PDA

View Full Version : Lý Thánh Tông: người đặt quốc hiệu Đại Việt



yuri
04-07-2012, 05:00 PM
Lý Thánh Tông: người đặt quốc hiệu Đại Việt

Lý Thánh Tông (húy là Nhật Tôn), cháu nội của Thái Tổ Lý Công Uẩn, là vị vua thứ ba của triều Lý, quê ở Cổ Pháp-Đình Bảng, Từ Sơn, Bắc Ninh ngày nay.

Tài trị nước an dân

Lý Thánh Tông sinh ngày 25-2 năm Quý Hợi (1023). Năm Thiên Thành thứ nhất (1028) được sắc phong làm Đông cung Thái tử. Khi vua cha Lý Thái Tông qua đời bèn lên ngôi Hoàng đế, ở ngôi 17 năm (1054-1072).

Lý Thánh Tông khéo kế thừa sự nghiệp của Tiên đế. Đặt niên hiệu: Long Thụy Thái bình (1054-1058), Chương Thánh Gia Khánh (1059-1065), Long Chương Thiên Tự (1066-1067), Thiên Huống Bảo Tượng (1068), Thần Võ (1069-1072).

Năm 1054, ngay khi lên ngôi Hoàng đế, Lý Thánh Tông đặt Quốc hiệu là Đại Việt, có ý muốn ngang hàng với Đại Tống ở phương Bắc (trước đó, từ đời nhà Đinh, nước ta Quốc hiệu là Đại Cồ Việt).

Năm 1056, Lý Thánh Tông ban Chiếu khuyến nông, kêu gọi những người tha phương cầu thực trở về quê quán khai khẩn đất hoang, trồng lúa, trồng màu, ổn định đời sống.

Lý Thánh Tông coi trọng khai hóa sự văn học, lập Văn miếu năm 1070, làm tượng Chu Công, Khổng Tử và 72 Tiên hiền để thờ, đặt khoa bác sĩ, hậu lễ, dưỡng liêm, sáng sủa việc văn, phòng bị việc võ...

Vị vua nhân đức

Nhà vua thực lòng thương dân, thương kẻ bị hình, vỗ về người xa, an ủi người gần, từ bi bác ái theo Phật giáo.

Năm 1071, Lý Thánh Tông du ngoạn vùng Phật Tích và ngự viết chữ Phật dài 1 trượng 6 thước (khoảng 5 mét), sai khắc vào đá để ở chùa trên núi.

Sách “Việt Sử Lược” đã ghi lại những lời nói nhân đức của Lý Thánh Tông. Gặp tiết đại hàn, nhà vua bảo các quan tả, hữu rằng: “Trẫm ở trong thâm cung, sưởi lò than quế, mặc áo hổ cừu, thế mà khí lạnh còn ghê gớm đến thế. Huống dư những người bị giam cầm trong ngục, khổ sở vì gông cùm, ngay gian chưa định rõ, bụng không đủ cơm no, áo không kín thân thể, mỗi khi gặp cơn gió bấc thổi, há chẳng là vô tội mà bị oan ư? Trẫm rất lấy làm thương xót. Vậy hạ lệnh cho hữu ty phát chăn chiếu và mỗi ngày hai bữa cơm cho họ”.

Một lần ngự ở điện Thiên Khánh xét án, có Động Thiên công chúa đứng hầu bên cạnh, nhà vua chỉ vào công chúa mà bảo các quan rằng: “Ta yêu con ta cũng như bậc cha mẹ trong thiên hạ yêu quý con cái họ. Trăm họ không biết gì nên tự phạm vào hình pháp, lòng ta rất xót xa. Cho nên từ nay về sau, không cứ tội nặng nhẹ, đều nhất luật khoan giảm”.

Lý Thánh Tông có bà vợ rất đảm là Nguyên Phi ỷ Lan. Chuyện xưa kể rằng: Khi nhà vua đã 40 tuổi vẫn chưa có con trai nên đi khắp các chùa để cầu tự. Trong chuyến về chùa Dâu, Lý Thánh Tông đã gặp ỷ Lan (cô gái hái dâu đứng tựa bụi cỏ lan) và đưa về cung, phong làm ỷ Lan phu nhân, đến năm 1066 lại phong làm Thần phi do việc ỷ Lan sinh con trai Càn Đức (tức vua Lý Nhân Tông kế vị). Nguyên Phi ỷ Lan từng hai lần nhiếp chính, giúp chồng và con cai quản đất nước rất xuất sắc.

Đã nhân mà lại dũng

Vì ghét nhà Tống phản phúc, tháng 3 năm Kỷ Hợi (1059), nhà vua cho quân đánh Khâm Châu nước Tống, khoe binh uy rồi về.

Khi Chiêm Thành quấy nhiễu Đại Việt, nhà vua thân chinh cầm quân đi đánh. Đánh lần đầu không thành công, đem quân trở về. Đi đến đầu Cư Liên, nghe thấy mọi người khen bà Nguyên Phi ở nhà giám quốc, trong nước được yên trị, nhà vua nghĩ rằng “Người đàn bà trị nước còn được như thế, mà mình đi đánh Chiêm Thành không thành công, thế ra đàn ông hèn lắm à?”. Rồi đem quân trở lại đánh, bắt được vua Chiêm Thành là Chế Củ. Năm ấy là Kỷ Dậu (1069). Chế Củ dâng đất ba châu để chuộc tội, là châu Địa Lý, Ma Linh và Bố Chính (thuộc địa hạt tỉnh Quảng Bình và Quảng Trị ngày nay). Lý Thánh Tông lấy ba châu ấy cho Đại Việt và cho Chế Củ về nước.
Việc binh chính, nhà vua phân quân hiệu rõ ràng, chia ra làm tả hữu tiền hậu 4 bộ, hợp lại thành 100 đội, mỗi đội có lính kỵ và lính bắn đá. Còn những phiên binh thì lập ra thành đội riêng không cho lẫn với nhau. Binh pháp nhà Lý bấy giờ có tiếng là giỏi, nhà Tống đã phải bắt chước.

Lý Thánh Tông qua đời ngày 8-8 năm Nhâm Tý (1072) tại điện Hội Tiên, Thọ 50 tuổi (1023-1072), xá lị chôn ở Thọ lăng Thiên Đức, quê nhà Cổ Pháp. Thần dân thờ Người ở Cổ Pháp điện (tức Đền Đô, còn gọi là đền Lý Bát Đế) cùng với các Tiên vương nhà Lý.

Sử thần Ngô Sĩ Liên đã có lời bàn về Lý Thánh Tông, ghi trong “Đại Việt sử ký toàn thư”, rằng: “Thương xót hình ngục, yêu thương nhân dân, hoặc có kẻ không có tội, nhân đói rét mà đến chết, thì cấp cho chiếu chăn ăn uống để nuôi cho sống; lo rằng quan lại giữ việc hình ngục hoặc có kẻ vì nhà nghèo mà nhận tiền đút lót, thì cấp thêm cho tiền bổng và thức ăn, để nhà được giàu đủ; lo lắng nhân dân thiếu ăn thì xuống Chiếu khuyến nông; lo rằng năm đại hạn đói kém thì ban lệnh khẩn cấp cho người nghèo; trước sau một lòng, đều là thành thực. Huống chi lại tôn sùng đạo học, định rõ phép độ, văn sự bên trong tiến mau chóng; phía Nam bình nước Chiêm; phía Bắc đánh nước Tống, uy vũ bên ngoài hiển hách rõ ràng. Tuy có việc lầm lỗi nhỏ khác, cũng vẫn là bậc vua hiền...”.



Nguyễn Đức Thìn