PDA

View Full Version : Anh hùng Hoàng Hoa Thám dưới góc nhìn văn hóa



yuri
17-03-2012, 10:14 AM
Anh hùng Hoàng Hoa Thám dưới góc nhìn văn hóa

Hoàng Hoa Thám, thường gọi Đề Thám là người anh hùng dân tộc có tài cầm quân đánh giặc. Nhưng những hoạt động không mệt mỏi của ông trên lĩnh vực văn hoá, chắc nhiều người chưa thật tỏ tường.

Từ lâu, giới nghiên cứu lịch sử nước nhà đã dành không ít thời gian, tâm trí tìm hiểu thân thế, sự nghiệp đấu tranh chống giặc ngoại xâm của một người được mệnh danh là "Hùm thiêng Yên Thế". Song tìm hiểu Hoàng Hoa Thám và cuộc khởi nghĩa Yên Thế dưới góc nhìn văn hoá lại không có mấy nhà khoa học, nhà văn hoá dày công suy xét. Cho đến nay hầu như chưa có một công trình nghiên cứu nào đề cập chuyên sâu về "chất" văn hoá của vị thủ lĩnh áo nâu này. Vì vậy, việc đưa ra nhận định Hoàng Hoa Thám là một danh nhân văn hoá có thể sẽ có người chưa thật đồng tình. Song nhìn lại giai đoạn lịch sử bi tráng của dân tộc, Đề Thám không chỉ dựng cờ tụ nghĩa chống giặc mà còn có nhiều đóng góp xây dựng và phát triển văn hoá, được sử sách và nhân dân ghi nhận.

Đến thăm Bảo tàng Yên Thế, chúng ta thấy ngay một tấm pa-nô lớn ghi dòng chữ lớn: "... Chúng tôi gắn bó với phong tục của đất nước chúng tôi, chúng tôi không bao giờ từ bỏ phong tục ấy, dù có phải hy sinh cả tính mạng". Đó là lời tuyên ngôn nổi tiếng trích trong thư Đề Thám gửi cho quân Pháp giữa lúc chúng vừa tấn công đồn Hố Chuối vừa kêu gọi nghĩa quân ra hàng. Đáp trả, Đề Thám đã dõng dạc tuyên bố mục đích chiến đấu của mình là để bảo vệ phong tục, tập quán tốt đẹp của dân tộc mình, nói rộng ra là bảo vệ văn hoá dân tộc trước sự nô dịch văn hoá của kẻ thù dù phải đánh đổi cả mạng sống của mình. Điều đó cũng nói rằng Đề Thám và nghĩa quân Yên Thế là những người yêu quê hương, đất nước, có tư tưởng nhân văn, quyết chiến đấu đến cùng chống quân xâm lược trà đạp lên những giá trị văn hoá tốt đẹp của dân tộc.

Thực tế lịch sử dân tộc cũng đã chứng minh chân lý: Dù đất nước bị nghìn năm Bắc thuộc nhưng văn hoá dân tộc vẫn trường tồn bất chấp âm mưu thâm độc đồng hoá văn hoá của kẻ thù. Chỉ khi văn hoá dân tộc được gìn giữ, phát triển mới có thể tạo nên nguồn sức mạnh nội sinh chiến thắng quân xâm lược, giành độc lập, tự do cho Tổ quốc.

Sau nhiều lần tấn công vào Yên Thế thất bại, cuối năm 1897 toàn quyền Đông Dương là Đume buộc phải chấp nhận hoà hoãn với nhiều điều khoản do Đề Thám đưa ra. Tranh thủ 12 năm hoà bình( 1897- 1909), Đề Thám vừa lo củng cố lực lượng quân sự vừa chú trọng phát triển kinh tế- văn hoá, xây dựng vùng Phồn Xương thành "một thế giới riêng biệt... giữa cái nơi gió mưa tanh tưởi" bốn bề là lũ giặc cướp nước. Đến thăm "vũ trụ riêng của tướng quân", Phan Bội Châu đã phác hoạ bức tranh toàn cảnh cuộc sống nhân dân vùng Phồn Xương đẹp thanh bình như có cả chất thơ, chất nhạc: "Tôi đã hai lần đến Phồn Xương, xem khắp xung quanh dân, trâu cày từng đội, chim rừng quyện người, đàn bà, trẻ em nhởn nhơ, tiếng chày rậm rịch, có cái vẻ vui của những ngày đình đám hội hè mà không hề có tiếng than thở về chính quyền bạo ngược và mãnh hổ hại người”. Chính trong thời gian hoà hoãn, dưới sự lãnh đạo của Đề Thám, các hoạt động văn hoá, lễ hội ở YênThế diễn ra sôi nổi với nhiều hình thức phong phú, thu hút đông đảo nhân dân tham gia. Một số tư liệu lịch sử đã ghi lại và nhiều người cao tuổi trong vùng còn nhớ giữa lúc nghĩa quân gặp muôn vàn khó khăn khi phải gấp rút chuẩn bị nhân lực, vật lực để kháng chiến lâu dài, Đề Thám vẫn quan tâm tu sửa, xây dựng mới nhiều đình, chùa, nhà thờ trong vùng. Với những đình, chùa xuống cấp ông cho tiền, thuê thợ về dựng lại. Những nơi chưa có đình, Đề Thám giúp dân làm đình mới như đình làng Lan, làng Trũng, làng Hả, Phồn Xương, Dĩnh Thép… Có những ngôi đình bị giặc Pháp đốt phá, Đề Thám đã dựng lại nay vẫn tồn tại với nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc tinh xảo, được Nhà nước xếp hạng di tích lịch sử văn hoá. Trong đó nổi bật là đình Cao Thượng bị giặc đốt cháy tận mái được cụ Đề thuê thợ, cấp tiền cho dân làng phục dựng trên nền cũ. Cho đến nay toà đại đình này vẫn được nhân dân địa phương bảo tồn, gìn giữ, trở thành công trình có giá trị lịch sử văn hoá, nghệ thuật chạm khắc tài hoa.

Cùng với phát triển đình, chùa, Đề Thám còn góp công xây dựng mới và nâng cấp các nhà thờ đã cũ nát như nhà thờ Trũng Ngoài, Tân An, Châu Sơn, Khánh Giàng… Tuy những nhà thờ này không có quy mô lớn, nghệ thuật kiến trúc chưa thật đặc sắc song chứng tỏ vị thủ lĩnh áo nâu luôn tôn trọng tự do tín ngưỡng của nhân dân. Mặc dù thời điểm ấy giặc Pháp ra sức tìm cách chia rẽ giáo lương, nhiều quan lại phong kiến có tư tưởng cấm đạo Thiên chúa nhưng Đề Thám vẫn giữ mối quan hệ mật thiết với các cha đạo và giáo dân ở địa phương. Gặp khi mùa màng thất bát, Đề Thám cho xuất gạo cứu trợ các giáo dân đói đứt bữa. Dịp lễ, tết, ông và các cha đạo trong vùng thường thăm hỏi, giao lưu, tặng quà cho nhau. Nhờ tư tưởng tiến bộ đó, Đề Thám và nghĩa quân đã nhận được nhiều sự ủng hộ, giúp đỡ từ phía nhà thờ. Một lần tại nhà thờ Tân An, bất ngờ quân Pháp ập đến, cha đạo đã đưa Đề Thám lánh vào tủ sách, thoát được sự truy bắt của giặc. Có giáo dân là chỗ thân thiết của nghĩa quân bị giặc Pháp bắt, tra khảo, khép tội phản đạo đã dũng cảm nói: "Chúng tôi nhờ có cụ Hoàng mới có được nơi thờ phụng chúa mà sao gọi theo cụ Hoàng là phản đạo".

Yêu văn hoá- văn nghệ nên tại căn cứ Phồn Xương Đề Thám đã đứng ra tổ chức nhiều lễ hội và thường cho mời các phường tuồng ở Đồng Kỵ (Bắc Ninh), Thổ Hà (Việt Yên)… lên biểu diễn phục vụ nghĩa quân và nhân dân. Những phong tục, tập quán tốt đẹp của nhân dân luôn được Đề Thám gìn giữ, phát huy. Theo tác giả Nguyễn Xuân Cần và Anh Vũ, hàng năm Đề Thám đều đích thân đứng ra tổ chức các lễ hội cầu may, cầu siêu tưởng niệm các nghĩa quân đã hy sinh vì nghĩa lớn. Sau lễ rước tưng bừng cờ, lọng là hội thi phóng ngư, phóng điểu, phóng đăng, thi hát lượn, hát ví thâu đêm. Lễ hội có quy mô lớn hơn cả là hội chùa Phồn Xương tổ chức từ ngày 10 đến rằm tháng giêng. Vui nhất là từ đêm ngày 12, nhân dân cả vùng Phồn Xương náo nức dự hội thi làm cỗ, làm các loại bánh, thi bắn súng, bắn cung, đua ngựa, đánh cờ, đấu võ… suốt ba ngày đêm. Có thể nói từ năm 1900 trở đi, Phồn Xương không chỉ là thủ phủ của cuộc khởi nghĩa mà còn là trung tâm giao lưu văn hoá, văn nghệ, hội hè, đình đám của cả vùng. Rất nhiều bậc túc nho, người có tư tưởng tiến bộ từ Trung kỳ, Bắc kỳ, từ mạn ngược sông Đà, sông Lô... "khổ sở vì chính quyền bạo ngược đều lấy doanh trại của tướng quân làm nơi trốn tránh. Vì thế rất đông đúc, tiếng gà, tiếng chó rộn vang, tựa như một cảnh đào nguyên của những bậc lánh đời vậy" (Phan Bội Châu).

Cùng với lãnh đạo khởi nghĩa, Đề Thám luôn chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân. Chính nghị sĩ Met- si- my từng thừa nhận trước Quốc hội Pháp tại phiên họp ngày 27-7-1909 rằng, Đề Thám thực sự là "người anh hùng dân tộc, đối với nhiều người, Đề Thám đã trở thành hiện thân của tâm hồn người An Nam". Với những đóng góp to lớn trong bảo vệ và phát huy những giá trị văn hoá tốt đẹp của dân tộc, Đề Thám xứng đáng là một danh nhân văn hoá. Hy vọng các hoạt động văn hoá của Đề Thám sẽ tiếp tục được các nhà khoa học để tâm nghiên cứu làm sáng tỏ hơn nữa trong thời gian tới.

Văn Anh