PDA

View Full Version : Les abolitions de l’esclavage



Cinephile
08-05-2012, 04:20 PM
De l'abolition de l'esclavage, on ne retient souvent que 1848 et le combat humaniste de Victor Schœlcher. En réalité, le combat abolitionniste a été controversé et difficile, et s'est déroulé tout au long du XIXe siècle, "siècle des abolitions".

Về phong trào bãi nô, người ta thường chỉ nhớ đến năm 1848 và cuộc chiến nhân đạo của Vitor Schoelcher. Trên thực tế, cuộc đấu tranh giải phóng nô lệ đã gây ra tranh cãi và gặp nhiều khó khăn, và nó đã diễn ra trong suốt thế kỷ 19, “thế kỷ giải phóng nô lệ”.


http://www.linternaute.com/histoire/magazine/dossier/06/esclavage/images/abolition-1848.jpg



L'abolition de l'esclavage dans les colonies françaises (27 avril 1848)
Tableau de François Biard, Musée national du château de Versailles
(Bãi bỏ chế độ nô lệ ở các thuộc địa của Pháp (27/4/1848) - Tranh của François Biard, Bảo tàng quốc gia Versailles)

Cinephile
08-05-2012, 04:24 PM
La première abolition

Proclamant l'universalité des droits de l'Homme, la Révolution française ne pouvait théoriquement ignorer la présence d'esclaves sur le territoire français. Pourtant, l'Assemblée constituante de 1789 ne porta aucune atteinte au système esclavagiste des colonies.

Công bố tính phổ biến của quyền con người, Cách mạng Pháp về lý thuyết không thể bỏ qua sự hiện diện của nô lệ trên lãnh thổ Pháp. Tuy nhiên, Quốc hội lập hiến 1789 lại không hề đả động đến chế độ nô lệ ở các thuộc địa.

1789 : une opinion indifférente ?
Au moment des Etats Généraux de 1789, la question de l'esclavage paraît bien lointaine aux Français qui vivent alors une crise économique très difficile. Mais contrairement aux idées reçues, ce sujet n'est pas totalement absent des esprits et des cahiers de doléances. On connaît surtout le cahier de Champagney qui condamne énergiquement, dans son article 29, la traite des Noirs et réclame son abolition. Mais ce n'est pas le seul : sur cette question, la France est clairement divisée en deux, suivant une ligne allant de la Loire au Jura, 80% des doléances sur l'esclavage étant situées au nord, dans la "France alphabétisée". Cependant, cette mobilisation est faible comparée à l'ampleur des mouvements anglais au même moment. C'est qu'en Angleterre, où les libertés fondamentales existent depuis plus d'un siècle, la circulation de l'information est bien meilleure qu'en France, pays où l'absolutisme a longtemps contrôlé la liberté d'opinion. L'indifférence supposée des Français est avant tout due au manque d'information.
<tbody>
http://www.linternaute.com/histoire/magazine/dossier/06/esclavage/images/homme-battu.jpg


Marchand d'esclave à Goree (Sénégal)

</tbody>


1789: dư luận thờ ơ?
Vào Hội nghị ba đẳng cấp 1789, vấn đề nô lệ dường như xa lạ đối với những người Pháp đang sống trong cuộc khủng hoảng kinh tế rất khó khăn. Nhưng trái với những thành kiến, chủ đề này không hoàn toàn vắng mặt trong đầu óc người ta và trong các tập san bất bình. Chúng ta biết đến nhiều nhất tập san Champagney, trong mục 29, đã tố cáo việc buôn người da đen và đòi bãi bỏ nạn này. Nhưng không chỉ có vậy: về vấn đề này, nước Pháp rõ ràng đã được chia thành hai, theo đường từ Loire đến Jura, 80% số ta thán về chế độ nô lệ đều ở phía bắc, trong vùng “Pháp biết chữ”. Tuy vậy, tầm cỡ cuộc huy động này yếu hơn so với Anh thời bấy giờ. Ở Anh, nơi mà các quyền tự do cơ bản đã tồn tại từ hơn một thế kỷ, sự nắm bắt thông tin tốt hơn nhiều so với Pháp, nơi mà chính quyền chuyên chế kiểm soát tự do tư tưởng đã lâu. Giả thiết trên hết cho sự thờ ơ của người Pháp là do thiếu thông tin.

Esclavage et colonies
Les colons ont vu dans les principes de 1789 l'occasion de briser la tutelle de la métropole sur les colonies. Face à leurs revendications, l'Assemblée constituante finit par leur donner tous les pouvoirs. Aussitôt, les colons élisent des assemblées exclusivement "blanches" (les libres de couleur n'étant pas habilités à y participer) se déclarant supérieures à l'autorité du Gouverneur général, représentant de la métropole. Mais la révolte armée des "mulâtres" (personnes issues d'une union Noir-Blanc), fin 1790, montre bientôt à la République française qu'elle n'a pas pris en compte tous les habitants des colonies, mais seulement "l'aristocratie" de ces dernières. Les "libres de couleur" réclament également l'égalité.

Chế độ nô lệ và thuộc địa
Những tên thực dân đã thấy được trong các nguyên tắc 1789 cơ hội phá vỡ quyền giám hộ của chính quốc trên thuộc địa. Đối mặt với những yêu sách của họ, Quốc hội lập hiến cuối cùng đã cho họ toàn quyền. Ngay lập tức, họ bầu ra hội đồng chỉ có người da trắng (người da màu không có tư cách tham gia vào) tự nhận là cấp cao hơn Toàn quyền, người đại diện cho chính quốc. Nhưng cuộc nổi dậy có vũ trang của những người lai da đen (con của vợ chồng da trắng và da đen) vào cuối năm 1790 sớm chỉ cho Cộng hoà Pháp thấy rằng họ đã không quan tâm đến người dân ở thuộc địa mà chỉ “quý tộc hoá”. Người da màu cũng được đòi bình đẳng.

Le soulèvement de Saint-Domingue et la première abolition de l'esclavage
En août 1791, à la suite d'une cérémonie vaudou, de nombreux esclaves du nord de Saint-Domingue décident de se révolter : en quelques jours, toutes les plantations du nord de l'île sont incendiées, leurs propriétaires massacrés. L'Assemblée envoie alors des commissaires rétablir l'ordre mais l'intransigeance des colons ranime bientôt les revendications des "libres de couleur " et des esclaves. Le 4 avril 1792, l'égalité des droits des blancs et des "libres de couleur" est proclamée dans l'enthousiasme. Mais il faut attendre encore plus d'un an avant que les commissaires civils Sonthonax et Polverel ne proclament l'abolition de l'esclavage à Saint-Domingue. Apprenant cette décision, la Convention vote, le 4 février 1794, l'abolition de l'esclavage dans toutes les colonies.
<tbody>
http://www.linternaute.com/histoire/magazine/dossier/06/esclavage/images/premier-abolition.jpg


La première abolition de l'esclavage

</tbody>


Cuộc nổi dậy ở Santo Domingo và cuộc giải phóng nô lệ đầu tiên
Tháng 8 năm 1791, sau lễ Voodoo, nhiều nô lệ ở bắc Santo Domingo quyết định nổi dậy: trong vòng vài ngày, tất cả đồn điền ở phía bắc của đảo đều bị đốt cháy, các đồn chủ bị tàn sát. Quốc hội lúc đó gửi các uỷ viên đến lập lại trật tự nhưng sự không nhân nhượng của những tá điền đã làm tăng những đòi hỏi của người da màu và nô lệ. Ngày 4 tháng 4 năm 1792, bình đẳng về các quyền của người da trắng và người da màu được công bố trong niềm hân hoan. Nhưng còn phải chờ hơn một năm nữa trước khi hai uỷ viên dân sự Sontonax và Polverel tuyên bố bãi bỏ chế độ nô lệ ở Santo Domingo. Học tập quyết định này, ngày 4 tháng 2 năm 1794, Hội nghị quốc ước bỏ phiếu bãi bỏ chế độ nô lệ ở tất cả thuộc địa.

Cinephile
08-05-2012, 05:17 PM
Le commerce triangulare

Le commerce triangulaire se déroulait en trois phases distinctes :
Thương mại tam giác diễn ra trong 3 giai đoạn riêng biệt:

- Première étape : les navires chargés de marchandises destinés à l'achat des esclaves partaient d'Europe pour rejoindre les côtes d'Afrique, où avaient lieu les transactions.
- Giai đoạn một: những con tàu chở đầy hàng hoá dùng để mua nô lệ rời Châu Âu để đi đến các bờ biển Phi, nơi diễn ra giao dịch.

- Deuxième étape : les bateaux rejoignaient les Antilles ou les continents américains pour vendre les esclaves.
- Giai đoạn hai: tàu đi tới quần đảo Ăng-ti hoặc các lục địa Châu Mỹ để bán nô lệ.

- Troisième étape : chargés de produits coloniaux, les navires rentraient en Europe.
- Giai đoạn ba: chất đầy sản phẩm từ thuộc địa, tàu trở về Châu Âu.


<tbody>
http://www.linternaute.com/histoire/magazine/dossier/06/esclavage/images/carte.jpg (http://www.linternaute.com/histoire/magazine/dossier/06/esclavage/carte.shtml)





Carte du commerce triangulaire




</tbody>

<o:p></o:p>

Cinephile
11-05-2012, 10:36 AM
La "réaction" esclavagiste

En 1802-1804 s'engage un processus de "réaction" esclavagiste. Ce mouvement est favorisé par deux événements : le coup d'Etat de Bonaparte, qui supprime la garantie constitutionnelle de la liberté générale, et la paix avec l'Angleterre, qui permet au régime consulaire de mettre en œuvre un projet global pour les Caraïbes.

Trong năm 1802-1804 bắt đầu quá trình “phản ứng” ủng hộ chế độ nô lệ. Phong trào này được thuận lợi nhờ hai sự kiện: cuộc đảo chính của Bô-na-pác xoá bỏ sự bảo đảm của hiến pháp cho quyền tự do chung, và hoà bình với Anh cho phép chế độ Tổng tài thực hiện kế hoạch toàn cầu đối với Ca-ri-bê.

Le plan de restauration coloniale

La politique coloniale du Consulat est influencée par les nostalgiques de la prospérité de l'Ancien Régime, reposant sur le produit des plantations esclavagistes. Les pièces maîtresses de ce projet sont alors la Louisiane, la Martinique et Saint-Domingue. La Louisiane, cédée par l'Espagne, permet à la France de rétablir son influence en Amérique du Nord. La Martinique, sous occupation anglaise jusqu'en 1793, n'a pas connu l'abolition. Quant à Saint-Domingue, il s'agit d'un territoire autonome sous l'autorité d' un gouverneur noir, Toussaint Louverture. Ce dernier, fils du roi du Bénin, dont la tribu a été déportée sur l'île de Saint-Domingue, ancien gardien de bétail et esclave affranchi en 1776, a acquis une petite fortune dans la culture du café. Pendant les rébellions de l'été 1791, il est parvenu à lever une armée de 2 000 hommes et à contrôler un vaste territoire. Après l'abolition de 1794, il s'est rallié à la France : Général en chef de l'armée de Saint-Domingue, il a progressivement installé un "pouvoir noir" sur l'île, a pris, en 1801, le titre de Gouverneur général à vie et a placé l'île sous le régime d'une Constitution autonomiste.

Kế hoạch phục hồi thuộc địa
Chính sách thuộc địa của chế độ Tổng tài bị ảnh hưởng bởi những người nuối tiếc thời thịnh vượng của Chế độ cũ, dựa trên hoa lợi của những đồn điền bóc lột lao động. Theo đó những vùng chính trong dự án này là Louisiana, Máctinic và Santo Domingo. Louisiana, được Tây Ban Nha nhượng lại, cho phép Pháp khôi phục ảnh hưởng ở Bắc Mỹ. Máctinic, bị Anh chiếm đóng đến năm 1793, vẫn chưa được bãi bỏ chế độ nô lệ. Về phần Santo Domingo, đây là lãnh thổ tự trị thuộc thẩm quyền của tổng đốc người da đen là Toussaint Louverture. Ông này, là con của vua Bénin mà bộ lạc của ngài bị đày lên đảo Santo Domingo, nguyên là người chăn gia súc và nô lệ giải phóng năm 1776, ông có được tài sản nhỏ trong việc trồng cà phê. Trong cuộc nổi dậy mùa hè 1791, ông đã tuyển được một đạo quân 2000 người và kiểm soát một lãnh thổ rộng lớn. Sau cuộc bãi bỏ chế độ nô lệ năm 1794, ông theo Pháp: trở thành Thống tướng của Santo Domingo, ông dần thiết lập “quyền lực đen” trên đảo; năm 1801, ông nhận tước Toàn quyền trọn đời và đặt hòn đảo dưới chế độ tự trị theo Hiến pháp.

Bonaparte et le rétablissement de l'esclavage
Le 8 mai 1802, Napoléon Bonaparte est nommé Premier Consul de la République pour dix années supplémentaires. Le 20 mai il rétablit l'esclavage, influencé par plusieurs de ses proches : Cambacérès, avocat des planteurs, mais aussi sa propre femme, Joséphine de Beauharnais, issue d'une riche famille créole de la Martinique. En Guadeloupe, le colonel mulâtre Delgrès, rejoint par Joseph Ignace, prend la tête d'une révolte contre ce retour de l'ordre ancien. Afin de mater la rébellion, Bonaparte envoie une mission de 4 000 hommes qui se livrent à une terrible répression. Ignace et ses troupes sont vaincus alors qu'ils tentaient une action de diversion sur Pointe-à-Pitre. Quant à Delgrès, acculé à Matouba, il préfère se donner la mort avec 300 de ses fidèles (28 mai 1802) plutôt que de redevenir esclave.

<tbody>
http://www.linternaute.com/histoire/magazine/dossier/06/esclavage/images/timbre.jpg


Louis Delgrès, héros de la résistance



</tbody>


Bô-na-pác và sự tái thiết chế độ nô lệ
Ngày 8 tháng 5 năm 1802, Napôlêông Bônapác được bổ nhiệm là Đệ nhất Tổng tài của Cộng hoà Pháp thêm 10 năm. Ngày 20 tháng 5, ông lập lại chế độ nô lệ, do được nhiều người thân tác động: Cambacérès, luật sư của các chủ đồn điền, cũng như vợ ông, Joséphine de Beauharnais, xuất thân gia đình crê-ôn giàu có ở Máctiníc. Tại Goađêlốp, đại tá lai da đen Delgrès, với sự gia nhập của Joseph Ignace, lãnh đạo một cuộc nổi dậy chống sự trở lại của trật tự cũ. Để khuất phục quân phản nghịch, Bônapác gửi phái bộ 4000 người vào cuộc đàn áp khủng khiếp. Ignace và đội quân của ông thua trận khi đang cố đánh lạc hướng địch đến Pointe-à-Pitre. Về phần Delgrès, bị dồn vào đường cùng ở Matuba, ông thà tự sát cùng với 300 người trung thành (ngày 28 tháng 5 năm 1802) còn hơn trở lại làm nô lệ.

De la résistance à l'indépendance de la première République noire
En mars 1802, un corps expéditionnaire commandé par le général Leclerc débarque dans l'île de Saint-Domingue, placée sous l'autorité de Toussaint Louverture. L'objectif n'est tout d'abord pas le rétablissement de l'esclavage mais le désarmement des troupes de couleurs et le retour de l'île sous autorité métropolitaine. Malgré l'arrestation de Toussaint Louverture et le ralliement à Leclerc de la plupart de ses généraux, plusieurs officiers de couleur lancent un appel à l'insurrection en septembre 1802. Un an plus tard, les survivants du corps expéditionnaire capitulent : le général noir Dessalines proclame l'indépendance d'Haïti (du nom d'un ancien royaume des Caraïbes), première République noire, le 1er janvier 1804. La République d'Haïti occupe alors tout l'ouest de l'île de la "Grande Terre", l'est étant occupé par l'Hispaniola, territoire sous autorité espagnole et future République Dominicaine, dont la capitale s'appelle aujourd'hui Saint-Domingue. Nommé Gouverneur général à vie et proclamé Empereur quelques mois plus tard, Dessalines règne sur l'Empire haïtien sous le nom de "Jacques, Empereur Ier d'Haïti". Le premier empire haïtien (1804-1806) est une dictature personnelle fondée sur l'armée, seule force stable du nouvel État.

<tbody>
http://www.linternaute.com/histoire/magazine/dossier/06/esclavage/images/dessalines.jpg


Dessalines, héros de l'indépendance et premier dictateur d'Haïti

</tbody>


Từ cuộc kháng chiến đến độc lập của Cộng hoà da đen đầu tiên
Tháng 3 năm 1802, lực lượng viễn chinh do tướng Leclerc chỉ huy đổ bộ lên đảo Santo Domingo, thuộc quyền của Toussaint Louverture. Mục tiêu trước hết không phải là tái lập chế độ nô lệ mà là giải trừ quân bị của đội quân da màu và lấy lại quyền kiểm soát hòn đảo cho chính quốc. Mặc dù Toussaint Louverture bị bắt giữ và hầu hết tướng lĩnh quy theo Leclerc nhưng nhiều sĩ quan da màu vẫn kêu gọi khởi nghĩa vào tháng 9 năm 1802. Một năm sau, những kẻ sống sót của lực lượng viễn chinh đầu hàng: ngày 1 tháng 1 năm 1804, vị tướng da đen Dessalines tuyên bố độc lập của Haiti (tên một vương quốc cổ ở Caribê), nước Cộng hoà da đen đầu tiên. Cộng hoà Haiti chiếm toàn bộ phía tây đảo Grande Terre, phía đông bị chiếm đóng bởi Hispaniola, lãnh thổ dưới quyền Tây Ban Nha và Cộng hoà Dominica tương lai, mà thủ đô của nó ngày nay gọi là Santo Domingo. Được chỉ định là Toàn quyền trọn đời và tự phong là hoàng đế vài tháng sau đó, Dessalines trị vì đế chế Haiti dưới tên gọi “Jacques, hoàng đế đầu tiên của Haiti”. Đế chế Haiti đầu tiên (1804-1806) là một chế độ độc tài cá nhân dựa vào quân đội, lực lượng ổn định duy nhất của Nhà nước mới.

Cinephile
15-05-2012, 03:48 PM
L'abolitionnismePhong trào bãi nô Insistant sur son refus de violence, de tout projet d'abolition immédiate et d'indépendance des colonies, le mouvement abolitionniste international s'est efforcé de se démarquer du précédent haïtien.

Nhấn mạnh chủ trương từ chối bạo lực trong mọi kế hoạch giải phóng nô lệ ngay lấp tức và giành độc lập ở các thuộc địa, phong trào bãi nô quốc tế đã nỗ lực tìm cách khác biệt với Haiti trước đó.
En EuropeLe plus important mouvement abolitionniste européen est né en Angleterre, où les sociétés antiesclavagistes obtiennent l'interdiction de la traite dès 1807 (conjointement avec les Etats-Unis). Cette mesure est étendue aux pays signataires du Traité de Vienne en 1815. Le combat consiste alors à faire appliquer l'interdiction internationale de la traite et à faire progressivement abolir l'esclavage. En France, après la perte de Saint-Domingue et l'effondrement de l'Empire napoléonien, la remise en cause frontale de l'esclavage est mal acceptée. Au sein de la Société de la morale chrétienne se crée, en 1822, un Comité pour l'abolition effective de la traite mais celui-ci reste peu important. Ce n'est qu'en 1834 que l'abolitionnisme français peut s'affirmer au grand jour avec la création de la Société française pour l'abolition de l'esclavage. Quant aux autres pays coloniaux, tels que la Hollande ou l'Espagne, ils ne connaissent aucun mouvement de cette ampleur.

<tbody style="margin-top: 0px; margin-right: 0px; margin-bottom: 0px; margin-left: 0px; padding-top: 0px; padding-right: 0px; padding-bottom: 0px; padding-left: 0px; ">
http://www.linternaute.com/histoire/magazine/dossier/06/esclavage/images/abolitionniste.jpg


Abolitionniste libérant un esclave

</tbody>
Tại Châu Âu
Phong trào bãi nô quan trọng nhất ở Châu Âu được ra đời tại Anh quốc, nơi mà hiệp hội chống chế độ nô lệ đạt được lệnh cấm buôn bán nô lệ từ năm 1807 (cùng với Hoa Kỳ). Lệnh này mở rộng đến các nước ký Hiệp ứoc Vienna năm 1815. Do đó cuộc chiến bao gồm việc thực hiện lệnh cấm quốc tế về buôn bán nô lệ và từng bước bãi bỏ chế độ nô lệ. Tại Pháp, sau khi mất Santo Domingo và Đế chế Napôlêông sụp đổ, thì việc trực diện đặt lại vấn đề nô lệ khó được chấp nhận. Năm 1822, trong Hội đạo đức Kitô giáo tự lập Uỷ ban để bãi bỏ hiệu quả nạn buôn bán nô lệ nhưng uỷ ban này vẫn chưa còn yếu. Chỉ khi đến năm 1834 phong trào bãi nô của Pháp mới có thể công khai cùng với sự thành lập Hội bãi nô Pháp. Về phần các nước thực dân khác như Hà Lan hay Tây Ban Nha, họ không có bất kỳ vận động gì về hoạt động này.

En Amérique
Très précoce aux Etats-Unis, le mouvement abolitionniste est freiné, en 1787, par le compromis constitutionnel autorisant l'esclavage dans les Etats du sud. En 1807, les Etats-Unis interdisent la traite : une avancée pour les sociétés antiesclavagistes mais un frein au militantisme, la plupart des abolitionnistes étant persuadés que l'abolition de l'esclavage suivra rapidement. Mais l'Union s'étend bientôt, comprenant de plus en plus d'Etats esclavagistes. Par réaction, l'abolitionnisme connaît un nouvel essor en 1815-1820, jouant un rôle majeur dans le combat pour l'émancipation en diffusant massivement des informations sur les réalités de l'esclavage.

<tbody style="margin-top: 0px; margin-right: 0px; margin-bottom: 0px; margin-left: 0px; padding-top: 0px; padding-right: 0px; padding-bottom: 0px; padding-left: 0px; ">
http://www.linternaute.com/histoire/magazine/dossier/06/esclavage/images/esclave-americain.jpg


Le Sud esclavagiste



</tbody>
Tại Mỹ
Rất sớm tại Hoa Kỳ, phong trào bãi nô bị kìm hãm vào năm 1787 do thoả ước hiến pháp cho phép chế độ nô lệ ở các bang phía Nam. Năm 1807, Mỹ cấm buôn bán nô lệ: một bước tiến đối với những hiệp hội bài nô nhưng lại là bước hãm trong chiến đấu, vì hầu hết những người giải phóng nô lệ đều tin chắc rằng phong trào bãi nô sẽ diễn ra nhanh chóng. Nhưng ngay sau đó Liên minh được mở rộng, bao gồm ngày càng đông các bang nô lệ. Nhờ phản ứng này, phong trào giải phóng nô lệ đã có phát triển mới trong thời gian 1815-1820, đóng vai trò trọng đại trong cuộc chiến giải phóng bằng việc phổ biến rộng rãi thông tin về hiện thực nô lệ.

Cinephile
17-05-2012, 11:25 AM
Les grandes abolitionsPrésenté comme le "siècle des abolitions", le XIXe siècle a connu trois types principaux d'abolition : révolution violente, interdiction graduelle et "abolition préventive".

Được gọi là “thế kỷ giải phóng nô lệ”, thế kỷ 19 có 3 kiểu giải phóng chính: cách mạng bạo lực, cấm dần va “bãi bỏ phòng ngừa”.

L'Amérique du Sud ou l'abolition graduelle
L'abolition en Amérique du Sud s'est opérée en trois vagues. En 1816, Simon Bolivar, chef des guerres d'indépendance des colonies espagnoles d'Amérique du Sud, conclut un accord avec le président de la République d'Haïti, par lequel il s'engage à abolir l'esclavage en échange du soutien de ce dernier. Les abolitions de fait sont nombreuses, notamment dans les rangs de l'armée, où des esclaves se sont engagés, mais les abolitions officielles sont plus lentes à se faire. Dans les Etats autonomes où l'esclavage est une pratique très répandue, les délais entre l'engagement et les mesures effectives sont assez longs (Venezuela, de 1817 à 1854). Pour les pays sous autorité espagnole, il faut attendre les années 1880 pour que la loi Moret d'abolition graduelle votée en 1870 prenne effet. Enfin, le Brésil, qui clôt la série, n'abolit l'esclavage que sous la pression de la Grande Bretagne en 1888.
<tbody style="margin-top: 0px; margin-right: 0px; margin-bottom: 0px; margin-left: 0px; padding-top: 0px; padding-right: 0px; padding-bottom: 0px; padding-left: 0px; ">
http://www.linternaute.com/histoire/magazine/dossier/06/esclavage/images/bolivar.jpg


Simon Bolivar, héros de la guerre d'indépendance latino-américaine

</tbody>

Nam Mỹ hay phong trào bãi bỏ dần
Phong trào bãi nô ở Nam Mỹ diễn ra trong 3 đợt. Năm 1816, Simon Bolivar, người lãnh đạo cuộc chiến tranh giành độc lập của các thuộc địa Tây Ban Nha ở Nam Mỹ, thoả thuận với tổng thống Cộng hoà Haiti, theo đó anh ta cam kết bãi bỏ chế độ nô lệ đổi lại là sự ủng hộ của ông này. Có nhiều phong trào bãi nô trên thực tế, đặc biệt là ở hàng ngũ quân đội, nơi mà các nô lệ đã đăng lính, nhưng những phong trào chính thức thì lại bắt đầu chậm hơn. Ở các nước tự trị nơi mà chế độ nô lệ rất phổ biến thì thời hạn giữa cam kết và hiệu lực khá dài (Venezuela, từ 1817 đến 1854). Đối với những quốc gia dưới quyền Tây Ban Nha, phải chờ đến những năm 1880 để luật bãi bỏ dần Moret được biểu quyết năm 1870 có hiệu lực. Cuối cùng là Bra-zin, nước Nam Mỹ cuối cùng trong phong trào, chỉ bãi bỏ chế độ nô lệ dưới áp lực của Anh vào năm 1888.

La guerre civile américaine
Union pétrie de contradictions, les Etats-Unis représentent à la fois l'un des premiers foyers de l'abolitionnisme et un pays dont l'économie est, pour beaucoup d'états, fondée sur les plantations esclavagistes. En 1860, l'élection de l'abolitionniste modéré Abraham Lincoln à la présidence de l'Union, met à jour cette différence. Onze états du Sud choisissent la sécession et se regroupent dans une Confédération. La guerre civile qui dure de 1861 à 1865 aboutit à la victoire des états du Nord et à l'abolition générale de l'esclavage. Pour autant, les anciens esclaves n'obtiennent pas l'égalité dans les états du Sud : privés du droit de vote et de droits civils, ils sont marginalisés. Une ségrégation qui durera au moins jusqu'aux années 1960.
<tbody style="margin-top: 0px; margin-right: 0px; margin-bottom: 0px; margin-left: 0px; padding-top: 0px; padding-right: 0px; padding-bottom: 0px; padding-left: 0px; ">
http://www.linternaute.com/histoire/magazine/dossier/06/esclavage/images/secession.jpg


Les armées du Nord intègrent des soldats noirs dans leurs rangs

</tbody>

Nội chiến Mỹ
Là một Liên bang đầy mâu thuẫn, Hoa Kỳ đồng thời đại diện cho một trong những ổ nô lệ đầu tiên và một quốc gia có kinh tế dựa vào các đồn điền nô lệ đối với nhiều tiểu bang. Năm 1860, nhà giải phóng nô lệ ôn hoà Abraham Lincoln đắc cử tổng thống Mỹ. Mười một tiểu bang miền Nam chọn ly khai và tự hợp lại thành một Liên đoàn. Nội chiến kéo dài từ năm 1861 đến 1865 dẫn đến thắng lợi của các tiểu bang miền Bắc và chấm dứt chế độ nô lệ chung. Tuy vậy, những nô lệ cũ ở các tiểu bang miền Nam không đạt được bình đẳng: không có quyền bầu cử và quyền dân sự, họ bị gạt ra ngoài lề xã hội. Phân biệt còn kéo dài ít nhất đến những năm 1960.

La France ou le combat d'un seul homme
En 1848, Arago, ministre de la marine et des colonies, n'envisage pas une abolition immédiate de l'esclavage. Mais le 3 mars, il rencontre Victor Schœlcher qui le convaint d'agir rapidement. Nommé sous-secrétaire d'Etat, président de la commission chargée de rédiger le décret d'abolition, il publie ce dernier le 27 avril 1848. Ainsi, " le gouvernement provisoire, considérant que l'esclavage est un attentat contre la dignité humaine ; qu'en détruisant le libre arbitre de l'homme, il supprime le principe naturel du droit et du devoir ; qu'il est une violation flagrante du dogme républicain : Liberté, Egalité, Fraternité (...) décrète que l'esclavage sera entièrement aboli dans toutes les colonies et possessions françaises."
<tbody style="margin-top: 0px; margin-right: 0px; margin-bottom: 0px; margin-left: 0px; padding-top: 0px; padding-right: 0px; padding-bottom: 0px; padding-left: 0px; ">
http://www.linternaute.com/histoire/magazine/dossier/06/esclavage/images/schoelcher.jpg


Victor Schœlcher, artisan de l'abolition français


</tbody>

Pháp hay là cuộc chiến đấu của một người
Năm 1848, Arago, bộ trưởng hàng hải và thuộc địa, không có ý định bãi bỏ chế độ nô lệ ngay lập tức. Nhưng vào ngày 3 tháng 3, ông gặp Victor Schoelcher, người đã thuyết phục ông hành động nhanh chóng. Được bổ nhiệm làm thứ trưởng, chủ tịch uỷ ban soạn thảo sắc lệnh bãi nô, ông công bố sắc lệnh này vào ngày 27 tháng 4 năm 1848. Theo đó, “chính phủ lâm thời, xét thấy chế độ nô lệ là một sự xâm phạm phẩm giá con người; nó huỷ diệt ý chí tự do của con người, xoá bỏ nguyên tắc tự nhiên về quyền và nghĩa vụ; vi phạm trắng trợn giáo điều của nền cộng hoà : Tự do, Bình đẳng, Bác ái (...) quyết định bãi bỏ hoàn toàn chế độ nô lệ trên tất cả thuộc địa và các vùng Pháp chiếm lĩnh.