừa lòng. Quái sao họ đã sai lại còn đâm đơn đi kiện là sao.


Người bị kiện liền lên quan kêu oan và không quên mua sắm chút lễ vật. Quan lại bảo: “Cứ để đấy ta xem xét”.


Mấy ngày sau, không thấy động tĩnh gì, người đâm đơn kiện lại làm cái lễ nữa lên quan, mong quan phán xét.


Quan nhìn lễ vật bảo: “Việc ngươi kiện là phải, nhưng việc phân xử đâu chỉ có ta với mi”. Về nhà, người đâm đơn kiện mới gọi người hàng xóm kia ra mắng chửi. Người bị kiện tức quá lại làm cái lễ lên quan. Quan gật đầu nói:


- Nó đã sai lại còn chửi càn. Thôi ngươi cứ về đi việc này đâu chỉ có ta và ngươi.


Cứ hết ngày này qua tháng khác, kẻ đi kiện, người bị kiện chốc chốc lại lên bẩm quan nhờ xử kiện. Cứ động một tý lại sắm lễ vật lên quan, thành thử ai cũng tưởng nắm phần thắng về mình.

Rồi đến một hôm, nghe tin quan được bổ lên làm quan to hơn, hai người lại lên quan, gặp nhau ở đấy. Quan xoa tay bảo:

- Ta được bổ đi rồi, nhường lại cho quan khác thay ta giải quyết tiếp việc của các ngươi.


Nhìn cảnh nhà đã bán sạch để làm lễ nót tay cho quan, lại mất bao thời giờ đi kiện cáo kêu oan, hai người cùng thốt lên: “Đồ xui nguyên giục bị”.
Kẻ nguyên đơn và bị đơn đều đi đến khuynh gia bại sản, đã thế lại còn mâu thuẫn hiểu lầm nhau, ấy là do có kẻ “xui nguyên giục bị”. Những kẻ làm việc “đòn xóc hai đầu” ấy luôn gây mâu thuẫn, làm mất đoàn kết giữa người này với người khác.

Theo Đi tìm điển tích thành ngữ của Tiêu Hà Minh - NXB Thông tấn

honghue
15-07-2013, 05:00 PM
Len lét như rắn mùng năm

Theo dân gian, ngày năm tháng năm âm lịch là ngày “diệt sâu bọ”. Người ta làm bánh trái, đồ xôi, nấu chè, bày hoa quả cúng tế để tẩy trừ “sâu bọ” có hại cho cây cối, mùa màng và đời sống nói chung.
Không rõ là Tết “diệt sâu bọ” ở xứ ta và ngày giỗ Khuất Nguyên ở bên Trung Quốc có gì liên quan nhau không? Riêng ở Việt Nam ta thì theo tục truyền rằng, ngày xưa, người Việt cổ, vào ngày 5 tháng 5 thường đi tìm rắn để giết vì rắn rết dù là loài bò sát nhưng vẫn bị coi là sâu bọ tai ác. Chả thế mà thằn lằn vốn hiền lành cũng bị nỗi “oan Thị Kính” đó sao:
“Đảo chân ai chẳng dám chầy
Thằn lằn len lét ẩn ngày mùng Năm”
(Thiên Nam ngữ lục)
Người ta cũng cho hay là trong ngày mùng năm tất cả các con rắn đều nép mình ở trong hang không dám ngóc đầu lên (len lét) vì sợ bị giết chết. Ngày này, người ta nói rắn rất sợ người và trốn đi biệt tăm hết cả. Nhất là đến giờ Ngọ, thì khó mà nhìn thấy một con rắn hay chú thằn lằn nào?!
Thành ngữ len lét như rắn mùng năm chỉ thái độ và diện mạo của những người hay sợ sệt nói chung. Thường đó là thái độ của những người nhu nhược sợ những người cấp trên hoặc những người nắm sinh mệnh kinh tế hay chính trị của mình một cách trực tiếp.
Trong tiếng Việt có thành ngữ len lét như chuột ngày đồng so sánh với thành ngữ trên mang sắc thái ý nghĩa kém hơn.

(st)

matbiec
01-08-2013, 03:46 PM
Chữ tác đánh chữ tộ

Từ điển thành ngữ Việt Nam (Nxb Văn hóa, H., 1993) định nghĩa chữ tác đánh chữ tộ (chữ tác vạch ra chữ tộ) là "dốt nát, kém cỏi, không đọc thông viết thạo, chữ này nhầm sang chữ kia" (tr.162).
Lời định nghĩa này hơi dài mà lại không hoàn toàn chính xác.

Trong bài "Chữ tác đánh chữ tộ" đăng trên Tạp chí Ngôn ngữ và đời sống, (số 1, 1997). Quỳnh Anh đã có lý khi cho rằng: "Giá như bỏ đoạn đầu ("dốt nát kém cỏi, không đọc thông viết thạo") mà chỉ giữ lại phần sau ("chữ này nhầm sang chữ kia") và chuyển thành một ngữ động từ (cho phù hợp với ý của câu thành ngữ, vốn có thể dùng như một ngoại ngữ: "Nó cứ chữ tác đánh chữ tộ") là nhầm "chữ nọ với chữ kia" thì có phải vừa đủ rõ nghĩa vừa chắc chắn không sai không?" (Quỳnh Anh, Bđd., tr.30).
Từ đánh trong chữ tác đánh chữ tộ được dùng với nghĩa như "đánh đồng", coi như nhau (hai cái vốn là khác nhau về bản chất). Sự nhầm lẫn "chữ tác" với "chữ tộ" có thể xảy ra khi viết, vì thế mà có biến thể: "chữ tác vạc ra chữ tộ". Nhưng phổ biến có lẽ là xảy ra khi đọc. "Chúng tôi vẫn cảm thấy không yên tâm. Tuy có giấy thông hành đầy đủ, nhưng bọn lính vào đây thấy chúng tôi lạ mặt, rồi chữ tác đánh chữ tộ, rất có thể chúng sẽ làm phiền, tra hỏi lôi thôi" (Chu Văn Tiến, "Kỷ niệm Cứu quốc quân"). Ví dụ vừa dẫn cho thấy thành ngữ chữ tác đánh chữ tộ đã được dùng với nghĩa rộng và khái quát hơn (không chỉ bó hẹp nói về sự nhầm lẫn chữ Hán).
Trong khẩu ngữ, người ta thường nối một vế tiếp theo sau thành ngữ đang xét và có hiệp vần cách:

Chữ tác đánh chữ tộ
Chữ ngộ đánh chữ quá

Câu chữ ngộ đánh chữ quá cũng được tạo theo mô hình cấu trúc của câu chữ tác đánh chữ tộ và cũng có nghĩa tương tự. Cái lý do khách quan dẫn đến sự nhầm lẫn giữa chữ tác và chữ tộ là do cả hai chữ giống nhau ở phần bên phải, còn giữa chữ ngộ và chữ quá là do có phần bên trái dưới giống nhau (cách viết của chữ Hán).

Người đời sau còn bổ sung một danh sách dài những trường hợp tương tự như chữ tác đánh chữ tộ. Và theo Quỳnh Anh thì gần đây nhất là trường hợp chữ hiếu đánh chữ lão (trong tập 11 bộ phim được chiếu trên truyền hình là phim "Đường Minh Hoàng": Bộ Hiếu Kinh của Đường Minh Hoàng soạn để dạy con cháu, có một lần được đọc là lão kinh. Chữ tác đánh chữ tộ là hiện tượng rất điển hình khi ta nói về chuyện đọc và viết chữ Hán (chữ vuông). Đối với thứ chữ khác cũng vậy thôi. Theo mô thức này, ta có thể nói về viết chữ (chính tả) trong tiếng Việt như "quáng đánh chữ quàng", "chữ vo đe (vỡ đê) đánh chữ vợ đẻ". Điều này cũng dễ hiểu, vì trong đời thường thiếu gì cái cảnh "nhìn gà hóa quốc"!

Nguồn: Kể chuyện thành ngữ, tục ngữ

honghue
07-08-2013, 05:17 PM
Một nghề thì sống đống nghề thì chết

Câu thành ngữ ý nói một nghề mà giỏi thì thành đạt, một nghề mà chắc chắn thì sống, đừng có hời hợt, nghề gì cũng biết nhưng không chuyên một nghề gì thì sẽ đổ vỡ không thành.
Chuyện kể:
Ở một làng nọ, có một người muốn làm giàu, chuyên học đòi, ai mách gì cũng nghe theo.

Một hôm, nghe người ta đồn ở làng Ứng Thủy có nghề làm gầu kiếm ra tiền. Anh ta bèn cất công sang Ứng Thủy để học. Ba năm sau thành nghề, anh làm được gầu rồi thì năm ấy lại mưa đều, nước dư nước dật, ruộng đồng tốt tươi, chẳng ai cần đến gầu để chống hạn cả. Có người bảo: “Mưa nhiều, thì sẽ úng. Ở làng Vạc có nghề làm guồng chống úng, anh sang đó mà học”. Anh ta nghe người ta mách lại sang làng Vạc học nghề làm guồng. Nhưng năm ấy thời tiết lại khô hạn, có nước đâu mà cần guồng chống úng. Thấy trời nắng anh ta lại quyết tâm lên đường học nghề làm nón. Lần này chắc mẩm sẽ thành. Nhưng chẳng tính toán gì, lúc anh ta học được nghề làm nón thì thiên hạ chẳng mấy ai dùng nón nữa. Người ta sử dụng mũ nỉ, mũ lưới, vừa tiện vừa gọn. Chẳng bán được hàng, chẳng ra nghề ngỗng gì, anh ta ngửa mặt lên trời than:
- Trời ơi, tôi già mất rồi. Một đống nghề như tôi mà vẫn chết đói ư!

Người ta làm nghề gì cũng muốn thành đạt, nghề tinh xảo mà phát triển. Muốn được như vậy phải tu chí đến nghề, ta gọi là “chuyên”. Vậy nên có câu “Nhất nghệ tinh” là làm một nghề cho tinh thông còn hơn chín mười nghề hời hợt, chẳng nghề gì tinh thông cả. Câu thành ngữ hàm ý ca ngợi những người biết say sưa theo đuổi nghề nghiệp của mình để đem lại cuộc sống đẹp. Đồng thời hàm ý chê bai, phê phán những người thiếu kiên trì không có được nghề nào tinh thông cả.
Dân gian có câu: “Một nghề cho chín còn hơn chín nghề”.
Còn “Một nghề thì sống, đống nghề thì chết”, như anh chàng truyện trên là vậy.
Theo Đi tìm điển tích thành ngữ của Tiêu Hà Minh - NXB Thông tấn
(1) Theo “Đông Tây ngụ ngôn” – Ôn Như Nguyễn Văn Học – NXB Văn học, 2003

banhdacua
12-08-2013, 05:06 PM
Mưa không khắp

Câu thành ngữ ý nói về việc phân phát không đều, kẻ được người không, nơi ít nơi nhiều.
Chuyện kể:
Một năm, trời làm hạn hán, đâu đâu ruộng vườn cững nứt nẻ, hồ ao cạn kiệt, dân tình khổ sở.
Ở vùng nọ có chàng Trần Công quyết đi hỏi trời để bắt thần mưa tìm cho ra nhẽ. Trên đường đi, chàng giúp giải thoát cho một con vượn bị mắc bẫy. Vượn tạ ơn cho chàng một cây gậy thần. Nhờ gậy thần chàng tìm đến được chỗ thần mưa. Gặp thần mưa, chàng vung gậy lên, thần mưa sợ hãi nói:
- Người có việc gì mà định đánh cả người nhà trời vậy?
Chàng đáp:
- Ở hạ giới đã mấy năm nay, trời làm hạn hán, khắp nơi không có một giọt nước nào, dân tình điêu đứng. Ta lên hỏi tội thần, mau mau làm cho mưa xuống.
- Ta là thần mưa thật, nhưng nhiệm vụ này ta đã trao cho con ta. Nó đi ăn tiệc ở Thiên Cung chưa về kịp, đã mấy ngày nay ta cũng nóng ruột lắm. Thôi chàng đã lên đây ta mời chàng giúp cho con ta vậy.
Chàng Trần Công chưa hiểu gì thì thần mưa nói:
- Kia là bầu nước, bên cạnh là một nhành lá. Chàng trèo lên lưng con sư tử kia, nhúng cành lá vào bầu nước. Sư tử sẽ đưa chàng đến những miền chàng muốn, rồi cứ thế chàng vẩy nước xuống, nơi ấy sẽ có mưa.
Trần Công làm theo lời thần mưa. Nhìn xuống đã thấy một trời mù mịt. Chàng đoán là nơi ấy mưa to lắm. Mong muốn cho trần gian nước ngập đầy đồng, hết cảnh hạn hán nên Trần Công ra sức vẩy. Mệt quá chàng thiếp đi trên lưng sư tử. Khi tỉnh dậy thì sư tử đã đi hết một vòng hạ giới. Nơi sư tử đi qua lúc chàng thiếp đi, do không vẩy được nước thần, thành thử nơi ấy vẫn chưa có mưa. Khi sư tử cùng chàng bay tới vùng Hạ Hòa, chàng thấy vùng này nắng hạn đã lâu mà bầu nước thì còn nước bèn đổ tất cả nước còn lại trong bầu xuống vùng Hạ Hòa. Xong việc khi trở về hạ giới, Trần Công giật mình vì vùng Hạ Hòa nước ngập mênh mông. Ngập lụt đã làm cho dân tình điêu đứng. Chàng buồn rầu trở lại quê mình thì thấy ruộng đồng vẫn khô hạn nứt nẻ. Bấy giờ chàng mới vỡ lẽ ra rằng tại mình làm mưa không khắp.(1)

Có lẽ từ câu chuyện trên mà có thành ngữ trên. Nhưng quan trọng là từ truyện trên người ta vận dụng để nói việc khác, đó là việc xử sự không công bằng trong xã hội.
Trên thực tế thì mưa không thể rải khắp cùng lúc được nên người đời mới có câu chống chế: “Mưa làm sao khắp được”. Nhưng nói mưa là nói sự công bằng trong xã hội, đó là sự cần bàn.
Theo Đi tìm điển tích thành ngữ của Tiêu Hà Minh - NXB Thông tấn
(1) Theo "Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam", NXB Văn học, 1973

banhdacua
13-08-2013, 05:40 PM
Ruột để ngoài da

Câu thành ngữ chỉ người vô tâm vô tính, bộp chộp, không giấu ai điều gì.
Chuyện kể:

Thuở ấy, ở Thiên đình, các quả đào cứ đến độ chín đều được biến thành cô tiên bay ra nô đùa thỏa thích trong vườn.

Một hôm Thái thượng Lão quân trông coi vườn đào gặp một cô tiên tay xách làn xinh xắn, bay lả lướt trong vườn mà thấy lòng mình rạo rực, bèn lại gần bắt chuyện. Vì say đắm cảnh sắc lại thêm những lời tình tứ nên cả hai quên hết những điều luật Thiên đình. Thái thượng Lão quân thì kể cho nàng tiên nghe bao chuyện về Pháp đình, còn nàng tiên thì cũng chẳng giấu giếm gì những điều ong bướm trong vườn đào.

Họ cứ thế đùa chơi, lả lơi nồng thắm, cho đến khi hoàng hôn buông xuống mới sực nhớ ra. Thái thượng Lão quân thì vội lui về dinh thự của mình, còn nàng tiên thì chỉ trong chốc lát nhập vào quả đào thắm.
Nhớ buổi hàn huyên hôm qua, nên sớm hôm sau, nàng tiên lại từ quả đào bay ra. Lòng dạ xốn xang nên nàng tiên không sao giấu kín được nỗi niềm bèn tụ tập các nàng tiên lại rồi thao thao kể về chuyện pháp đình đến chuyện ong bướm mà hai người đã kể cho nhau nghe suốt một buổi.

Một miệng đâu đã kín, thế mà ở vườn hôm đó có chín mười miệng, nên chuyện ấy lan đi nhanh chóng. Ngọc Hoàng hay tin, cho rằng Thái thượng Lão quân để lộ thiên cơ chỉ vì ong bướm lả lơi, nên ra lệnh truất chức vụ trông coi vườn đào của Lão quân, cho đi coi chuồng ngựa. Còn nàng tiên nọ chuyện cứ oang oang, gặp đâu nói đấy nên Ngọc Hoàng phán rằng:

- Ngươi không giữ khuôn phép nhà trời, ruột để ngoài ra, thiếu chín chắn. Từ nay ngươi không được làm quả đào trong vườn nhà trời nữa. Cho ngươi xuống hạ giới nhập vào thứ cây quả hợp với lòng dạ của ngươi.

Nói đoạn, cây đào và quả đào nọ tự nhiên biến mất. Sau này, ở hạ giới, thấy xuất hiện một cây có trái, nhưng hột lại bám ở phía ngoài. Đồn rằng đó là cây đào nọ mà Ngọc Hoàng bắt phạt xuống trần gian. Người ta bảo hột nó để ngoài da, mới đặt tên cho nó là cây đào lộn hột. Ngày nay, nhiều vùng gọi nó là cây điều.



Đặc điểm của quả đào lộn hột là hột nằm bên ngoài, lộ ra. Có thể vì thế mà dân gian liên tưởng ví hột như ruột vậy.
Truyện trên kể về cô tiên lữ từ quả đào mà ra, nhưng chính là nói người . Phần nhiều “ruột để ngoài ra” thường được gán cho người phụ nữ, nên có câu:

Đàn ông nông nổi giếng khơi
Đàn bà sâu sắc như cơi đựng trầu.
Ở đây có cái đáng chê và cái đáng khen. Cái chê là vạch áo cho người xem lưng, nói toạc móng heo ra, cái khen là người bộc tuệch, thực bụng, có sao nói hết.
Theo Đi tìm điển tích thành ngữ của Tiêu Hà Minh - NXB Thông tấn

banhdacua
15-08-2013, 10:10 AM
Tương cà gia bản

Tương là loại nước chấm làm bằng đỗ, cà là thức ăn dễ làm đối với nông dân. Người nông dân coi những thức ăn này làm cơ bản trong sinh hoạt. Vì thế, mới có câu: “Thịt cá là hương hoa, tương cà là gia bản”. Ý nói: Cuộc sống, ăn uống thanh đạm, không cao lương mĩ vị, nhưng bền chắc, lâu dài.
Chuyện kể:
Xưa có một người trong nhà kể cũng vào loại bậc khá giàu, nhưng tính kiết kiệm, không hề hao phí đi đâu một tí gì. Chỉ trừ những khi có việc, dám làm con gà, hoặc đĩa cá, còn bữa cơm thường ngày chỉ rót một chút tương, với một đôi quả cà, vừa đủ no thì thôi.
Thiên hạ có người thấy thế cười mà bảo rằng:
- Ta nghĩ người sinh ra trong trời đất, nay mưa mai gió, chẳng lấy gì làm chắc, cho nên lúc ăn, lúc uống cũng nên chớ có nhịn miệng làm chi cho khổ cái thân.
Người kia mắng lại rằng:
- Anh biết một mà chẳng biết mười. Con người ta sống ở đời chẳng phải một chút một ngày gì mà còn lâu dài mãi. Vậy mà cứ lo ăn, không liệu tính việc gì, thì dần dà của hết, người còn. Mình đã chẳng có mà ăn, con cháu mình cũng vì mình mà đói rách khổ sở, lại mang tiếng “đời cha ăn mặn, đời còn khát nước”.
Rồi sau mặc tiếng chê cười, người đó vẫn giữ được thói hà tiện. Nhưng nhà người ấy càng ngày càng sung túc lên, con cháu ai ai cũng thịnh vượng.
Thiên hạ thấy vậy đều khen nhà ấy rằng:
- Tương cà gia bản, ăn chắc mặc bền, cứ như nhà ấy mà học.
Chuyện “tương cà gia bản” đáng học lắm chứ, khác với “bóc ngắn cắn dài”, lại hợp với câu “buôn tàu bán bè không bằng ăn dè hà tiện”. Thời nay, khối người có tiền “vung tay quá trán”, ném tiền qua cửa sổ thì rồi trước sau cũng rơi vào cảnh khốn cùng. Thậm chí, sống như thế đều bị ghép vào tội xa hoa, lãng phí.

Theo Đi tìm điển tích thành ngữ


của Tiêu Hà Minh - NXB Thông tấn

honghue
15-08-2013, 02:21 PM
Ăn cơm chúa, múa tối ngày

Chúa cho ăn, chúa cho mặc, thì cứ hát, cứ múa cho vui tai thích mắt chúa trọn ngày! Đó là tư tưởng phục vụ và trả công của những người "nghệ sĩ chuyên nghiệp" ngày xưa. Họ được chúa nuôi để đàn hát, nhảy múa làm trò tiêu khiển mà lại! Tinh thần đó được phản ánh qua câu thành ngữ ăn cơm chúa múa tối ngày. Chúa trong câu thành ngữ này là ông chủ quyền quý nói chung, mà trước hết là các bậc vua chúa.
Bởi chung, ngày xưa các bậc vua chúa đều có đội ca kĩ, các cung tần mĩ nữ múa hát mua vui. Nhưng chẳng cứ gì vua chúa mới có đám ca hát này mà ngay cả các lãnh chúa từng vùng cũng có. Rồi, chúa đôi khi cũng chỉ là những người ở thôn xã, bỏ tiền ra thuê các con hát, gánh hát phục vụ trong một thời gian ngắn, nhân dịp lễ, tết hay nhân các công chuyện lớn trong gia đình, trong họ hàng. Dẫu được hát, được múa trong cung vua, phủ chúa hay trong các điền trang, các nhà quyền quí ở thôn quê, thì bọn họ đều là tôi tớ được họ nuôi nấng, có cơm ăn, áo mặc, do đó cũng có phận sự phục vụ các ông chúa bà chủ.
Có lẽ, thoạt tiên, thành ngữ ăn cơm chúa múa tối ngày chỉ phản ánh một hiện thực là đội ca kĩ suốt ngày đêm múa hát phục vụ vua chúa, và các gia chủ. Cùng với hiện thực đó còn là tinh thần trách nhiệm, bổn phận của kẻ tôi đòi đối với chủ, và không ngoại trừ tinh thần "yêu ngành yêu nghề" và cảm hứng nghệ thuật với họ. Thế nhưng, trong mắt người đời, những con người này thuộc lớp người bị coi là thấp hèn, là "xướng ca vô loài".
Lại nữa, sự múa may quay cuồng suốt ngày, đối với người ngoài cuộc, chẳng có nghĩa lý gì mà chỉ là chuyện tầm phào và vô tích sự. Kẻ đứng ngoài cuộc, hẳn là chẳng ai tin trong lời hát kia, trong điệu múa nọ là kết quả của tinh thần tận tâm, tận lực, là sự say mê, yêu thích với cảm hứng nghệ thuật do bản mệnh ngành nghề đưa đến. Ngược lại, họ dễ dàng gán ghép hoạt động của người nghệ sĩ cũ tính chất chán chường, cố cho xong chuyện, cho hết ngày để khỏi thất thố với đồng tiền, bát cơm, manh áo của chủ bỏ ra. Thực hư thế nào chỉ có bản thân các ca sĩ, các vũ nữ mới biết đích thực, chân xác.
Dẫu vậy, với quan sát riêng, nhận thức riêng với cách đánh giá riêng của người đời thì vẫn cứ tồn tại hiển nhiên một thực tế là ăn cơm chúa múa tối ngày, biểu thị lối làm quấy quá cho xong chuyện, cho hết ngày, lối làm việc chỉ chú ý tới thời gian mà không chú ý đến hiệu quả. Cách làm ăn đó không còn phù hợp với cuộc sống hôm nay, cho nên cần phải đả phá, loại bỏ.
“Công trường không phải là nơi ăn cơm chúa múa tối ngày, tiền công ở công trường cũng không phải là nước sông gạo chợ mà là ở đâu cũng mồ hôi nước mắt của nhân dân cả thôi” (Bàng Sĩ Nguyên, “Niềm vui”).

honghue
17-08-2013, 01:08 PM
Già đòn non nhẽ

"Đòn" trong thành ngữ này ngụ ý là sự đánh đập là việc dùng vũ lực; còn nhẽ (lẽ) là lời lẽ, là dùng lời nói. Trong một số kết cấu đối xứng của thành ngữ tiếng Việt, ta thường gặp cặp từ trái nghĩa "già" - "non" đứng ở hai vế tạo nên thế đối lập cho cấu trúc thành ngữ.

Chẳng hạn "đoán già đoán non", "già trái non hột", "già nhân ngãi non vợ chồng",... trong "già đòn non nhẽ" thế đối lập, hình thành do tương quan bên nhiều bên ít giữa việc dùng vũ lực và dùng lời lẽ để làm một việc gì đó. Cách mà người đời đã làm là phải "già đòn" nghĩa là dùng vũ lực và "non nhẽ" thôi tức là nói năng khuyên giải chỉ vừa vừa. Cái chính là "đòn" nhiều vào. Ví dụ:
"Nó nói trắng trơn chà "già đòn non nhẽ" cứ tẩn tợn, giết tợn là xong mọi việc"
"Đừng có hòng dân thương. Còn lãnh việc quốc gia thì ngàn đời nó còn rủa. Bay muốn sống phải làm cho dân sợ, "già đòn, non nhẽ".
Thế nhưng, có lẽ đó là cách đối xử thích hợp với quyền lực, đã loại ra một bên phần nhận thức, phần trí tuệ của con người. Và trên thực tế đó cũng là phương pháp xử thế gạt bỏ vai trò giáo dục ra một bên. Chúng ta vẫn nghe dân gian hát "lời nói gói vàng" và theo nó là những câu thành ngữ như "lời vàng ngọc", "lời hay lẽ phải"... Sao lại không lựa lời mà nói, dùng lời lẽ mà thuyết phục con người, mà lại cứ một mức "già đòn", như thế! Có cố chấp hay không? Và, dường như có phần tàn nhẫn chăng?

banhdacua
21-08-2013, 05:13 PM
Đẽo cày giữa đường

Câu thành ngữ này hàm ý chỉ kẻ hành động ngu ngốc, không có chủ kiến, luôn bị động nên hay thay đổi theo ý kiến người khác, cuối cùng chẳng đạt được kết quả gì. Còn có câu: Đồ ba phải Mười rằm cũng ư, mười tư cũng gật.
Chuyện kể:Một người ngồi trên đường đẽo cày. Có người đi qua, trông thấy khuyên:
- Ồ, cái tay cày to quá, khó cầm. Anh nên đẽo cho nó nhỏ hơn có được không?
Anh thợ đẽo cày nghe theo, đẽo cái tay cày nhỏ đi.
Một lát, một người khác đi qua lại bảo:
- Ồ, cái ách cày to quá, khó vác. Anh nên đẽo nó nhỏ đi chút nữa. Anh thợ cày nghe theo lại đẽo nhỏ đi. Lát sau, một người qua đường nhìn thấy bảo:
- Ồ, cái lưỡi cày to quá, khó bẩy được đất lên.
Anh thợ cày làm theo, đẽo nhỏ đi. Người thứ tư qua đường lại bảo:
- Ồ, cái bàn cày phải nghiêng hẳn về một bên thì lật đất mới dễ.
Anh ta lại làm theo. Cứ thế, người nào góp ý anh cũng đẽo lại, cuối cùng cái cày chỉ còn bằng cái đũa. (1)
Thời nay không ai đi đẽo cày kiểu đó, nhưng cũng còn nhiều người có quyền thì giao việc cho thư ký, trợ lý làm. Đến khi đó thì chủ kiến không còn nữa mà là ý của trợ lý, thư ký. Hơn nữa, có người thiếu tính chủ động, quyết đoán trong công việc nên ai nói cũng gật, cũng cho là phải. Vậy có khác gì đẽo cày giữa đường.
Theo Đi tìm điển tích thành ngữ của Tiêu Hà Minh - NXB Thông tấn
(1): Dựa theo truyện “Đẽo cày giữa đường” I và II, “Truyện cổ nước Nam” - Ôn Như Nguyễn Văn Ngọc, NXB Văn học, 2003.

honghue
30-08-2013, 05:45 PM
Đèo heo hút gió

Nếu chỉ xem xét ý nghĩa chung, ý nghĩa tổng thể thì thành ngữ đèo heo hút gió là một thành ngữ đơn giản, dễ hiểu. Trước hết, người Việt thường dùng thành ngữ này để chỉ nơi rừng núi hoang vu, thiếu vắng người qua lại.


“Cái Xuân gặp anh bộ đội nào đó ở chốn đèo heo hút gió này là một điều mừng, hãy để cho họ tận hưởng niềm vui nghiêm chỉnh ấy nên thôi không úm nữa”. (Xuân Thiều/ Trời xanh).

Trong tiếng Việt, thành ngữ đèo heo hút gió còn biểu hiện ý nghĩa “xa xôi, cách trở của những vùng, miền, của những đường đi lối lại nói chung”. Thí dụ: “Hiện nay bát hoa men đã tới quê tôi nhưng một số nơi quá đèo heo hút gió hãy còn dùng bát vỡ, móng tre” (Văn nghệ 9-1960). “Trước kia tôi hoàn toàn không biết rằng đi trên những thiên lý đường đi, dù đường đèo heo hút gió xa lắc mấy trùng cũng không ai bỏ đường ra đấy cho thiên cho địa” (Xuân Diệu. “Đi trên đường lớn”). Dù hiểu với ý nghĩa nào thì thành ngữ đèo heo hút gió đều được nói về sự xa vắng, cách trở, gây cảm giác hoang sơ, buồn lặng và cô đơn. Tuy nhiên, muốn hiều rõ từng từ từng chữ trong thành ngữ thì lại không đơn giản. Cho đến nay, cách nghĩ các chữ heo, hút trong đèo heo hút gió chưa thống nhất. Phần lớn mọi người đều nhận thức heo, hút là hai yếu tố của một từ phức heo hút với nghĩa “ở vào nơi vắng và khuất, gây cảm giác buồn và cô đơn”. Theo đó, thành ngữ đèo heo hút gió là kết quả của sự giao kết ba từ đèo-heo hút-gió. Ưu thế của cách hiểu này là giải thích rõ được hết mọi từ trong thành ngữ. Nhưng, ở đây cũng bộc lộ những bất hợp lý, khó có thể biện minh được. Trước hết trong tiếng Việt, heo hút không có khả năng kết hợp với gió. Heo hút thường đi sau các danh từ chỉ vị trí, địa danh chứ không thể đứng trước hoặc sau các danh từ chỉ hiện tượng thiên nhiên như mưa, gió, sấm, chớp,... để bổ nghĩa về tính chất “xa vắng cách trở, cô đơn”. Hơn nữa, nếu xem heo hút là một từ như cách hiểu này, người ta không giải thích được dạng thức hút gió đèo heo vốn là một biến thể của thành ngữ đèo heo hút gió. Thí dụ: “Họ tống đến nơi quân dịch đang gào, nơi hút gió đèo heo” (Trinh Đường. “Hoa gạo”).

Từ những bất hợp lý trên, chúng ta phải nghĩ đến hướng tìm tòi khác để giải thích các chữ heo, hút cho hợp lý. Điều cần được chú ý trước nhất là phải dựa vào luật đối và điệp, vốn rất phổ biến trong cách cấu tạo thành ngữ tiếng Việt. Theo hướng này, đèo heo hút gió được xem xét trên cơ sở đối ý đối lời. Ở thành ngữ này có sự đối ý giữa đèo heo và hút gió và đối lời giữa đèo và hút, giữa heo và gió. Ở cặp đối heo và gió, chúng ta dễ nhận ra heo và gió cùng nghĩa. Ta có thể nhận thấy heo có nghĩa như gió trong heo may, trời hanh heo. Heo chính là gió lạnh mùa thu – đông, một thứ gió hanh khô, gây cho da nứt nẻ. Ở cặp đèo và hút thì chỉ có từ hút là phải làm rõ nghĩa. Như đều biết, trong tiếng Việt vốn có từ hút với nghĩa động từ chỉ “hoạt động cuốn theo luồng, theo dòng, làm cho nước và khí, gió xoay tròn”. Động từ hút được chuyển thành danh từ chỉ luồng nơi tập trung dòng chảy, luồng xoáy như hút nước, hút gió. Chữ hút trong thành ngữ đèo heo hút gió là từ hút danh từ này. Vậy là, nhờ có những cứ liệu trên, chúng ta đều thấy rõ thành ngữ đèo heo hút gió hoàn toàn tuân thủ theo luật đối điệp và tương hợp về từ loại cũng như về ý nghĩa. Đây là dạng thức thường gặp trong cấu trúc thành ngữ tiếng Việt, lệ như chân lấm tay bùn, lòng chim dạ cá, lòng son dạ sắt. Điều đó càng được khẳng định chắc chắn hơn khi nhận thấy một biến thể khác của thành ngữ đèo heo hút gió là đèo mây hút gió hoàn toàn hiện rõ nguyên hình là một thành ngữ đối và điệp. Ví dụ: “Có người bị giặc truy bức đành bỏ quê hương, lạc loài đến vùng đèo mây hút gió để kiếm sống như nghệ sỹ Ngọc Cần ở Plâyku” (Văn học nghệ thuật 11-1976).

honghue
11-09-2013, 06:05 PM
Yêu nên tốt, ghét nên xấu

Giải nghĩa: Khi yêu thì cái gì cũng đẹp, cũng hay, thậm chí là khi có lỗi cũng cho là tốt. Khi ghét thì ghét đến chân tơ kẽ tóc, người ta có tốt cũng cho là xấu. Vì vậy còn có câu: “Khi yêu thì củ ấu cũng tròn, khi ghét thì bồ hòn cũng méo”. Sự yêu ghét làm cho người ta mất cả cái đúng đắn, đối xử thiên lệch, thiếu khách quan, đến mức “Chanh cũng khen ngọt mà hồng chê chua”.
Chuyện kể:
Phép nước Vệ, ai tự ý lấy xe của vua thì phải tội chặt chân. Di Tử Hà là cận thần của vua. Mẹ Tử Hà ốm nặng. Đêm khuya có người gọi, Tử Hà vội vàng lấy xe và ngựa của vua ra đi. Vua khen: “Có hiếu thật! Vì hết lòng với mẹ mà quên cả tội chặt chân”.
Lại một lần, Tử Hà theo vua đi ngự tại vườn, đang ăn quả đào thấy ngọt, còn một nửa đưa cho vua ăn, vua nói: “Yêu ta thật! Của đang ngon miệng mà biết để nhường ta”.
Về sau, vua không có lòng yêu Di Tử Hà như trước nữa. Một hôm, Tử Hà phạm lỗi, vua giận nói rằng:
“Di Tử Hà trước dám ngỗ ngược lấy xe của ta đi, rồi lại một lần cho ta ăn quả đào thừa, thực là trọng tội”. Nói xong, đem Tử Hà ra hành quyết.
Ôi! Di Tử Hà ăn ở trước sau vẫn vậy thôi. Vậy mà trước yêu, sau ghét mà nên tội.

Từ truyện trên rút ra cái thực trong đời: Sự yêu ghét của người ta đổi thay nhanh chóng cũng chỉ do quan niệm nhận thức mà thành. Giống như vua nước Vệ, cũng là sự ấy nhưng lúc yêu thì tốt cả mà lúc ghét thì xấu cả, nên đời mới có câu:
Yêu ai thì nói quá ưa
Ghét ai nói thiếu nói thừa như không
Suy từ đấy ra, người làm cha mẹ dân mà quan niệm, nhận thức thay đổi, ích kỷ thì khổ cho dân lắm thay.

Theo Đi tìm điển tích thành ngữ của Tiêu Hà Minh - NXB Thông tấn

honghue
14-09-2013, 11:55 AM
Thả mồi bắt bóng

Câu thành ngữ ý nói bỏ đi cái đã nắm chắc trong tay để chạy theo cái chỉ là hy vọng viển vông không thực tế.

Chuyện kể:
Một con chó tham ăn, một hôm nó đớp được miếng thịt của làng bày ra đình để khao làng. Con chó ba chân bốn cẳng tha miếng thịt đến bờ sông. Sợ người làng đuổi theo nên nó chạy về phía cầu để qua sông tẩu thoát. Khi đến giữa cầu, nó nhìn xuống dòng sông, thấy có một con chó khác đang ngoạm miếng thịt to hơn. Con chó tham ăn mới nghĩ: “Ta phải cướp miếng thịt của con chó kia mới được”. Nghĩ thế nào, làm thế ấy, nó bèn nhả miếng thịt đang ngoạm ra, rồi nhảy xuống sông để tranh miếng thịt với con chó kia. Vừa nhảy xuống sông thì bóng nước tan ra, nó vùng vẫy một thôi một hồi chẳng kiếm được gì, lúc bấy giờ mọi người đổ xô ra cầm đòn đánh chó. Nước cuốn mạnh, con chó bị chìm nghỉm dưới dòng sông. (1)

Con chó tham lam là hiện thân cho kẻ ngu ngốc, thiếu thực tế.
Truyện trên gần với truyện “Bán bò tậu ễnh ương”, chê kẻ tham lam ngốc ngếch, tham bát bỏ mâm, thả con cá rô, vồ con săn sắt cuối cùng phải trả giá một cách đau đớn!
Có câu:
Người đâu tham của mắt mờ
Chó tham thấy bóng ngù ngờ mất thân.
Theo Đi tìm điển tích thành ngữ của Tiêu Hà Minh - NXB Thông tấn
(1) Theo “Con chó và miếng thịt” Truyện ngụ ngôn Việt Nam – Nguyễn Văn Ngọc, NXB Văn học, 2003.

honghue
16-09-2013, 04:30 PM
Chết đuối vớ được cọc

Câu thành ngữ chỉ việc gặp may mắn, đang lúc nguy ngập lại có chỗ bám víu, thoát khỏi tình trạng tuyệt vọng.
Chuyện kể:

Xưa có tên nhà giàu, keo kiệt đến bẩn thỉu. Một hôm có người làng bên mời hắn sang ăn liên tục, lúc về biếu hắn một bị khoai ngon. Hắn khoác bị khoai xuống thuyền sang sông xem chừng hí hửng lắm.

Người lái đò mới hỏi:

- Bác khoác bị gì mà nặng thế? Bác cứ để xuống sạp thuyền cho đỡ mỏi.

Tên nhà giàu ích kỷ, sợ lúc lên bờ quên bị khoai nên chống chế:

- Thôi cảm ơn bác, tôi đã khoác nó vào cổ rồi, tháo ra buộc vào ngại lắm.

Thuyền đến gần bờ bỗng chòng chành do có sóng lớn ập đến. Người lái đò quen với sông nước nên chẳng có cơ sự gì, nhưng còn tên nhà giàu kia bị lộn cổ xuống sông, chới với một lúc. Rất may ở gần đấy có một cái cọc tre của người cắm đăng, hắn mới quờ quạng bám vào được. Người lái đò biết cái cọc cắm ở đấy lâu ngày đã mục, lại thêm cái bị khoai nặng, nên kêu to:

- Bác thả cái bị ra.

Tên nhà giàu lúc ấy mới hoảng hồn, tháo cái bị đeo ở cổ ra. Cái bị khoai chìm xuống, tên nhà giàu nhìn theo tiếc rẻ.

Người lái đò vội bơi thuyền đến vớt tên nhà giàu lên, đoạn mới nói:
- Số ông còn may đấy! Chết đuối vớ được cọc.

Lúc đã hoàn hồn, tên nhà giàu mới mở miệng nói:

- Nhưng bị khoai của tôi…Tiếc thật!
Giữa lúc nguy ngập, khó khăn tưởng như không còn lối thoát mà có “cứu tinh”, nhờ đó mà thoát hiểm, đó là gặp may mắn, giống như “chết đuối vớ được cọc” vậy.
Theo Đi tìm điển tích thành ngữ của Tiêu Hà Minh,
NXB Thông tấn

banhdacua
07-12-2013, 08:32 AM
Ngang như cua

Do cấu trúc cơ thể, nên cua bò ngang chứ không tiến thẳng như con vật khác. Còn có câu: Ngang như cành bứa. Nghĩa bóng: Rất ngang bướng, nói năng, cư xử khác lẽ thường, khăng khăng không chịu nghe theo người khác.
Chuyện kể:
Ngày xưa, có một cô gái xinh đẹp sống với dì ghẻ. Cô gái nết na, làm đủ mọi việc trong nhà, suốt ngày vất vả. Mụ dì ghẻ có một cô con gái vừa xấu người, vừa xấu nết. Nó đỏng đảnh hết chỗ nói. Lúc nào nó cũng vênh váo, kiêu kỳ, không nghe bất kỳ lời khuyên nào nên chẳng làm được một việc gì. Mẹ nó bảo nó đi lấy tấm cho gà ăn thì nó làm ngược lại, đổ ngô tứ tung ra sân, còn liến thoắng cho rằng: “Gà cồ thì ăn ngô hạt”. Bảo nó đi giặt quần áo thì nó bảo, nó là “cành vàng lá ngọc”, không phải mó tay giặt giũ... Vì vậy, bao nhiêu việc đều đổ lên đầu cô gái con chồng.
Hai cô gái đến tuổi gả chồng. Nhưng bao nhiêu chàng trai đến dạm ngõ đều muốn hỏi cô gái mồ côi, làm cho mụ dì ghẻ tức giận.
Một hôm, thấy cô mồ côi mặc cái váy hoa, mụ dì ghẻ sôi máu, xấn xổ vào cô gái đáng thương:
- Con ranh kia, mày ăn cắp hay gã đàn ông nào cho mày chiếc váy? Đồ lười chảy thây.
Nói rồi mụ dì ghẻ ra đòn, đánh mắng cô gái thậm tệ. Cô gái bị đòn đau mới thưa rằng:
- Mẹ ơi, con chẳng ăn cắp mà cũng chẳng có người đàn ông nào cho con cả. Chiếc váy này của một bà cho con đấy chứ...
- Làm gì có bà già nào tốt bụng thế!
Mụ nghiến răng ken két, bắt cô bé mồ côi khai ra bằng hết.
Cô bé mới kể: Hôm ấy, cô ra sông giặt quần áo, bỗng có bà cụ rách rưới bẩn thỉu đứng bên cạnh cô, xin nước uống. Nước sông đục ngầu nên cô lấy ống nước đem theo cho bà cụ uống. Bà cụ uống xong, liền cho cô gái cái bọc nhỏ, bảo là thưởng cho lòng tốt của cô. Mở ra, cô thấy chiếc váy đẹp. Quay lại không thấy bà già đâu nữa.
Mụ dì ghẻ nghe kể mới nghĩ ngay đến bà tiên. Liền đó, sáng hôm sau mới xui con gái mình ra sông giặt giũ, mong may mắn được gặp tiên. Cứ thế vài lần, một hôm, cô gái đỏng đảnh này bỗng thấy một bà cụ tiều tụy xuất hiện. Bà cụ tới gần bảo:
- Vạt váy của tôi lấm bùn. Cô làm ơn lấy nước gột giúp tôi với.
Cô gái cong môi đáp:
- Cái bà già bẩn thỉu này, hãy đi ra khỏi chỗ này. Thật là ghê tởm, ghê tởm.
Bà già nói:
- Thật đúng là một đứa con gái hư. Con bé này không giống con bé kia.
Nó mới sực nghĩ ra:
- Sao bà biết chị tôi à?
Nó mới định mở miệng xin lỗi thì bà cụ liền bảo:
- Một con người độc ác mà lại ngang ngạnh thì không trở thành cô gái xinh đẹp được. Bà cụ nói xong biến mất. Liền sau đó, cô gái đỏng đảnh cũng biến mất.
Chỗ cô ta vừa đứng xuất hiện một con vật nho nhỏ, mình cõng một tảng đá, chân cẳng tua tủa. Nó chính là con cua do bà tiên trừng phạt cô gái xấu bụng mà biến thành. Cô gái lúc là người thì nganh ngạnh, chẳng nghe lời ai nên khi nó biến thành con cua, nó phải bò ngang, chứ chẳng được đi thẳng. Con cua bò ngang, nên sau này người đời thấy kẻ nào ngang bướng là lại ví ngang như cua là vậy.
Từ chuyện con cua có cấu trúc như vậy nên chỉ bò ngang, khác với giống vật khác, nên dân gian khéo vận vào cuộc sống để chỉ những người ngang ngạnh “trống đánh xuôi, kèn thổi ngược”. Đó cũng là một tính xấu của con người không biết nghe lời hay, lẽ phải cứ làm theo ý mình. Cũng có thể từ đặc tính của con cua mà có chuyện trên để nói về sự tích con cua.

Theo Đi tìm điển tích thành ngữ của Tiêu Hà Minh - NXB Thông tấn

honghue
24-12-2013, 02:34 PM
Vừa ăn cướp vừa la làng
Vừa đánh trống vừa ăn cướp
Vừa đánh trống vừa la làng


Trong cuộc sống chẳng thiếu gì kẻ xấu, ma lanh, gian xảo. Có kẻ đã ăn cướp của người khác rồi lại còn lu loa lên như thể mình bị mất của để đổ vấy cho người khác là phạm nhân. Thêm nữa, có kẻ làm trò cướp giật, bị đuổi bắt lại khôn khéo nhập cuộc đám đuổi bắt, thậm chí còn đóng cả vai người đánh trống ngũ liên, hô hoán đuổi bắt cướp. Cứ như thế, trong cuộc sống, trong văn học dân gian đã xảy ra bao nhiêu chuyện phiền nhiễu oái oăm, chướng tai gai mắt. Người mất của đôi khi bị oan uổng, bị đánh đập tàn nhẫn, bị trừng trị nhầm. Rõ là tiền mất tật mang. Trái lại, kẻ ăn cướp do ma lanh mà đã kiếm chác được của cải lại còn được cảm thông, an ủi, thậm chí đôi khi được tiếng là có công bắt cướp. Những thủ đoạn gian xảo đó được gọi bằng cái tên đích thực là vừa ăn cướp vừa la làng hay vừa đánh trống vừa ăn cướp. Do ra đời gắn liền với những vụ việc có thật trong cuộc sống như thế, các thành ngữ này trước hết được dùng để chỉ những thủ đoạn của bọn ăn cướp, vừa cướp của, vừa vu oan cho người bị mất là kẻ cướp hoặc vừa ăn cướp lại còn tham gia đuổi cướp tỏ ra là kẻ có công.

Tuy nhiên, trong quá trình sử dụng, thành ngữ vừa ăn cướp vừa la làng hay vừa đánh trống vừa ăn cướp được sử dụng với nghĩa khái quát hơn hàm chỉ những hành vi cố ý làm việc ác lại còn lớn tiếng vu cáo kẻ khác, làm ra vẻ như mình là nạn nhân. Đó là hành vi đổi trắng thay đen, đánh lừa dư luận.

Thí dụ:

" Với thủ đoạn vừa ăn cướp vừa la làng, Hoa Kỳ và chính quyền Sài Gòn ra sức vu cáo Việt Nam dân chủ cộng hòa và Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam" (Báo Nhân dân, 26-1-1974).

"Vừa đánh trống vừa ăn cướp, Đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai không ngớt mở những chiến dịch vu cáo cam-pu-chia hòng che đậy tội ác và âm mưu của chúng" (Báo Nhân dân, 26-11-1967).

Cùng với các thành ngữ vừa ăn cướp vừa la làng, vừa đánh trống vừa ăn cướp, trong tiếng Việt còn có thành ngữ vừa đánh trống vừa la làng. Thành ngữ này có ý nghĩa và cách dùng tương tự các thành ngữ đã xét ở trên.

Thí dụ:

"Để che đậy bộ mặt phản động, họ vừa đánh trống vừa la làng, tuyên truyền, xuyên tạc hòng xáo trộn trắng đen, phải trái, bôi nhọ người chính nghĩa trước công luận" (Nhiều tác giả, "Bùng nổ vì Việt Nam").

Về con đường hình thành thành ngữ vừa đánh trống vừa la làng có thể lý giải theo hai hướng: Thứ nhất, thành ngữ này là kết quả của giao kết, tương hợp giữa hai thành ngữ vừa ăn cướp vừa la làng và vừa đánh trống vừa ăn cướp. Thứ hai, thủ đoạn la làng đổ vấy tội cho người khác, lối giả vờ đuổi cướp bằng hình thức hô hoán, đánh trống của chính kể cướp vốn rất phổ biến, lặp đi lặp lại trong cuộc sống đã được người đời nhận thấy và lấy làm đặc trưng cho thủ đoạn của những kẻ chuyên hành động theo lối rắn đổ nọc cho lươn. Rốt cuộc, ở câu thành ngữ vừa đánh trống vừa la làng không nói gì đến chuyện cướp bóc, không có sự đánh giá xấu hay tốt nhưng lại hiển hiện lên những hành vi xấu, thủ đoạn gian manh của kẻ cướp nói riêng, lũ người xấu nói chung. Đó cũng chính là lời cảnh tỉnh người đời phải biết sáng suốt suy xét, đánh giá đúng thủ đoạn của kẻ xấu để đối xử đúng, không lẫn lộn vàng thau.


Nguồn: Kể chuyện thành ngữ, tục ngữ
NXB Văn hóa Sài Gòn 2005

honghue
30-12-2013, 10:51 AM
Cáo mượn oai hùm

Cáo thì chỉ "bắt nạt" được gà, còn hùm (tên nôm của hổ) là chúa tể của muôn loài! Hùm giỏi giang ở đâu thì chưa biết nhưng riêng cái khoản tục ăn thì không ai bằng (ăn như hùm đổ đó) và gian ác thì cũng đáng được xếp hạng "miệng hùm nọc rắn". Vô phúc con vật nào - cả con người nữa, để nó vồ được thì chỉ có mà về ... chầu tiên tổ. Vậy nên, trong tiếng Việt đã sinh ra câu "cáo mượn oai hùm" để chỉ hạng người luôn mượn thế kẻ mạnh, nấp dưới ô quyền lực đi hù dọa, lòe bịp người khác hoặc lấy đó làm lá chắn để thỏa sức lộng hành.

Thành ngữ này vốn bắt nguồn từ một câu chuyện kể về sự gian ngoan, ma lanh của cáo đã khéo uốn ba tấc lưỡi để lừa "thầy hùm", còn hùm thì đúng là "to đầu mà dại" (!)
... Có một con hùm đói mồi, đang lang thang trong rừng kiếm ăn thì gặp ngay con cáo. Hùm sướng rơn và chắc mẩm phen này được bữa chén no say. Nhưng con cáo gian ngoan đã nói ngay với hùm rằng: "Này, cái ông hùm ông hổ kia ơi! Ông đừng có mà ăn thịt tôi. Thượng đế đã giao cho tôi làm chúa tể muôn loài. Ông mà ăn tôi là làm trái ý của thượng đế! Không tin, ông cứ đi đằng trước, tôi đi đằng sau, thử hỏi có con vật nào trông thấy tôi mà không sợ?". Và hùm đã làm theo. Quả nhiên, chúng đi đến đâu, mọi thú vật đều chạy tán loạn. "Sự thật" đó đã làm cho hùm tin lời cáo, và đương nhiên cáo đã thoát chết! Hùm có biết đâu rằng, những con vật kia sợ mình, sợ cái bóng của mình, chứ đâu có sợ cáo! ...

Trong dân gian, bên cạnh thành ngữ "cáo mượn oai hùm" còn có cách nói "cáo đội lốt hổ uy" với nghĩa tương tự nhưng ít dùng. Tiếc thay, đến nay trong tiếng Việt từ hùm, từ hổ chưa có được cái nét nghĩa "khờ dại và cả tin đến mức ngu xuẩn". Còn nét nghĩa "tinh khôn, ranh mãnh quỷ quái" (Thằng cha ấy cáo lắm. Bọn thực dân cáo già) đã trở thành một trong những nghĩa phổ biến của từ cáo.
Đúng là "Những phường cáo mượn oai hùm ghê thay" (Truyện Trê Cóc).

Nguồn: Kể chuyện thành ngữ, tục ngữ
NXB Văn hóa Sài Gòn 2005

matbiec
08-01-2014, 01:32 PM
Chữ tác đánh chữ tộ

Từ điển thành ngữ Việt Nam (Nxb Văn hóa, H., 1993) định nghĩa chữ tác đánh chữ tộ (chữ tác vạch ra chữ tộ) là "dốt nát, kém cỏi, không đọc thông viết thạo, chữ này nhầm sang chữ kia" (tr.162). Lời định nghĩa này hơi dài mà lại không hoàn toàn chính xác. Trong bài "Chữ tác đánh chữ tộ" đăng trên Tạp chí Ngôn ngữ và đời sống, (số 1, 1997). Quỳnh Anh đã có lý khi cho rằng: "Giá như bỏ đoạn đầu ("dốt nát kém cỏi, không đọc thông viết thạo") mà chỉ giữ lại phần sau ("chữ này nhầm sang chữ kia") và chuyển thành một ngữ động từ (cho phù hợp với ý của câu thành ngữ, vốn có thể dùng như một ngoại ngữ: "Nó cứ chữ tác đánh chữ tộ") là nhầm "chữ nọ với chữ kia" thì có phải vừa đủ rõ nghĩa vừa chắc chắn không sai không?" (Quỳnh Anh, Bđd., tr.30).

Từ đánh trong chữ tác đánh chữ tộ được dùng với nghĩa như "đánh đồng", coi như nhau (hai cái vốn là khác nhau về bản chất). Sự nhầm lẫn "chữ tác" với "chữ tộ" có thể xảy ra khi viết, vì thế mà có biến thể: "chữ tác vạc ra chữ tộ". Nhưng phổ biến có lẽ là xảy ra khi đọc. "Chúng tôi vẫn cảm thấy không yên tâm. Tuy có giấy thông hành đầy đủ, nhưng bọn lính vào đây thấy chúng tôi lạ mặt, rồi chữ tác đánh chữ tộ, rất có thể chúng sẽ làm phiền, tra hỏi lôi thôi" (Chu Văn Tiến, "Kỷ niệm Cứu quốc quân"). Ví dụ vừa dẫn cho thấy thành ngữ chữ tác đánh chữ tộ đã được dùng với nghĩa rộng và khái quát hơn (không chỉ bó hẹp nói về sự nhầm lẫn chữ Hán).

Trong khẩu ngữ, người ta thường nối một vế tiếp theo sau thành ngữ đang xét và có hiệp vần cách:

Chữ tác đánh chữ tộ
Chữ ngộ đánh chữ quá

Câu chữ ngộ đánh chữ quá cũng được tạo theo mô hình cấu trúc của câu chữ tác đánh chữ tộ và cũng có nghĩa tương tự. Cái lý do khách quan dẫn đến sự nhầm lẫn giữa chữ tác và chữ tộ là do cả hai chữ giống nhau ở phần bên phải, còn giữa chữ ngộ và chữ quá là do có phần bên trái dưới giống nhau (cách viết của chữ Hán).

Người đời sau còn bổ sung một danh sách dài những trường hợp tương tự như chữ tác đánh chữ tộ. Và theo Quỳnh Anh thì gần đây nhất là trường hợp chữ hiếu đánh chữ lão (trong tập 11 bộ phim được chiếu trên truyền hình là phim "Đường Minh Hoàng": Bộ Hiếu Kinh của Đường Minh Hoàng soạn để dạy con cháu, có một lần được đọc là lão kinh. Chữ tác đánh chữ tộ là hiện tượng rất điển hình khi ta nói về chuyện đọc và viết chữ Hán (chữ vuông). Đối với thứ chữ khác cũng vậy thôi. Theo mô thức này, ta có thể nói về viết chữ (chính tả) trong tiếng Việt như "quáng đánh chữ quàng", "chữ vo đe (vỡ đê) đánh chữ vợ đẻ". Điều này cũng dễ hiểu, vì trong đời thường thiếu gì cái cảnh "nhìn gà hóa quốc"!

Nguồn: Kể chuyện thành ngữ, tục ngữ
NXB Văn hóa Sài Gòn 2005

matbiec
10-01-2014, 08:44 AM
Chim sa cá lặn

Ngày nay, mọi người đều hiểu thành ngữ này là một cách nói ngoa dụ để chỉ người đàn bà rất đẹp, giống như cách hiểu thành ngữ "hoa hờn nguyệt thẹn", tức đẹp tới mức hoa phải hờn vì sắc, trăng phải thẹn vì kém tươi. Nhưng thật ra, ý nghĩa ban đầu của thành ngữ này không phải vậy.

Trang Chu, hay thường gọi là Trang Tử, người đời Chiến Quốc, học thức rất uyên bác, không môn gì không biết. Trong sách "Nang hoa kinh", ông chép rằng: Mao Tường và Lệ Cơ là hai người đàn bà đẹp, cá thấy: chìm vào chốn hang sâu; chim thấy: bay cao (Ngư kiến chi nhập thâm, điểu kiến chi cao phi). Ý Trang Chu muốn nói rằng mọi sự trên đời đều là tương đối, Mao Tường, Lệ Cơ tuy đẹp, song chỉ đẹp với người, chứ biết đâu trông thấy họ, cá chẳng sợ mà lặn sâu, chim chẳng sợ mà bay cao?

Người sau hiểu khác hẳn nguyên ý ấy của Trang Chu, Sách "Thông tục biên" dùng thành ngữ "trầm ngư lạc nhạn" tức "chim sa cá lặn" dùng để chỉ nhan sắc người đàn bà cực đẹp.
Các nhà văn cổ điển của nước ta thường viết theo ý câu ấy:

"Mặn mà chìm cá rơi chim" (Hoa tiên)
"Chìm đáy nước cá lờ đờ lặn
Lửng da trời nhạn ngẩn ngơ sa" (Cung oán ngâm khúc)

Cũng cần thấy rằng thành ngữ này mang tính văn chương nhiều hơn là tính khẩu ngữ. Nó đặc biệt được sử dụng nhiều trong văn học cổ.

Nguồn: Kể chuyện thành ngữ, tục ngữ
NXB Văn hóa Sài Gòn 2005

matbiec
10-03-2014, 03:38 PM
Lá thắm chỉ hồng

Những câu nói trong dân gian như lá thắm, tơ hồng vương vấn hoặc nguyệt lão xe tơ đều lấy trong điển tích ông tơ bà nguyệt...




<tbody>
http://quehuongonline.vn/Uploads/LibraryImages/%2810%29hoa.jpg

</tbody>

Lúc tình đến độ, Kim Trọng ướm chuyện trăm năm. Thúy Kiều thỏ thẻ thưa: Dẫu khi lá thắm chỉ hồng
Nên chăng thì cũng tại lòng mẹ cha.



Lá thắm, theo điển tích là thư từ qua lại của đôi lứa trong ngày còn thơ. Nước Sở có thành Tây Độ Quan trấn thủ là Kiều Công Di có ái nữ là Kiều Nga, một giai nhân tuyệt sắc. Bấy giờ, tình hình trộm cướp như rươi dân tình không được an cư lạc nghiệp. Nội thành dành cho người quyền quí; ngoại thành cho thứ dân. Cửa thành luôn được canh phòng nghiêm ngặt, thường dân ra vào bị xét hỏi rất ngặt.


Giai nhân Kiều Loan đã thầm yêu trộm nhớ chàng nho sinh mạt rệp Kim Ngọc. Nhà chàng ở ngoại thành, nghèo rớt mồng tơi. Cậu học trò không dễ gì qua được cổng thành, nói chi đến chuyện lọt được nha môn để gặp gỡ người yêu. Bên này bên kia thành quách mà tưởng như núi non nghìn trùng. Không gặp nhau được, mỗi người chỉ biết nhìn dòng sông thở vắn than dài. Sông kia, mỗi ngày hai lần triều lên xuống, con nước từ ngoại thành đi vào rồi lại chảy ra. Theo triều lên xuống, đôi gái trai đã viết thơ trên lá, thả xuống sông, nhờ dòng nước mà trao đổi tâm tình cho thỏa nhớ thương. Dòng sông đã trở thành dòng lá thắm.


Những câu nói trong dân gian như lá thắm, tơ hồng vương vấn hoặc nguyệt lão xe tơ đều lấy trong điển tích ông tơ bà nguyệt. Theo Thần tiên truyện, thời Nguyên Hòa nhà Đường rất thái bình, có quan đại thần Chung Thôi rất giàu sang, thuộc vào hàng danh gia vọng tộc. Quý tử của Chung Thôi là Chung Hạo thông minh đĩnh ngộ; mới 12 tuổi đã văn hay chữ tốt, quan lại trong triều ai cũng khen; các vị có con gái đều mong muốn kết sui gia với Chung Thôi.


Ngoài thời gian vui thú cùng cầm kỳ thi họa, Chung Hạo cũng thường theo cha đi săn bắn. Một hôm đi săn, mải đuổi theo con thỏ, Chung Hạo lạc vào rừng sâu, quanh co cả ngày không tìm được lối ra. Đêm xuống lạnh giữa rừng hoang, Hạo bắt đầu thấy sợ. Dưới ánh trăng bỗng nghe tiếng suối róc rách, chàng lần đến tìm nước uống. Bên bờ suối, trong hang đá, một bà lão đang ngồi xe chỉ, màu chỉ đỏ thắm. Chung Hạo khẽ bước lại gần, kính cẩn thưa:
- Tiểu nhân đi săn, bị lạc đường. Xin hỏi nơi đây là đâu, sao lão bà lại ngồi một mình xe chỉ đỏ?
- Đây là động tiên. Ta đang ngồi xe duyên cho những đôi tình yêu nhau dưới trần gian. Chỉ này là dây tơ hồng. Ta xe nhiều hay ít thì trai gái cũng theo đó mà thương yêu nhau nhiều hay ít. Ta muốn đôi trai gái nào nên vợ chồng thì ắt chúng sẽ kết duyên, không xa lìa nhau được.
- Vậy thưa lão bà có thể cho tiểu nhân biết sau này sẽ được sánh duyên cùng ai ?
Lão bà đưa mắt nhìn vào bên trong động. Ở đó có một ông lão đang cúi gầm trên một cuốn sách dày cộm.
- Kia là ông tơ. Công tử muốn biết thì hỏi ông ấy.
Ông lão hỏi tên tuổi Chung Hạo rồi lật từng trang sách ra tra cứu:
- Sau này công tử sẽ được xe duyên với Tố Lan, con gái một mụ ăn mày ở chợ Đông, gần kinh thành.

Lão ông chưa dứt lời, Chung Hạo đã đùng đùng nổi giận. Đường đường là một quí tử của quan đại thần, tài nghệ, văn hay chữ tốt khó ai bì kịp mà sau này lại kết duyên cùng với con gái mụ ăn mày. Tức tối, chàng quay bước đi, không một lời chào. Ông tơ vẫn chúi đầu trong sổ bộ, bà nguyệt vẫn bình thản xe chỉ hồng.


Chung Hạo chaỵ thục mạng suốt đêm trong rừng sâu. May mắn, sáng sớm mai, gặp được quân lính triều đình đang tỏa đi tìm kiếm. Trở về dinh, sau ngày đó, chàng công tử đâm ra biếng ăn lười nói. Lời tiên tri của ông tơ như cứ lởn vởn trong đầu. Đến một hôm, không kìm được sự thôi thúc, Chung Hạo cùng một gia đồng tìm xuống chợ Đông. Vừa đến đầu chợ, đã gặp ngay một đứa bé gái chừng 9 tuổi mặt mày lem luốc, áo quần rách bươm, dắt theo một bà ăn xin mù lòa. Tên gia đồng dò hỏi thì biết được tên của con bé là Tố Lan. Chung Hạo thất kinh, ù té chạy về dinh, tâm thần hoảng loạn. Không được, không thể nào ta lại chịu khuất phục số mệnh, để làm chồng một con bé ăn mày bẩn thỉu như vậy được. Làm thế nào đây! Suy nghĩ cạn nước, chỉ còn cách là diệt trừ cái mầm định mệnh khắc nghiệt đó đi.


Với rắp tâm sẵn, một buổi sáng Chung Hạo một mình tìm xuống chợ Đông. Anh ta đứng nấp sau một thân cây lớn. Cô bé dắt mẹ đi qua. Chàng ta cầm hòn đá, liệng ngay vào đầu con bé rồì ù chạy. Sau đó, dò hỏi tin tức thì được biết con bé bị thương tích quá nặng, e không sống được; và rồi bà lão mù cũng không còn thấy ăn xin giữa chợ Đông nữa.


Bảy năm sau. Chung Hạo đã nên danh phận. Nghe tin thiên hạ bàn tán ở huyện Trúc Giang có con gái quan Thái úy nổi danh là một giai nhân sắc nước hương trời, tên là Thảo Nương. Vương Tôn công tử gần xa, ngày đêm đến cầu thân, nhưng chưa ai được kén chọn. Chung Hạo tìm đến, thuê một phòng trọ trước phủ đường. Mới một lần tình cờ nhìn thấy Thảo Nương, Chung Hạo chao động cả lòng. Chàng vội quay trở về nhà, xin phụ thân Chung Thân tính đường mai mối. Hai gia đình là môn đăng hộ đối, nên việc kết hôn sớm viên thành. Đôi uyên ương nên vợ chồng yêu nhau mặn nồng.

Một hôm, Chung Hạo âu yếm gội đầu cho Thảo Nương. Thấy vợ mình có một cái thẹo lớn đàng sau gáy, chàng hỏi:

- Vì sao có cái thẹo này ?
- Nguyên, thiếp là con một bà ăn mày mù ở chợ Đông. Lúc nhỏ, một hôm đang dắt mẹ đi ăn xin, không hiểu sao lại có một kẻ xấu cầm đá ném vào đầu thiếp, thương tích nặng, tưởng đã lìa đời. May nhờ bà con tận tình cứu chữa. Và sau đó, may mắn được quan Thái úy có lòng từ tâm, lại hiếm muộn, nên đem hai mẹ con thiếp về nuôi dưỡng. Thiếp được nghĩa phụ dạy dỗ, cho ăn học. Mẹ thiếp qua đời. Thiếp được giúp việc bút nghiên cho nghĩa phụ nơi công đường. Đã rất nhiều đám đến dạm hỏi, nhưng đều bị từ chối. Lạ thay, bên nhà chàng vừa ngỏ, thì dưỡng phụ bằng lòng ngay. Chúng ta đẹp duyên ngày nay chắc là có duyên nợ.
- Không, Thảo Nương nàng ơi. Nếu là định mệnh thì nàng phải là...
- Tố Lan. Tố Lan là tên của thiếp lúc còn bé. Sau khi được đưa về dinh, nghĩa phụ đã xin ý mẹ, đổi tên này.
Thiên Hạo đã tin hẳn duyên giai ngẫu là do thiên định. Chàng say đắm ngắm nhìn cái duyên số Tố Lan của mình và khẽ ngâm:
Hữu duyên thiên lý năng tương ngộ
Vô duyên đối diện bất tương phùng.

(Có duyên ngàn dặm xa vẫn gặp
Không duyên tận mặt vẫn cách lòng).

Nguồn: quehuongonline.vn

matbiec
12-03-2014, 10:39 AM
Thắt lưng buộc bụng


PGS. TS. PHẠM VĂN TÌNH

“Thắt lưng buộc bụng” là một thành ngữ đã có từ lâu nhưng gần đây tự nhiên lại được dùng với tần suất khá cao trên báo chí. Xuất phát từ sự khủng hoảng kinh tế toàn cầu trong mấy năm qua mà nhiều quốc gia phải thực hiện một chính sách nói nôm na là “thắt lưng buộc bụng”.


Đó là việc triển khai chính sách tài khóa thắt chặt, cắt giảm đầu tư công, giảm bội chi ngân sách nhà nước... Chắc mọi người đều biết cách đây không lâu, dân Hy Lạp biểu tình khắp nơi khi chính phủ của họ quyết định thực hiện 10 biện pháp thắt lưng buộc bụng, trước sức ép mạnh mẽ của Liên minh Châu Âu và Quỹ Tiền tệ quốc tế.

Nhưng mặc cho thế giới biểu tình và tìm mọi cách thực thi chính sách theo ý họ, thành ngữ “thắt lưng buộc bụng” trong tiếng Việt vẫn không hề thay đổi nội dung ngữ nghĩa từ bao đời nay. Nó dùng chỉ “sự tiết kiệm, dè sẻn trong chi tiêu, chịu đựng đói khổ để dành dụm tiền của làm việc gì đó (thường là việc lớn)” (Viện Ngôn ngữ học, “Từ điển thành ngữ Việt Nam”, NXB Văn hoá Thông tin, 1993); hay “hết sức hạn chế, tiết kiệm trong tiêu dùng để trang trải, dành dụm trong hoàn cảnh khó khăn” (Trung tâm Từ điển học, “Từ điển tiếng Việt”, NXB Đà Nẵng, 2011). Giải thích như vậy về cơ bản có lẽ không có gì phải bàn thêm.

Tuy nhiên, có nhiều ý kiến thắc mắc về cách giải thích nghĩa đen của thành ngữ này. Bởi không ít người (căn cứ vào nghĩa tổ hợp đang dùng) cho rằng, “thắt lưng buộc bụng” chung quy là phải tiết kiệm, nhịn ăn nhịn mặc (chủ yếu nhịn ăn). Mà muốn nhịn ăn, ăn ít thì phải thắt lưng (bằng dây hay mảnh vải) thật chặt, làm cho bụng bé hẳn lại. Bụng bé đi chắc hẳn người ta sẽ phải giảm ăn (mà có muốn ăn nhiều cũng chịu). Cắt nghĩa như vậy phải chăng là thực tế và hợp lí? Nhưng nghe ra có vẻ “thật thà” quá. Đâu phải cứ buộc bụng cho chặt thì người ta sẽ ăn ít đi? Đói thì đầu gối phải bò. Nếu có thức ăn thì người ta sẽ “nới” ngay thắt lưng mà ăn cho thoả thích.

Nhân vài lần đi công tác ở mấy tỉnh phía Bắc, tôi đã trao đổi và nhận ra có mấy hướng giải thích khác nhau về xuất xứ của thành ngữ này.

Hướng thứ nhất, bà Nguyễn Thị Lựu (ở Hùng Tâm, Yên Thắng, Ý Yên, Nam Định) cho đây là động tác bắt buộc của các bà thợ cấy. Dân đi cấy đòi hỏi phải nai nịt gọn ghẽ, dù nắng hay mưa cũng nên mặc áo mưa trùm ngoài (cho khỏi bị bắn bùn hoặc bị ướt). Ai cũng phải thắt ngang lưng một sợi dây khá bền, để không bị gió thổi bay, cúi xuống áo không bị bung ra chạm mặt ruộng và cũng để dắt các bó lạt (bằng rơm nếp hoặc bằng sợi giang), nhỡ không đang cấy hết mạ thì đi nhổ mạ tiếp. Theo bà Lựu, với dân đi cấy, thắt dây ngang lưng là việc cuối cùng khi xuống ruộng và cởi dây khỏi bụng là việc đầu tiên khi lên bờ (để trở về trang phục bình thường).

Hướng thứ hai, theo bà Vũ Thị Mùi (94 Cầu Gỗ, Hà Nội) thì đây chỉ trang phục của dân chợ búa. Ngày trước, các bà buôn bán ngoài chợ, bao giờ cũng dùng một cái ruột tượng đeo bên mình. “Ruột tượng” là một loại bao bằng vải, dùng để đựng tiền hay gạo, đeo quanh bụng hoặc ngang lưng. Nếu là tiền thì mối thắt nằm ở sau lưng, còn là gạo thì mối thắt kéo ra trước bụng. Có những ruột tượng dài, người ta quấn tới 2 vòng và thắt để rủ xuống trước bụng. Bà Mùi (vừa mới mất), là dân buôn bán lẻ, hồi còn hay đi chợ Đồng Xuân những năm gần đây, bà vẫn đeo ruột tượng, đựng tiền, trầu vỏ và nhiều thứ linh tinh. Bà nói, đeo ruột tượng rất tiện lợi và an toàn.

Hướng thứ ba, theo ông Nguyễn Ngọc Trai (Bảo Tháp, Đông Cứu, Gia Bình, Bắc Ninh) thì câu “thắt lưng buộc bụng” này liên quan tới trang phục chèo cổ. Ông Trai nói rằng, trang phục của dân hát chèo là theo cách ăn mặc của nông thôn đồng bằng Bắc Bộ xưa. Phục trang này có các vai chín, lệch và về cơ bản đều có phần giống nhau. Trên sân khấu, những vai “nữ chín” thường mặc áo dài mớ ba mớ bảy. Các vai “nữ lệch” mặc áo dài tứ thân màu sắc rực rỡ. Ví dụ, Thị Kính vào vai trong màn “Vu quy” đã mặc yếm đào bên trong, ngoài áo cánh tơ tằm màu mỡ gà, váy đen chấm gót, bên ngoài là áo dài ngũ thân màu hồng và dứt khoát phải có dải thắt lưng xanh buộc ngang bụng, cho hai đầu dải chảy dài xuống quá đầu gối. Việc “thắt lưng buộc bụng” là động tác quan trọng, để hoàn tất trang phục cho diễn viên chèo bước ra sân khấu.

Nghe ra, ba cách giải thích trên đều độc đáo, đều hay nhưng lại “vô lí ầm ầm”. Cũng bởi nếu cắt nghĩa theo ba cách đó thì chẳng có cơ sở nào để dẫn tới nghĩa “tiết kiệm, dè sẻn hay dành dụm” cả. Tôi lúng túng chưa biết nghiêng về bên nào. Vậy xin chép ra đây để mọi người cùng tham khảo, bàn bạc, không phải để làm “trọng tài phân xử” mà là góp thêm một tiếng nói “giải mã” ngọn nguồn ngôn ngữ dân gian..



Nguồn: laodong.com.vn

matbiec
20-03-2014, 04:01 PM
Mũ ni che tai

Ý nghĩa của câu thành ngữ nói về thái độ bàng quan, tiêu cực, gác bỏ ngoài tai mọi sự đời, trốn tránh đấu tranh.
Chuyện kể:
Xưa có hai vợ chồng con chiền chiện làm tổ ở tai ông sư. Vốn tâm niệm không sát sinh nên ông sư cứ để cho chiền chiện sống ở đó. Được ít lâu chiền chiện đẻ ra một chiền chiện con.

Một hôm, chiền chiện mẹ bay đi kiếm ăn. Lúc trở về qua hồ sen, chiền chiện ngỡ trong hoa sen có sâu bọ, bèn bay vào kiếm thức ăn thì bấy giờ trời đã tối, cánh hoa sen cụp lại, chiền chiện không sao ra được, phải nương náu trong hoa.

Đêm ấy, chiền chiện bố ở tổ một mình, bị con cào cào nó đánh chiếm tổ, vô tình thế nào cào cào đè gẫy mất chân chiền chiện con.

Sáng ra, hoa sen nở, chiền chiện mẹ bay về tổ. Chiền chiện bố vừa giận, vừa ghen, quát tháo mắng ầm cả lên rằng:

- Con kia! Đêm qua mày ăn nằm với ai, để ở nhà cào cào nó vào nó phá, nó làm gẫy chân con…

Chiền chiện mẹ nghe nói vội nhảy ra đứng ở vành tai ông sư om sòm chửi cào cào rằng:

- Mày làm thế nào cho chân con bà lành lại thì làm. Nếu mày để cho chồng bà đánh mắng bà thì mày chết với bà.

Cào cào bay lại đậu lên vành tai bên kia ông sư mà mắng lại rằng:

- Mày nấu cơm không lành, canh không ngọt cho chồng mày, nó đánh mắng mày chứ việc gì đến tao.

Rồi hai con hăng lên, đánh nhau toán loạn, chửi rủa nhau đến cùng, làm ông sư đinh tai nhức óc, không sao chịu được.

Có người đến bảo ông sư rằng:

- Nhà chùa không nỡ vứt cái tổ chim đi thì chụp cái mũ lên đầu, chúng cứ cãi nhau nữa cũng chẳng hề gì.

Ông sư nghe nói phải mới nhờ bà vãi đan cho một cái mũ len có cái diềm rộng.

Bà vãi đan xong cái mũ này làm ngơ được mọi điều trong thiên hạ thì gọi nó là mũ ni.

Thế rồi mỗi lần vợ chồng chiền chiện và cào cào cãi nhau, ông sư nọ lại lấy cái mũ ra đội vào, cẩn thận che kín cả hai tai và sau gáy lại, rồi a di đà Phật, “mũ ni che tai, mũ ni che tai”.

Cũng vì không bỏ tổ chim, cứ để nó làm tổ tai mình nên chẳng bao lâu nhà sư ấy đắc đạo. (1)



Cái sự cãi nhau mà lại ở ngay tai người khác mà người ấy vẫn làm ngơ được chẳng qua là nhờ cái mũ ni che tai. Thế mới hay, thờ ơ bàng quan lại được thăng chức là điều thật vô lý. Cái thói như thế, người đời còn gọi là “dĩ hòa vi quý”.



Theo Đi tìm điển tích thành ngữ của Tiêu Hà Minh - NXB Thông tấn



(1) Theo truyện “Vợ chồng con chiền chiện và ông sư” Nguyễn Văn Ngọc – NXB Văn học, 2003.

Nguồn: quehuongonline.vn

matbiec
16-04-2014, 06:05 PM
Chuồn chuồn đạp nước

Câu thành ngữ ý nói về việc làm ăn lớt phớt, chiếu lệ qua loa cho xong chuyện, không sâu sắc, kỹ càng.


Chuyện kể:

Có cô chuồn chuồn nước sinh ra trên mặt nước, sống ở đó hai năm rồi mà vẫn chẳng hơn gì loài bọ gậy gọng vó. Chuồn chuồn buồn lắm. Đến năm thứ ba, đôi cánh mỏng trong suốt của nó mới bắt đầu mọc ra. Chuồn chuồn lấy làm sung sướng lắm, mới nói với con gọng vó:
- Ta có đuôi dài, lại có đôi cánh đẹp. Ta chẳng thèm sống ở dưới ao tù này nữa. Ngày mai ta tạm biệt gọng vó, ta dành cả cho anh cái ao.

Gọng vó nói:

- Chị sống ở ao lâu ngày, chớ có quên nơi mình sinh ra. Mai chị bay đi, chắc cuộc đời làm chuồn chuồn của chị cũng chỉ vài ba tháng nữa. Đời ngắn ngủi, vậy chị cố mà về thăm chúng tôi.

Vào một buổi sáng đẹp trời, cô chuồn chuồn từ dưới ao bắt đầu cất cánh bay lên. Nó cứ bay lượn mãi trên cao, rồi sà vào vườn cây. Đôi cánh mỏng và nhẹ của nó lướt đi, đem theo thân hình nó với hai con mắt to và cái đuôi dài cũng nhẹ làm sao. Nó cứ bay, bay mãi, du lịch khắp đó đây. Nó vừa bay, vừa ăn thịt con mồi, hễ thấy con muỗi, con ruồi nào lảng vảng là nó há cái hàm ra mà đớp lấy.

Rồi cô chuồn chuồn cũng đến kỳ sinh nở. Trong cuộc hành trình vô định đó, chỉ có đến lúc này nó mới nhớ đến xứ sở của mình, nơi nó đã sinh ra. Nghĩ vậy, nó bèn chao mình xuống mặt nước, trong chốc lát lẹo cái đuôi xuống, đẻ ra bao nhiêu là trứng.

Có một con bọ nước thấy chuồn chuồn cứ chớp nhoáng như vậy, mới bảo:

- Chị đúng là người chẳng có tổ có tông. Đập nước như vậy thì có tích sự gì. Bằng không chị xuống đây, ao rộng, chị tha hồ mà tắm có thoải mái hơn không?

Chuồn chuồn mới nói:

- Tôi nhớ nước nhưng sà xuống đấy thì ướt hết cánh, làm sao bay được. Mặt nước vốn là nơi tôi sinh ra, bây giờ đến kỳ, tôi đẻ nhờ trên mặt nước vài quả trứng. chị trông giùm tôi với.

Nói rồi, nó lại chao xuống, chớp nhoáng, nhúng phần đít xuống mặt nước đẻ đến khi hết trứng.

Chuồn chuồn là loài sâu bọ cánh mỏng. Vòng đời không dài, chia làm hai giai đoạn, nhộng ở dưới nước ba năm, giai đoạn hóa chuồn chuồn hai đến ba tháng. Khi đẻ, nó lại đẻ xuống nước. Từ đặc tính của chuồn chuồn mà người ta vận vào đời sống. Ý nói rằng: Chẳng thiếu gì người được giao nhiệm vụ nhưng làm ăn cẩu thả tắc trách. Cái sự làm ăn được chăng hay chớ đó có khác gì con chuồn chuồn đạp nước mà dân gian đã chớp lấy ngắn cho con người.
Theo Đi tìm điển tích thành ngữ của Tiêu Hà Minh - NXB Thông tấn

matbiec
21-04-2014, 03:24 PM
Thẳng như ruột ngựa

Chắc ai trong chúng ta cũng biết một điều là khi nói về tính tình của một người bộc trực, thẳng thắn, nghĩ sao nói vậy, không lắt léo, không giấu giếm... dân gian hay dùng thành ngữ “Thẳng ruột ngựa" hay "Thẳng như ruột ngựa" để diễn tả.
Nhưng sao lại nói "Thẳng như ruột ngựa" mà lại không nói "thẳng như ruột bò" (vì ruột ngựa mà thẳng thì chúng ăn uống, tiêu hóa thế nào)!

Ngựa là con vật ăn cỏ như trâu bò, nhưng bộ máy tiêu hoá của ngựa lại khác rất xa với trâu bò. Dạ dày ngựa thuộc loại dạ dày đơn, không tiêu hoá được nhiều chất xơ cứng. Ruột ngựa rất dài, đặc biệt đoạn nối ruột non với dạ dày (gọi là manh tràng) cũng dài tới 1m và rất lớn giống một chiếc ống, thẳng và to với đường kính 15-25cm. Quá trình tiêu hoá chủ yếu diễn ra ở đây chứ không phải ở dạ dày. Có lẽ dựa vào cơ sở giải phẫu nội tạng của con ngựa và căn cứ vào những điều thu nhận được bằng quan sát trực quan mà trong nhận thức của người Việt Nam, ruột ngựa được xem là một đối chứng về tính chất "thẳng" và trái ngược với "cong queo", "ngoằn ngoèo" vốn là đặc điểm của ruột các con vật nói chung.

Thoạt đầu phép so sánh Thẳng (như) ruột ngựa có lẽ chỉ miêu tả tính chất hình thể, vật thể mà con người có thể thấy được, quan sát được. Tuy nhiên, trong tiếng Việt, ruột hay bụng, lòng, dạ đều có ý nghĩa biểu trưng cho tình cảm, tâm tư, suy nghĩ, nhận thức của con người. Ta thấy còn có các câu, như: Ruột đau như cắt, bầm gan tím ruột, nóng gan nóng ruột, (đau) đứt từng khúc ruột, ruột để ngoài da… Chính nhờ vào tính biểu trưng của ruột theo quan niệm của người Việt mà thành ngữ Thẳng (như) ruột ngựa được “cấp” thêm một nét nghĩa mới, biểu thị tính tình con người hoặc tính chất hình tượng thuộc phạm vi tinh thần.

Trong sử dụng ngôn ngữ, Thẳng như ruột ngựa thường được dùng để chỉ sự bộc trực ngay thẳng, thật thà của tính cách con người. Trong cách đối xử, người có tính "thẳng ruột ngựa" được xem là người hiền lành, không có ác tâm, không lắt léo, không tính toán vòng vo, không so đo hơn thiệt.
Trong nhiều trường hợp, thành ngữ Thẳng ruột ngựa được dùng để chỉ tính chất mộc mạc, dung dị và chân phương. Thí dụ: “Nếu thơ Thái và thơ Mường bay bướm thì thơ Mèo thẳng ruột ngựa, không bóng gió” (Báo Văn nghệ).

(Theo Năm Ngọ nói chuyện thành ngữ về ngựa, TS Phạm Văn Tình (Viện Từ điển học))

matbiec
17-05-2014, 11:22 AM
Phúc họa khó lường

Cái họa cái phúc ở đời khó lường được, may thành rủi, rủi thành may.
Theo Hoài Nam Tử, xưa ở gần biên ải, có ông lão là Thượng Tái Ông, có con ngựa quý tự nhiên biến mất. Hàng xóm người đến chia buồn, ông lão vẫn tươi cười nói: “Mất ngựa chưa chắc đã là họa mà biết đâu còn là phúc”.
Quả nhiên ít lâu sau, con ngựa ở đâu về dẫn theo một con ngựa đẹp khác. Thấy ngựa lại dắt thêm ngựa về, mọi người đén chúc mừng. Riêng ông lão chẳng tỏ ra vui vẻ gì mà còn nói: “Biết đâu, chẳng phải là cái họa mang đến nhà ta”.
Con trai ông thích chí vì có ngựa đẹp nên mải mê leo trèo phi ngựa suốt ngày để đến một hôm ngã ngựa mà gẫy chân.
Mọi người thấy vậy đến chia buồn cùng ông, nhưng ông lại điềm nhiên nói: “Biết đâu lại là cái phúc”.
Mà cũng nghiệm vậy, thời đó quân Phiên tràn vào toàn thể trai tráng trong làng trong tổng đều phải xông pha trận mạc. Riêng con trai ông, vì bị gẫy chân nên người ta không bắt lính. Nhiều người đi lính chết nơi trận mạc nhưng cậu con trai Tái Ông vẫn ung dung ở nhà cưỡi ngựa.
Nhiều người biết chuyện nhà Tái Ông mới nói với nhau: “Thật là phúc họa khó lường”. (1)

Phúc họa khó lường được minh họa theo truyện trên là giả định, nếu có tai họa xảy ra thì người ta thường dành những lời an ủi, động viên để giảm bớt buồn phiền, đau khổ cho những kẻ đó, chứ không ai nỡ lòng nào mong cho kẻ đó chuốc thêm họa nữa vào thân. Phúc, họa xoay vần khó biết. Vậy nên gặp phúc thì cũng đừng cho là phúc mãi, gặp họa cũng đừng bi quan cho là “họa vô đơn chí”.
Theo Đi tìm điển tích thành ngữ của Tiêu Hà Minh - NXB Thông tấn
(1) Theo truyện “Tái Ông mất ngựa”, “Điển hay, tích lạ”- Nguyễn Tử Quang.

matbiec
11-11-2014, 03:20 PM
Nước chảy chỗ trũng

Nước là chất lỏng nên chảy từ chỗ cao xuống chỗ thấp là quy luật tự nhiên. Nghĩa bóng câu này chỉ của cải, lợi lộc cứ dễ dàng rơi vào tay kẻ giàu có, đã giàu lại càng thêm giàu. Còn có câu: Của cải vào cả nhà giàu.
Chuyện kể:
Một hôm, thần nước đến lò giời để kiện thần mây. Thần nước tâu:
- Thưa! Cái anh thần mây thật chẳng công bằng chút nào, lấp nắng của lò giời làm cho hạ giới chỗ được nắng, chỗ thì râm.
Lò giời gọi thần mây lại quở:
- Mi thật thiếu công bằng, sao cứ che lấp nắng của hạ giới.
Thần mây giận bảo:
- Đấy là vì gió thổi, tôi lang thang trên không trung, gió mạnh thì bay nhanh, gió nhẹ thì bay chậm. Thần mưa cưỡi lên tôi che lấp cả nắng, vậy lại còn kiện tôi là cớ sao!
Lò giời giải thích:
- Chẳng qua Thần mưa muốn công bằng, nơi nào cũng có nắng, giống như nó muốn nơi nào cũng có nước vậy.
Thần mây tức giận bảo:
- Vậy muốn công bằng, cứ thử xem.
Thế là Thần mây sà xuống thấp, làm cho Thần nước tích tụ lại, nặng dần rồi rơi xuống thành nước rơi xuống hạ giới. Thần nước cứ chảy tràn khắp nơi, từ chỗ cao xuống chỗ thấp, cố lấp đầy các chỗ thiếu nước, mong rằng mặt đất nơi nơi đều có nước cho công bằng, thành thử nước từ đấy cứ chảy về chỗ trũng, còn chỗ đất cao thì khô ráo, cần nước lại chẳng thấy đâu. (1)
Chỗ cao thì thường thiếu nước, không có nước. Chỗ trũng thường thì có nước hoặc nhiều nước. Vậy mà nước lại cứ chảy vào chỗ trũng. Hiện tượng tự nhiên thì không lấy gì làm lạ, nhưng lạ là ở xã hội, có kẻ đã giàu rồi thì thường cứ giàu mãi. Đã giàu có lại hay được lộc, được biếu xén, như thế đâu có công bằng. Thần mưa muốn công bằng nhưng Thần mưa là chất lỏng nên cứ theo quy luật lại chảy vào chỗ trũng, vậy thì lại đẩy sự phân cấp giàu nghèo càng cao.

Theo Đi tìm điển tích thành ngữ của Tiêu Hà Minh - NXB Thông tấn
(1): Theo “Truyện cổ nước Nam”, Ôn Như Nguyễn Văn Ngọc, NXB Văn học, 2003.

Nguồn: http://quehuongonline.vn/VietNam/Home/Ban-sac-van-hoa/Giai-thich-thanh-ngu-tuc-ngu-/2012/02/47A576FA/