PDA

View Full Version : Nghệ thuật truyền thống các dân tộc Việt



yenminh0210
24-07-2012, 09:36 AM
Chắp cánh cho ví phường vải

Qua thời gian, cùng với sự mai một của nghề canh cửi, những đêm hát ví phường vải cứ thưa dần rồi vắng bóng. Để khôi phục hát ví phường vải, các nghệ nhân xã Kim Liên, Nam Đàn, Nghệ An đã cất công sưu tầm những câu hát xưa, tái hiện chiếc xa quay sợi truyền thống và vận động con cháu thành lập câu lạc bộ hát ví phường vải Kim Liên.
Lối hát bắt nguồn từ nghề canh cửiHát ví phường vải ở Nghệ An cũng giống như hát ví, hát lượn ở một số vùng khác, hai bên con trai, con gái hát đối nhau. Bên này hỏi, bên kia trả lời. Cái khó của hát ví phường vải là có bao nhiêu câu hỏi thì phải có ngần ấy câu đáp lại, nhất thiết không được nhiều hơn mà phải đủ ý của câu hỏi. Trong hát phường vải, phe nữ luôn là vai chủ, phe nam luôn là vai khách, nhưng luân phiên vừa vào vai cắt giọng hát vừa đóng vai người nghe. Điều đặc biệt, bên nữ là những cô gái lao động, làm nghề dệt vải, còn bên nam thì nghề nghiệp đa dạng, phong phú hơn. Đó có thể là những chàng trai làm nông nghiệp, chài lưới, buôn bán, sĩ tử đang dùi mài kinh sử hay thầy đồ làm nghề gõ đầu trẻ.
<tbody>
http://daibieunhandan.vn/media/12/07/120716195729028/04-chap-canh-19912-450.jpg


Phục dựng hát ví


</tbody>
Nhắc tới lịch sử ra đời của hát ví phường vải, nghệ nhân Trần Văn Tư, 85 tuổi, ở Kim Liên, Nam Đàn, Nghệ An cho biết: theo các cụ truyền lại thì hát ví phường vải bắt nguồn từ nghề trồng bông, nuôi tằm, dệt vải. Vào những đêm hè, trăng thanh gió mát, chị em thường tập hợp thành phường, vừa quay xa kéo sợi vừa góp vui bằng những câu hát có vần... Trai làng dạo chơi bị níu chân bởi những lời ca ngọt ngào, sâu lắng cũng dừng lại hát đối đôi câu. Ví phường vải trở thành những câu hát lứa đôi, diễn ra trong suốt mùa kéo sợi.Hát ví phường vải thường diễn ra qua ba chặng. Chặng thứ nhất là hát dạo, hát chào, hát mừng, hát hỏi. Để mở đầu cho một cuộc hát khi bên nam đến phải đứng hát từ ngoài đường, ngoài ngõ. Sau hát hỏi là hát chào, làm tăng vẻ lịch sự của phường hát và nói lên sự mừng rỡ vì được gặp nhau. Ở chặng một, cả chủ và khách ở giai đoạn thăm dò, lựa lời chào hỏi, tìm hiểu tên tuổi, nghề nghiệp, quê quán, gia đình..., để làm quen. Chặng thứ hai là hát đố, vai chủ thử thách vai khách kiến thức, hiểu biết về sử sách, cuộc sống, xã hội. Vượt qua chặng này, vai khách được mời vào nhà ăn trầu, uống nước, cùng vai chủ hát thâu đêm, suốt sáng và tiến tới quan hệ thân thiết, gần gũi. Cuối cùng là chặng hát xe kết và hát tiễn, trai gái thể hiện tình cảm với nhau. Hai bên lưu luyến, nói về nhưng vẫn muốn ở, nói đi nhưng vẫn chưa đành lòng đi...Bảo tồn và phát triển hát ví phường vải
<tbody>
Hát ví phường vải khác các loại dân ca khác ở chỗ có sự tham gia của các nhà nho, nhà thơ. Trong cuộc đời mình, Phan Bội Châu đã đi hát ví ở nhiều nơi. Sinh thời, say câu hát ví phường vải, nên giờ đây trong khu nhà tưởng niệm ông vẫn trưng bày xa quay, khung cửi... Và trong ký ức của các nghệ nhân nơi đây, giai thoại về cụ Phan Bội Châu đi hát ví ở phường bà Hạnh vẫn được nhắc như một kỷ niệm vui trong thời gian đi chơi phường vải của cụ...

</tbody>
Sự ra đời của các nhà máy dệt khiến công việc quay xa kéo sợi không còn thịnh hành. Các cô gái phường vải trẻ trung, xinh đẹp thuở nào giờ thành những cụ già, tóc pha sương, nhưng họ vẫn giữ nguyên lề lối xưa, những cây chào phường vải, hát mời nước mỗi khi có khách đến chơi nhà. Và đáng quý hơn, họ vẫn tâm huyết với phường vải, mong muốn những câu hát phường vải mãi được giữ gìn, trở thành nét văn hóa ăn vào máu thịt của những người con xứ Nghệ. Để khôi phục hát ví phường vải, nghệ nhân Trần Văn Tư cùng các cụ cao tuổi trong làng Kim Liên đã cất công sưu tầm những câu hát xưa, tái hiện chiếc xa quay sợi truyền thống và vận động con cháu lập ra câu lạc bộ hát phường vải Kim Liên. Câu lạc bộ phường vải Kim Liên đã có gần 30 thành viên tham gia với mọi lứa tuổi. Các nghệ nhân cao tuổi luyện cho lớp trẻ từng câu hát, từng động tác quay xa... Giờ đã ở tuổi 90 nhưng nghệ nhân Hoàng Thị Út, thôn Hoàng Trù vẫn cố gắng truyền dạy những câu hát ví phường vải cho các con, các cháu trong nhà. Ai muốn học tìm đến bà cũng dạy. Niềm vui đến với câu hát, điệu ví phường vải khi tỉnh Nghệ An đã xây dựng đề án Giữ gìn, bảo tồn và phát triển hát ví phường vải, phục dựng khung cảnh những đêm trăng phường vải, vừa kéo sợi, quay tơ, vừa hát giao duyên, đối đáp... Bây giờ vào những đêm trăng sáng hay mỗi khi khách du lịch có nhu cầu nghe hát ví, các nghệ nhân cùng những người hát giỏi trong làng lại tất bật chuẩn bị cho buổi hát. Thế nhưng, hát ví phường vải vẫn chưa có được mảnh đất thực sự màu mỡ để phát triển. Không chỉ vậy, đội ngũ kế cận gìn giữ, phát triển loại hình nghệ thuật dân gian này vẫn mỏng. Nghệ nhân Trần Văn Tư trăn trở: “Lớp trẻ giờ không mấy ham học vì hát ví khó hát và không có nhạc đệm, không sôi động như các loại hình ca nhạc khác”.Vẫn biết việc bảo tồn văn hóa truyền thống luôn gặp nhiều khó khăn, nhưng hy vọng với tâm huyết của các nghệ nhân, sự quan tâm của các ngành chức năng, hát ví phường vải sẽ khẳng định được sức sống mãnh liệt của một di sản trong kho tàng dân ca xứ Nghệ.

Kim Ngoan

yenminh0210
25-07-2012, 09:54 AM
Hát trống quân

http://vov.vn/avatar.aspx?ID=194184&at=0&ts=306&lm=634605747632130000



Trống quân có tính cách đối thoại. Nó là một lối hát đối giữa trai và gái, một lối đối đáp hỏi trả qua lại.
Hát trống quân là loại hình dân ca thi tài đối đáp thông qua những câu hát giao duyên có nội dung trao đổi về nhận biết và kinh nghiệm sống giữa nam, nữ thanh niên trong xã hội nông nghiệp với nền văn minh lúa nước. Hát trống quân là hình thức rất phổ biến ở đồng bằng và trung du bắc bộ, từ Thanh Hoá trở ra. Nhưng hình thức hát giao duyên mang tên trống quân này ở mỗi địa phương lại có làn điệu và lối hát riêng của mình.
Hát trống quân có từ bao giờ?
Nhà nghiên cứu văn hóa dân gian Vũ Ngọc Phan cho rằng: hát trống quân "Tục truyền có từ đời Trần (thế kỷ XIII) vào thời gian nhân dân ta chống quân xâm lược nhà Nguyên. Những lúc nghỉ ngơi, binh sĩ Việt Nam đã nghĩ ra cách giải trí là ngồi thành hai hàng đối diện nhau, gõ vào tang trống mà hát cứ một bên hát xướng vừa dứt thì bên kia lại "hát đáp". Về sau, khi đã đánh đuổi quân xâm lược, điệu hát được phổ biến trong dân gian miền Bắc..."


Xưa, hát trống quân là loại diễn xướng ca hát dân gian phổ biến nhất ở vùng đồng bằng Bắc Bộ.Kết quả điều tra điền dã cho thấy, ở vùng đồng bằng Hà Tây, trước những năm 50, vào mùa thu khá nhiều làng tổ chức các đám hát trống quân; nhưng trở thành truyền thống, có nhiều nghệ nhân hát giỏi, số người tham gia cuộc hát phổ biến cả làng thì mới chỉ thấy ở các làng chạy men theo tả hữu ngạn đoạn cuối dòng Tô, thuộc đất Hà Tây.Nổi bật nhất là làng Quần Hiền (xã Hòa Bình) tên nôm là làng Quèn Dưới - một làng cổ có ngôi đình nằm sát bờ sông thời Lê Lai quên thân cứu chủ tướng Lê Lợi lãnh tụ cuộc khởi nghĩa Lam Sơn. Số nghệ nhân hát giỏi chủ yếu là nữ như các bà: bà Chiến, bà Lấu, bà Mỹ, bà Bô...Sau đó là làng Đỗ Hà (xã Khánh Hà) đối diện với làng Quần Hiền. Hai làng nối nhau bằng một cây cầu tình nghĩa xây gạch bắc quá sông Tô. Số nghệ nhân giỏi như ông Hoàng, bà Nôi, bà Đãi, bà Xuyền, bà Miên...Tiếp nữa là làng Khánh Vân (xã Khánh Hà). Khánh Vân nghĩa là mây lành. Truyền ráng, thuở Lê Lợi cầm đại binh ra vây đánh thành Đông Quan (Hà Nội), đoàn quần có nghỉ chân ở một làng ven sông, vừa hay có đám mây ngũ sắc từ phương trời xa kéo đến che rợp cả đoàn quân. Hôm sau, đoàn quân vào trận giành chiến thắng vẻ vang. Cho là điềm trời trợ giúp, Lê Lợi đã phong tên chữ cho làng là Khánh Vân. Vào cuối thế kỷ: 18 "Mùa thu năm Mậu Ngọ (1798)" (2), Phạm Đinh Hổ tác già cuốn Tùy bút viết trong những ngày mưa (Vũ trung tùy bút) nổi tiếng văn hay mà lại sâu sắc về giá trị phản ánh hiện thực thời đại, từng về làng Khánh Vân dạy học và thả hồn tìm thi hứng theo mây nước dòng Tô...Ngoài ra còn hai làng: Hoàng Xá (xã Khánh Hà), Phụng Công (xã Hòa Bình) tên nôm là Quèn Trên có những nghệ nhân mê hát như các ông Tư Luân, Hai Dụ ở Phụng Công, sáng đi lên Hà Nội làm, tối lại từ Hà Nội về nhà tham gia cuộc hát. Còn bà Mỹ ở Hoàng Xá đi hát giật giải từ năm 17 tuổi.Mỗi làng trên đều có một sắc thái văn hóa riêng nhưng chung nhau soi bóng dòng Tô, cùng ở trong cái nôi một thời nuôi dưỡng và phát triển làn điệu hát trống quân.Thời gian tổ chức hát trống quân ở các làng này chủ yếu vào mùa thu. Cuối tháng 7, công việc đồng áng đã vãn, tiết trời khô ráo, các làng bắt đàn nhóm hát. Cuộc hát thịnh hành suốt tháng 8, tháng 9, sang đến đầu tháng 10 âm lịch lúc lúa đổ đòng mới thôi hát (ngày xưa cấy giống lúa dài ngày phải tháng 10 mới gặt) .Thời điểm hát trừ hát giải vào các ngày hội còn chủ yếu là hát vào các buổi tối mỗi ngày. Bắt đầu lúc trăng đầu tháng nhô khỏi lũy tre làng, trai thanh gái lịch kéo nhau ra cầu kệ ven sông cạnh làng cất tiếng hát. Thường mở đầu:- Một đàn cò trắng bay tungBên nam bên nữ ta cùng hát lên.Bên nam bên nữ ăn lời thì hát trao duyên. Lời vàng tiếng bạc trao qua đổi lại càng về khuya càng mặn mà sâu xa tình nghĩa. Sau năm 1958, các cuộc diễn xướng hát trống quân ở đây bị mai một.Hát trống quân ở vùng này còn ghi lại có ba hình thức chính:Một: Bên nam bên nữ hát với nhau khoảng cách không xa là mấy, nhất thiết phải có một chiếc trống con đặt ngửa mặt buộc vào cọc cách đất, (có nơi dưới đáy trống đào một hố đất để âm thanh vang xa) trên là sợi dây kéo căng ghìm cọc. Mặt trống có nẫy để dây cách mặt hoặc có cọc xiên qua tâm mặt trống. Người hát dùng que đánh vào dây, dây bật vào mặt trống, kết hợp hài hòa với nhịp điệu lời ca trống quân tạo ra âm hưởng tác động vào trái tim người nghe. (Một số nơi ở thời kỳ trước 1945 đã thay thế dây thừng bằng dây thép, trống bịt da bằng thùng sắt tây làm hạn chế cảm xúc trữ tình của âm nhạc trống quân).Đây là lời hát trống quân cổ nhất, nam nữ hát đối nhau qua mặt trống. Hình thức này thường lập ra để hát ở sân đình, sân chùa các làng, nhân ngày hội làng (ở làng Khánh Vân, làng Đỗ Hà). Dân trong vùng quen gọi là hát giải hay hát treo giải. Làng nào mở hội có tổ chức hát thi trống quân thì mời các nghệ nhân hát ở các làng khác đến dự. Cuộc hát thi phần tuân thủ theo qui định truyền thống, hát có bài bản, dứt điểm từng chặng. Từ hát mở cho đến hát ví, hát vận, hát họa, hát đố... Và cuộc hát thường có lời giao ước rằng:Tháng tám anh đi chơi xuânGặp đây có hội trống quân anh vàoAnh vào anh có lời giaoKhông chồng thì vào, có chồng thì raCó con thì tránh đi xaKhông anh chạm phải về nhà chồng ghen.Cứ hát vui vậy thôi, chớ xưa kia bố mẹ dựng vợ gả chồng cho con cái khi tuổi còn rất trẻ, do vậy, hầu hết những người hát trống quân vùng này đều đã có chồng, có vợ cả rồi. Say đắm giọng hát của nhau mà càng quí trọng nhau, đó là cái nghĩa cái tình của người đi hát trống quân.Bên hát thua thường là do không trả lời đúng tinh thần của câu đố đối phương đặt ra, hoặc quá trình hát bị thất vận. Khó nhất là lúc thi giọng, người hát giỏi phải thuộc đủ 36 giọng hát ở vùng châu thổ sông Hồng từ hát chèo, hát ru đến hát quan họ, hò sông nước, v.v... Do vậy, kiến thức của nghệ nhân ở vùng này khá phong phú.Đặc trưng của hát trống quân là chỉ hát có một làn điệu, chủ yếu sử dụng lời hát theo thể lục bát, lục bát biến thể. Cái khó là đòi hỏi người hát phải nhanh trí nối vần. Chữ cuối của người hát trước phải vần với chữ cuối dòng đầu của người hát sau.Cách hát này ngoài việc tổ chức ở sân đình trong các ngày hội làng còn được tổ chức ở nhà riêng. Người hát cùng làng hoặc mời người khác làng tới vui hát.Hai: Hát trống quân không cần đến âm nhạc, nghĩa là bên nam bên nữ ngẫu hứng lập cuộc hát không cần có trống, vì thế lời hát theo làn điệu trống quân bay đi, bay lại không có âm nhạc bổ trợ. Lối hát này được diễn xướng rất phong phú ở nhiều nơi và thường mượn một không gian để trao qua đối lại. Ví như nam nữ hát vọng qua mặt ao, hoặc kéo nhau ra cầu, nam ngồi đầu cầu bên này, nữ ngồi đầu cầu bên kia. Có khi, họ kéo nhau ra một lối ngõ, nam tụ ở đầu ngõ, nữ tụm ở cuối ngõ. Phổ biến hơn cả, trai làng này hát đối với gái làng kia qua mặt sông, thường làng Quần Hiền hát với làng Đỗ Hà, làng Hoàng Xá hát với làng Phụng Công. Lối hát này không diễn ra theo bài bản, không phải hát để ăn thua nên chẳng có trọng tài; mê tiếng hát của nhau, cứ hát đến tận gà gáy te te mới chịu giã bạn. Cái chính là mượn lời hát trống quân để giãi tỏ tâm tình; cho nên, những phần không cần thiết bộc lộ nội tâm thì bỏ qua. Chỗ nào cần tâm sự thì cứ vận nhau kéo dài như chặng hát hỏi thăm, hát đố, hát kết, hát họa. Dân trong vùng gọi lối hát này là hát đúm. Mở đầu thường bằng các câu hát gọi như:- Anh cả, anh hai đó ơi,Đi đâu từ tối đến giờ,Tin nhắn, tin bó, tin chờ, tin mong.Ba: Nét độc đáo nhất chỉ mới thấy ở vùng này là các làng mượn con sông Tô làm môi trường diễn xướng để họ ngồi thuyền bơi dọc theo sông vui hát với nhau. Hệ quả là địa điểm hát di động theo con thuyền trên sông nước. Tuy không có trống đệm, âm nhạc trống quân không vì thế bị bãi bỏ, mà họ mượn ngay mạn thuyền, dùng con gỗ gõ vào đó thay cho âm nhạc trống quân. Đây là lối hát rất gợi cảm hứng, bên nam bên nữ cứ bơi thuyền suốt dòng sông dưới bầu trời sáng trăng từ đầu làng này đến cuối làng kia và quay lại. Lời hát cùng nhạc gõ theo điệu trống quân vang lên trên làn nước xao xuyến bóng trăng, tạo ra cảm hứng thi ca vô bờ.
Nguyễn Hữu Thức

yuri
30-07-2012, 11:57 AM
Câu hát Bru - Vân Kiều bên mái Trường Sơn

Khi núi rừng bừng tỉnh sau mùa đông lạnh giá, khắp các làng bản Bru - Vân Kiều ở Quảng Bình lại tràn ngập âm thanh lúc trầm, lúc bổng, lúc thánh thót của sáo Kalui, sáo Sui, đàn Tíntùng, và điệu Chachấp, Xanớt... vang lên, báo hiệu vào mùa rẫy mới...

Ðêm trăng sáng. Dân bản Khe Cát, xã Trường Sơn (Quảng Ninh, Quảng Bình), già làng Hồ Ai cùng ngồi quanh bếp lửa đang cháy rừng rực. Rượu cần mềm môi, điệu Chachấp, Oát, Xanớt theo men rượu mà say đắm lòng người. Như già Hồ Ai kể lại, gốc gác của người Bru - Vân Kiều ở Quảng Bình vốn là ở vùng núi rừng huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị. Không biết từ bao giờ, qua những đợt di dân, đồng bào cứ bám theo con sông, con suối, qua những triền núi cao mà tiến dần ra phía bắc. Ðến những vùng đất mới trù phú, họ dừng chân, phát rẫy, dựng nhà. Thế rồi dần hình thành nên nhiều bản mới bên mái Trường Sơn phía tây Quảng Bình. Ði qua hai cuộc chiến tranh, sau đó là một thời kỳ khó khăn, gian khổ, tưởng chừng các phong tục hay, những làn điệu dân ca trữ tình của người Bru - Vân Kiều sẽ mai một dần. Nhưng không, một cuộc sống mới đã đến với vùng đất này. Và kỳ diệu thay, khi con ong đi tìm mật, gái trai hẹn hò nhau vào mùa đi Sim, các bản làng Vân Kiều lại tràn ngập những âm thanh Kalui, sáo Pi, sáo Sui, đàn Plựa, đàn Tíntùng... như nhắn nhủ, mời gọi mọi người con của bản làng mau mau trở về đón mùa xuân mới, đón mùa rẫy mới với niềm tin về sự no đủ, như lời khấn đầu năm của già làng: "Các vị thần hãy về với người Bru - Vân Kiều, chứng giám một mùa làm rẫy mới. Hạt lúa đã gieo xuống đất rồi, cầu cho con thú dữ đừng phá rẫy, để hạt lúa nảy mầm. Cầu cho một mùa rẫy bội thu. Người con Vân Kiều hãy lắng nghe lời Sinớt ngân xa kể về cây lúa, cho bản làng ta lúa vàng đầy sân nhà. Người Vân Kiều đã có cái ăn, cái mặc, đã có cuộc sống ấm no, hạnh phúc...".

Già Hồ Văn Thương, nguyên là Trưởng bản Khe Dây, xã Trường Xuân đã có lần giới thiệu với chúng tôi những nhạc cụ truyền thống của đồng bào Bru - Vân Kiều mà hơn nửa thế kỷ qua ông nâng niu, gìn giữ. Ông nói giọng buồn buồn: "Ngày xưa, những nhạc cụ này, con trai, con gái Bru - Vân Kiều ai cũng sử dụng được cả. Mỗi dịp Tết đến, khi bản làng tổ chức lễ hội, đám cưới, đám hỏi... núi rừng Trường Sơn lại rộn ràng tiếng đàn, tiếng sáo và những làn điệu dân ca say đắm lòng người. Bây giờ đời sống khá lên rồi, thanh niên Vân Kiều làm quen với nhiều cái văn hóa khác rồi dần dần như quên đi cái văn hóa tốt đẹp của dân tộc mình. Tao phải cố gắng giữ lấy loại nhạc cụ này và truyền lại cho thế hệ cháu con". Có lẽ vì thế, già Hồ Văn Thương được đồng bào ví như người giữ hồn cho các nhạc cụ và văn hóa dân tộc Bru - Vân Kiều ở Quảng Bình. Già Thương nhấp một hơi rượu rồi đưa cây sáo Sui lên môi. Ngôi nhà sàn tràn ngập âm thanh lúc trầm, lúc bổng. Tiếng sáo Sui như có hồn, nỉ non, gọi mời, níu kéo... Khách một lần nghe tiếng sáo Sui "kể chuyện" đều không muốn rời xa. Rồi ông chuyển sang đánh đàn Tíntùng, tiếng đàn sâu lắng trầm trầm, âm ấm. Cuối cùng là đàn Plựa, tiếng đàn trong trẻo, hiền hòa. Kết thúc màn độc diễn mấy loại nhạc cụ, già Thương lại say sưa cất cao tiếng hát. Khúc hát dân gian ngày xưa ông từng hát bên suối, bên nương khi cùng trai bản vào mùa đi Sim. Con trai, con gái Bru - Vân Kiều đến với nhau qua điệu Tào ải: "Ðôi ta lớn lên bên nhau, ngày ngày lên rẫy làm nương, bây giờ đã bén duyên nhau, hẹn đến mùa trăng sáng ta về chung một nhà". Trai gái bén duyên, già làng gật đầu, ngày lành tháng tốt được chọn để tổ chức lễ cưới. Nhà trai đem lễ vật sang nhà gái, tối hôm đó người nhà trai ở lại nhà gái cùng ăn uống, nhảy múa tàn đêm, chờ đến ngày mai đưa dâu về. Và giai điệu bài hát Mừng đám cưới được cất lên: "Một mùa lúa nữa lại về, hôm nay ta hát mừng buôn làng ta có ngày vui. Hạnh phúc của đôi vợ chồng mới. Mong sao đôi vợ chồng trẻ có nhà, có rẫy, có nhiều con nhiều cháu. Buôn làng ơi hãy hát lên cho niềm vui đầy, hãy múa lên cho đám cưới vui".
Ngày nay, người Bru - Vân Kiều ở Quảng Bình vẫn còn lưu giữ kho tàng dân ca, nghệ thuật âm nhạc dân gian đặc sắc và phong phú. Nguyên Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Quảng Bình Lê Hùng Phi - người từng có nhiều năm nghiên cứu văn hóa dân gian trên địa bàn tỉnh, cho rằng: "Dân ca và âm nhạc dân gian giữ một vai trò hết sức quan trọng trong đời sống văn hóa tinh thần của con người, đặc biệt là đời sống của đồng bào các dân tộc thiểu số như Bru - Vân Kiều. Dân ca, nghệ thuật âm nhạc dân gian thường gắn với các sinh hoạt tín ngưỡng, lễ hội và các phương thức sản xuất của đồng bào. Nội dung của dân ca và âm nhạc dân gian đồng bào Bru - Vân Kiều thường phản ánh những suy tư, triết lý của dân tộc mình về tự nhiên, xã hội và cuộc sống, thể hiện tư tưởng, tâm hồn, tình cảm, lý tưởng thẩm mỹ và tính cách dân tộc bằng âm thanh, nhịp điệu, giai điệu, ca từ. Cái riêng trong nghệ thuật dân ca, âm nhạc dân gian của dân tộc Bru - Vân Kiều đã góp vào bức tranh chung đa dạng về văn hóa của các dân tộc ở Quảng Bình.
Ðể bảo tồn bản sắc nét văn hóa nghệ thuật đặc sắc này, vừa qua tỉnh Quảng Bình đã tổ chức hai lớp truyền dạy âm nhạc truyền thống cho đồng bào Bru - Vân Kiều ở hai xã Trường Xuân, Trường Sơn. Tại các lớp này, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã lựa chọn các nghệ nhân là người lớn tuổi, có uy tín trong cộng đồng, đam mê dân ca, âm nhạc truyền thống. Học viên là những người trẻ, nhiệt tình tham gia phong trào văn hóa, văn nghệ tại địa phương. Sau lớp truyền dạy, họ thật sự là hạt nhân quan trọng trong việc thúc đẩy phong trào xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở. Ngoài việc truyền dạy của các nghệ nhân cho thế hệ trẻ, Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch tỉnh còn cử cán bộ có chuyên môn về âm nhạc bám sát lớp để hướng dẫn bà con kỹ năng biểu diễn. Qua các buổi học tập, học viên đã biết sử dụng thành thạo một số loại nhạc cụ tiêu biểu như sáo, biết hát một số bài hát, các làn điệu dân ca, múa truyền thống của dân tộc mình như hát múa mừng đám cưới, hát Sim, hát múa cầu mùa...
Giờ đây tại các bản làng của đồng bào Bru - Vân Kiều ở Quảng Bình, nhiều đội văn nghệ đã được thành lập. Ðây là dịp để tập hợp, bảo tồn, phát triển các giá trị văn hóa nghệ thuật truyền thống của dân tộc và phục vụ nhân dân. Ðiển hình là đội văn nghệ tuyên truyền xây dựng nông thôn mới ở bản Khe Ngang, xã Trường Xuân. Chị Hồ Thị Huệ, hạt nhân của đội, cho biết: "Ngoài các giai điệu, lời hát, lời ru của dân tộc Bru - Vân Kiều, các già làng còn sáng tác những câu hát mới ca ngợi đất nước và bản làng, nhất là từ khi xuống núi định canh, định cư, có cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Như lời bài hát Tình bạn với lời ca rằng: "Tình đoàn kết keo sơn gắn bó giữa hai dân tộc Kinh - Vân Kiều chung tay kiến thiết bản làng, anh em một nhà đoàn kết giúp nhau vươn lên. Từ đó, đồng bào Vân Kiều có ánh điện tỏa sáng, trẻ con Vân Kiều học được cái chữ và có những con đường khang trang đi vào tận các thôn, bản, trong đó có bản Khe Ngang...". Trưởng bản Khe Ngang Hồ Nam thì kể: "Ðược gợi ý, chỉ dạy, tuyên truyền qua lời ca, tiếng hát của đội văn nghệ, bà con trong bản càng chăm lo làm ăn, vươn lên thoát nghèo, tích cực tham gia xây dựng nông thôn mới. Từ khi có đội văn nghệ, đồng bào Bru - Vân Kiều bản Khe Ngang đã tạo được nếp sống văn hóa mới, thế hệ trẻ ý thức hơn trong lối sống".
Bản Khe Ngang nay đã có điện - đường - trường - trạm, trở thành điểm sáng trong việc xây dựng nông thôn mới, nơi núi rừng miền tây Quảng Bình. Niềm vui ấm no, niềm vui hạnh phúc đã và đang đến với mọi người trên vùng đất chon von trên mái Trường Sơn. Ðó cũng chính là lý do để khi đến với đồng bào Bru - Vân Kiều ở phía tây Quảng Bình giữa những ngày đầu xuân, chúng tôi đã được đắm mình trong từng lời ca, tiếng hát, tiếng sáo, cung đàn.
Câu hát Bru - Vân Kiều mãi vang xa, mãi ngân nga, neo giữ chân người xuống núi.

(Theo LangViet)

yuri
30-07-2012, 11:59 AM
Hát Xẩm- một loại hình âm nhạc dân gian đặc sắc

Trong mạch nguồn âm nhạc dân gian, có một dòng chảy từ bao đời nay đã gắn bó với con người Việt Nam, đặc biệt là với cuộc sống dân dã, thị thành và kẻ chợ… đó là là hát Xẩm. Thể loại âm nhạc này trước đây được lưu truyền chủ yếu ở các tỉnh phía Bắc như: Bắc Giang, Hà Nội, Hà Đông, Hải Phòng, Thanh Hóa…với những hình thức biểu diễn rất độc đáo, mang đậm bản sắc văn hóa khu vực.

Theo các nghệ nhân, hát Xẩm được hình thành khoảng thế kỷ thứ 14. Từ khi ra đời đến khoảng nửa đầu thế kỷ 20, hát Xẩm được gọi với những tên khác nhau như hát rong, hát dạo…
Theo truyền thuyết, đời nhà Trần, vua cha có hai hoàng tử là Trần Quốc Toán và Trần Quốc Đĩnh. Do tranh giành quyền lực nên Trần Quốc Đĩnh bị Trần Quốc Toán hãm hại, chọc mù mắt rồi đem bỏ giữa rừng sâu. Tỉnh dậy, hai mắt mù loà nên Trần Quốc Đĩnh chỉ biết than khóc rồi thiếp đi. Trong mơ, bụt hiện ra dạy cho ông cách làm một cây đàn với dây đàn làm bằng dây rừng và gẩy bằng que nứa. Tỉnh dậy, ông mò mẫm làm cây đàn và thật lạ kỳ, cây đàn vang lên những âm thanh rất hay khiến chim muông sà xuống nghe và mang hoa quả đến cho ông ăn. Sau đó, những người đi rừng nghe tiếng đàn đã tìm thấy và đưa ông về. Trần Quốc Đĩnh dạy đàn cho những người nghèo, người khiếm thị. Tiếng đồn về những khúc nhạc của ông lan đến tận hoàng cung, vua vời ông vào hát và nhận ra con mình. Trở lại đời sống cung đình nhưng Trần Quốc Đĩnh vẫn tiếp tục mang tiếng đàn, lời ca dạy cho người dân để họ có nghề kiếm sống. Hát xẩm đã ra đời từ đó và Trần Quốc Đĩnh được suy tôn là ông tổ nghề hát xẩm nói riêng cũng như hát xướng dân gian Việt Nam nói chung.



<tbody>

http://quehuongonline.vn/Uploads/LibraryImages/hat-xam2.jpg


những nghệ nhân hát dạo



</tbody>


Cho đến ngày nay nhiều người vẫn hiểu xẩm là lối hát của người khiếm thị, ăn xin. Đúng ra là người khiếm thị đã dùng xẩm làm phương tiện kiếm sống. Vì thế, hát xẩm thực sự là một loại hình âm nhạc chuyên nghiệp.Trước đây xẩm gắn với hoạt động của nhân dân ta trong những vụ nông nhàn. Sau vụ mùa bội thu, những gánh hát xẩm thường được mời về hát tại tư gia những gia đình giàu có quyền quý. Sau đó do biến động của xã hội, nhiều người bỏ quê lên thành thị kiếm sống. Những gia đình xẩm cũng không nằm ngoài quy luật đó. Họ tập trung nhau lại ở những nơi đông người như bến xe, ga tàu, chợ...tạo thành gánh xẩm, nhóm xẩm.

Nghệ thuật hát xẩm xưa và nay

Đầu thế kỷ 20 xẩm đã phát triển thành một nghề để những người dân nghèo kiếm sống nơi thành thị và được truyền dạy từ thế hệ này sang thế hệ khác. Xẩm thành thị ra đời, hối hả hơn, bóng bẩy hơn để phù hợp với cuộc sống nơi đây. Bên cạnh các loại xẩm chính tông như Xẩm chợ, Xẩm xoan, Xẩm thập ân.. nghệ nhân xẩm đã kết hợp, du nhập thêm các loại hình khác như Sa mạc, Trống quân, Cò lả...Việc kết hợp như vậy vừa làm phong phú hơn mượt mà hơn cho các câu hát xẩm, vừa phổ biến các loại hình khác rộng rãi trong dân gian.
Theo thời gian, xẩm đã dần phát triển và định hình thành một nghệ thuật âm nhạc độc đáo với hệ thống làn điệu riêng. Bởi thế, tên những điệu hát này thường hay kèm theo chữ “xẩm”, như những làn điệu xẩm xoan, xẩm chợ… với tính chất lạc quan, khỏe khoắn, tươi vui, yêu đời.

<tbody>

http://quehuongonline.vn/Uploads/LibraryImages/xam2.jpg


Một buổi biểu diễn hát xẩm của các nghệ sĩ Trung tâm phát triển
nghệ thuật âm nhạc Việt Nam tại Hà Nội



</tbody>


Trong hệ thống làn điệu của Xẩm, có những làn điệu hấp dẫn, đặc sắc đến mức các bộ môn nghệ thuật khác như Chèo, Quan họ và thậm chí Ca trù đều phải “vay mượn”, như các điệu xẩm huê tình, xẩm chợ, xẩm xoan... Bài xẩm huê tình khi được các đào nương, kép đàn ca trù du nhập vào trong hình thức ca quán, thường gọi là điệu xẩm cô đầu (hay xẩm nhà trò). Nói vậy để thấy các nghệ sĩ giáo phường ca trù rất tôn trọng nghệ thuật xẩm, họ vẫn giữ chữ “Xẩm” ở làn điệu này nhằm chỉ rõ gốc gác của làn điệu. Nhìn chung, dung lượng lời ca các bài xẩm thường khá dài, đủ để chuyển tải nhiều nội dung khác nhau, mang đậm phong cách hát kể chuyện. Không tìm thấy những bài ca ngắn gọn ở đây. Điều này có thể hiểu được, bởi trong môi trường diễn xướng hỗn tạp đông người nơi đầu chợ, bến đò, góc phố.., sự “dài hơi” của những bài ca là điều tối cần thiết. Người ta sẽ không thể cảm nhận kịp những bài ca ngắn (kiểu cấu trúc ca khúc). Thế nên các nghệ sĩ xẩm luôn phải sáng tạo thật nhiều lời ca dài khác nhau để câu khách. Ngay đến câu ngâm sa mạc - một làn điệu mà chỉ cần một cặp lục bát là đủ một đơn vị tối thiểu, xẩm đã dùng để ngâm cả một chuyện thơ dài, như bài Anh khóa chẳng hạn, đến vài chục câu thơ lục bát. Tính kể chuyện - câu khách dường như là một sự thích ứng hoàn hảo trong bộ môn nghệ thuật này.
Làn điệu “trường thiên”, nổi tiếng nhất của Xẩm có lẽ là điệu xẩm thập ân. Nội dung kể về công ơn cha mẹ sinh thành dưỡng dục, từ lúc phôi thai, mang nặng đẻ đau, nuôi con khôn lớn cho đến lúc trưởng thành như thế nào... Với tính chất da diết, xoáy sâu vào lòng người, xẩm thập ân được xem như làn điệu đặc trưng nhất của nghệ thuật Xẩm. Nó được coi như một trường ca giáo hiếu hoàn hảo. Nếu hát liền mạch đủ từ một ân đến mười ân, dễ phải đến nửa giờ đồng hồ. Trong những làn điệu man mác buồn, day dứt, còn phải kể đến điệu hà liễu - chuyên dùng cho những bài thơ tự sự, giãi bày nỗi niềm, thân phận của người phụ nữ trong xã hội xưa…
Bên cạnh những làn điệu riêng, trên đường phiêu diêu lang bạt kỳ hồ, xẩm còn du nhập nhiều làn điệu dân ca khác, bên cạnh những làn điệu vay mượn ở những thể loại bạn như hát ví, trống quân, sa mạc, hành vân, lưu thủy... Điều đặc biệt, những làn điệu đó đều được “xẩm hóa” cho đúng với phong cách dân dã, giang hồ của các nghệ sĩ. Như điệu hát trống quân chẳng hạn, vốn là một điệu hát đối đáp trai gái trữ tình, xẩm đã chuyên dùng làn điệu này để chuyển tải những nội dung châm biếm, đả kích những thói hư tật xấu trong xã hội, như bài Dâu lười hay Rể lười... Cũng có khi là cả một bài thơ cập nhật những sự kiện nóng hổi mang tính thời sự.
Về nhạc cụ, điều đáng nói trước nhất là cây đàn bầu. Theo truyền thuyết, nó được coi là nhạc cụ đặc trưng của xẩm lúc ban đầu (thế nên người ta còn gọi nó là đàn xẩm). Một nhóm xẩm thuộc loại “vai vế” trong vùng không thể thiếu được nhạc cụ này. Song, phần vì âm lượng hạn chế, phần vì khó học, khó chơi hơn đàn nhị nên không phải nhóm xẩm nào cũng sử dụng đàn bầu. Theo thời gian, về cơ bản, một nhóm xẩm thường phải có đàn nhị, sênh, phách và cặp trống mảnh (trống da một mặt). Tùy vào điều kiện nhân lực, họ cũng có thể chơi đủ cả đàn bầu hay đôi khi thêm vào chiếc trống cơm hoặc sáo. Nhưng với hoàn cảnh lang thang kiếm sống nay đây mai đó, nhiều khi chỉ cần một đàn nhị và cỗ phách đơn hay cặp sênh là đủ tiếng tơ đồng phụ họa. Khi trình diễn, bao giờ cũng có một người hát chính, những người còn lại chơi nhạc cụ đệm hoặc hát đỡ giọng khi cần.
Xẩm thuộc loại bộ môn mà khi biểu diễn nghệ nhân luôn phải vừa hát, vừa diễn tấu nhạc cụ cùng lúc. Ở đây, có lẽ tính chất o ép miếng cơm manh áo đã khiến người nghệ sĩ buộc phải rèn luyện tối đa để thích ứng với sự “tinh giảm biên chế”, nhưng vẫn đảm bảo sự phong phú về nghệ thuật. Vừa đàn vừa hát được xem như một tiêu chuẩn “có hạng” của một bác xẩm thực thụ.
Xẩm hoạt động theo từng gia đình đơn lẻ. Trong những dịp hội làng, họ cũng thường hay kết nhóm để tăng cường khả năng phối hợp nghệ thuật giữa chốn đông người. Trong từng vùng, các nhóm xẩm lại kết thành phường hội với sự sắp đặt trên dưới rất có tổ chức. Trùm phường có nhiệm vụ bảo ban, điều hành các nhóm làm ăn sao cho có nền nếp, trật tự. Bên cạnh đó, họ cũng rất có ý thức trong việc tổ chức truyền nghề cho đám con em. “Lá lành đùm lá rách, lá rách ít đùm lá rách nhiều” là cái nết ăn, nết ở không thể thiếu để các nghệ sĩ có thể dựa dẫm, đùm bọc lẫn nhau trên mọi nẻo đường sinh nhai.
Từ một môi trường diễn xướng là hát rong, đã phát sinh ra một loại hình nghệ thuật chuyên biệt quả là một hiện tượng đặc biệt trong văn hóa nghệ thuật Việt Nam. Ở đây, cần hiểu rõ tư cách của người hát xẩm. Họ là những nghệ sĩ chân chính, làm đẹp cho đời và kiếm sống bằng chính tài năng nghệ thuật của mình. Xẩm hoàn toàn không phải là những người ăn mày. Họ sống bằng những đồng tiền thù lao tự nguyện của mọi người chứ không bao giờ ngửa tay van xin bố thí.
Nhìn trên diện rộng, xẩm cũng giống như tất cả mọi nghệ sĩ chuyên nghiệp, chỉ khác ở chỗ, sân khấu của họ chính là đường phố, là gốc đa, bến nước, sân đình... hoặc đơn giản chỉ là một góc chợ quê nghèo. Thù lao không tính trước kiểu “bán vé” mà “tự do thả nổi”, ai muốn trả bao nhiêu thì… tùy!
Như vậy, đã có một thời, xẩm là món ăn tinh thần của quần chúng lao động. Với bản chất nghệ thuật ngẫu hứng ứng diễn, hát xẩm có nội dung nghệ thuật rất phong phú và đa dạng. Nó đề cập đến nhiều vấn đề ở mọi khía cạnh, trong mọi tình huống của cuộc sống, từ công cha nghĩa mẹ, tình yêu, tình vợ chồng, tình huynh đệ cho đến những tình cảm riêng tư của mỗi con người, hay những vấn đề mang tính thời sự cập nhật, đả kích và phê phán những thói hư tật xấu của xã hội đương thời. Không chỉ phục vụ cho đám đông ngoài xã hội, người nghệ sĩ xẩm còn sẵn sàng phục vụ theo yêu cầu, nhiều thì trong dịp cưới xin, ma chay, giỗ kỵ.., ít thì đơn giản chỉ là “nhờ bác xẩm đánh tiếng dùm” với cô nàng thôn nữ đang đứng bên đàng... Thế thôi!
Từ thập niên 60 trở lại đây, vì nhiều nguyên nhân khác nhau do điều kiện môi trường và xã hội, đặc biệt là do những quan niệm sai lầm, các phường xẩm dần tan rã và không hoạt động nữa. Họ được quy tụ lại trong những hợp tác xã vót tăm tre, hay bện… chổi rơm. Các nghệ nhân xẩm tài danh bước dần vào tuổi xế chiều, rồi lần lượt ra đi, vĩnh viễn đem theo những giá trị nghệ thuật đặc sắc mà họ đã từng lưu giữ và thực hành. Đời sống xã hội của nghệ sĩ xẩm không còn nữa.
Trong các trường đào tạo nghệ thuật âm nhạc của ta, nhạc cổ truyền dân tộc vốn chỉ được giảng dạy với một dung lượng hạn chế, theo kiểu “mỗi thứ một tí”, trong số đó tuyệt nhiên không có nghệ thuật xẩm.
Gần đây, khi xu hướng hội nhập quốc tế mạnh mẽ thì nhu cầu lưu giữ những giá trị truyền thống, mang bản sắc dân tộc được đặt ra như một việc làm cấp thiết. Nhiều nghệ nhân Hà Nội với lòng say mê âm nhạc truyền thống đã tập hợp nhau lại tự tổ chức những buổi biểu diễn, giới thiệu hát xẩm trước cửa chợ Đồng xuân vào mỗi tối Chủ nhật. Việc làm này đã duy trì được một nét đẹp trong nền văn hóa Hà Nội hiện nay. Đây là một tín hiệu vui chứng tỏ loại hình nghệ thuật dân gian này đang dần đi vào công chúng của đất Hà Thành, trở thành loại hình âm nhạc đường phố Hà Nội.

Những loại hình văn hóa dân gian như hát xẩm không chỉ đơn thuần mang ý nghĩa về mặt văn hóa, mà lớn lao hơn, chính là sự thể hiện rõ nét của đời sống, là biểu hiện của tư tưởng, tâm hồn ông cha ta.


Vân Hà (Tổng hợp)

yuri
01-08-2012, 11:36 AM
Lượn then của người Tày Cao Bằng

Lượn là một thể loại dân ca của Cao Bằng rất phong phú, đa dạng, bao gồm: lượn Then, lượn Cọi, lượn Slương, lượn Nàng ới, lượn Ngạn. Vào những năm 60 của thế kỷ XX trở về trước, đến những vùng quê non nước Cao Bằng, đâu cũng gặp câu sli, câu lượn, đâu cũng gọi Nàng ới. Người ta hát dân ca quanh năm, nhất là vào mùa xuân và những khi nông nhàn.


<tbody>

http://baocaobang.vn/Uploaded/toanhq/2012_03_09/default_copy.jpeg


</tbody>


Lượn Then là loại hình dân ca của dân tộc Tày phổ biến nhất ở các huyện miền Đông: Trùng Khánh, Hạ Lang, Quảng Uyên, Phục Hòa, lan rộng đến một số bản làng phía nam Hòa An và đông Thạch An. Nam thanh, nữ tú Tày dùng lượn Then để vui chơi, giải trí, giao duyên tỏ tình vào những dịp hội hè, lễ tết, chợ phiên hoặc khi có khách phương xa đến nghỉ tại bản mình. Những buổi lượn hát đối đáp giữa bên chủ và bên khách thường kéo dài thâu đêm suốt sáng. Mới đầu là những câu dặng hắng tỏ vẻ xã giao dạm hỏi, đặt vấn đề của tốp thanh niên làng bản qua gia chủ đến khách một cách ý nhị, rằng: “Gẳm nẩy khủa bắp nớ” (Hôm nay rang ngô nhé), có nghĩa là thông báo tới bên khách sẽ có cuộc lượn đấy. Trong nhà, ông già, bà cả, mọi người đều hoan hỷ, cời bếp than hồng, đun nước pha trà ngon, tạo điều kiện “vun vào”, khích lệ hai bên chuẩn bị tinh thần sảng khoái để lượn hát đêm nay. Các cụ còn giúp cho hai bên nam, nữ hát sao cho hay, nhất là những câu ứng tác đối đáp giao duyên kịp thời, cứu cho “bàn thua” trông thấy. Điều ấy khiến các bậc ông bà như trẻ lại, hồi nhớ một thời xuân sắc ngày xưa đến nao lòng và là dịp để truyền vốn dân ca lượn Then một cách tự nhiên, đầy sức quyến rũ, thuyết phục cho con cháu mình. Lượn Then có cấu trúc thành hai thể loại: lượn và hát xen kẽ, hòa quyện nhau thật là sinh động. Về lượn, chủ yếu là lời Tày ý nhị, ví von, sâu sắc, đầy tính nhân văn, theo thể thơ thất ngôn trường thiên. Có một số câu bằng tiếng Kinh khi vào phần lượn kể về tích chuyện cổ. Về hát, phổ biến lại là tiếng Kinh theo thể thơ lục bát, thơ đường, trong ứng tác có thể thêm câu, thêm chữ nhưng vẫn đảm bảo vần điệu. Lượn Then là loại hình dân ca khi được nam nữ thanh niên sử dụng trong các cuộc vui giao duyên có cấu tứ chặt chẽ, hệ thống mạch lạc từ lúc mở đầu đến kết thúc. Thông thường, một cuộc lượn diễn ra theo trình tự, nấc bước như sau: Lượn nai, hát nai (nai là mời: lượn mời, hát mời). Đây là phần mở đầu cho cuộc lượn. Bên chủ (nam hoặc nữ) lên tiếng trước. Nội dung chính là nói lên sự vui mừng cảm kích trước sự có mặt của khách, nhưng tự trách mình có khiếm khuyết đón tiếp chưa chu đáo, ân cần hỏi thăm nơi ăn, chốn ở của khách. Sau đó là lời mời thành tâm đến khách lượn hát đêm nay. Thường thì khách khiêm tốn, làm thinh. Trước sự vồn vã hồn nhiên, nồng hậu của chủ, khách chưa lượn đáp ngay, mà đánh tiếng rằng: cảm ơn thịnh tình của bạn, nhưng tiếc là chúng tôi kém cỏi, không biết lượn, hát; xin khất lần sau. Thời gian lại tiếp tục trôi đi, trong sự đợi chờ của gia chủ và bà con cô bác trong làng. Bên chủ vẫn nỉ non nài nỉ mời bạn lên giọng, cùng với sự khích lệ của gia chủ và mọi người. Cuối cùng, khách lượn đáp lại, thế là cuộc lượn chính thức mở màn cho cuộc đối đáp giao duyên. Cũng có lúc, bên chủ mời đến “ngẫu cả ruột”, “hết tầm”, mà khách vẫn không lên tiếng vì lý do nào đó thì cuộc lượn không thành. Thường thì bên khách không đáp lại sẽ bị chủ chê trách thiếu thịnh tình và dùng đến “lượn đa” (đa là trách, mắng). Nhìn chung, những lời ca thán, phàn nàn bên chủ đều thể hiện nét văn hóa. Lượn Chối và hát chối. Tuy bên khách đã đáp lại, nhưng vẫn là nội dung chối từ với nhiều lý do, nào là trình độ lượn hát còn kém anh, kém chị, giọng hát không hay, đường sá xa xôi mỏi mệt, khó mà đáp ứng mong đợi của bạn… Lúc này, phía chủ lượn “Xồm hêng” (ca ngợi giọng của bạn hay) và hát cảm tạ tỏ ý vui mừng bên khách đã vào cuộc, mong đừng hát chối nữa. Kế theo là lượn hát đối và đáp do bên chủ chủ động dẫn dắt. Lượn Khuyên kết và hát kết. Đây là phần nội dung chủ yếu của lượn hát giao duyên, tỏ tình. Đến đây, khách nhập cuộc thật sự, biểu thị sự giãi bày từ lúc ra đi đường xa dặm trường, đến đây được chủ chào mời, đối đáp ân cần tiếp chuyện, ca ngợi tình người bao dung nghĩa hiệp… Rồi hai bên cởi mở tâm tình, hỏi thăm về gia đình, anh em bè bạn, muốn được gặp nhau kết duyên đôi lứa, nguyện thương yêu nhau, thủy chung son sắt, chia sẻ ngọt bùi, xây dựng hạnh phúc lứa đôi… Đôi bên dùng những áng thơ hay, ý nhị, sâu lắng, hàm chứa hình ảnh phong phú sinh động chứa chan tình yêu, cuộc sống. Đoạn lượn sau nói lời nhắn nhủ đợi chờ, chớ bội ước lời nguyền của nhau: “… Lừa noọng pây nặm slâư bấu túng Tá lừa phi sle búng nặm vằm Lừa noọng pây thâng gằn đoạn da Tá lừa phi cháng há thở thàng”.
(Tạm dịch: Thuyền em đi nước trong veo không cản. Bỏ thuyền anh ở vũng nước ngầu. Thuyền em đi đến bến bờ rồi. Bỏ thuyền anh giữa dòng dang dở). Lượn Pây sách là lối lượn mà đôi bên đi theo bài, theo sách, các tích truyện cổ trong truyền thuyết dã sử, lịch sử, lượn tứ qúy hồng nhan… Lúc này, bên nữ được quyền ưu tiên chọn lựa đề tài, cốt truyện, đồng thời đưa ra những vế lượn đố; bên nam đáp lại, cứ thế kéo dài rất lâu. Đòi hỏi các chàng trai, cô gái phải học thuộc lòng và nhớ các tích truyện. Nếu bên nam không đáp lại được coi như bị thua. Sau lượn Pây sách là lượn Xồm (xồm là ngắm nhìn, thưởng ngoạn). Đó là các bài lượn ngợi ca về cảnh đẹp quê hương làng bản, mừng đồng ruộng tốt tươi, núi sông kỳ vĩ, thành hoàng làng, nhà cửa, cầu thang, vườn tược; gia súc, gia cầm đông đàn béo tốt… Phần này, khách lượn mừng điều gì thì chủ phải đối đáp lại với bằng cả tấm lòng của mình về điều đó. Lượn, hát Slăng (slăng là dặn dò, tạm biệt). Đây là phần lượn, hát chia tay, giã bạn để rồi kết thúc cuộc lượn tình nghĩa lâm li kéo dài. Lượn chia tay có thể vào khoảng 2 - 3 giờ sáng. Khi ấy, đôi bên quyến luyến không muốn rời xa, say sưa bày tỏ sự thương yêu, hẹn ước, mong muốn sẽ còn gặp lại nhau để được lượn hát giao duyên và hướng tới hạnh phúc lứa đôi.
Với cấu trúc chặt chẽ cả hình thức và nội dung như vậy nên lượn Then đã đáp ứng được ước nguyện tỏ tình, giao duyên của các nam thanh, nữ tú. Ai đã có dịp được đắm mình trong cuộc lượn Then, sẽ khó mà quên được lời lượn, hát tinh tế, ví von sâu xa giàu hình ảnh, cảm xúc cùng giai điệu mượt mà, da diết say đắm lòng người.
Lê Chí Thanh

yuri
07-08-2012, 12:06 PM
Rô băm – Loại hình nghệ thuật độc đáo của người Khmer

Rô băm là loại hình nghệ thuật kịch múa cung đình khá độc đáo của người Khmer Nam bộ. Nó được ví như thể loại hát tuồng của người Kinh. Tinh túy và độc đáo như thế, nhưng số lượng công chúng có trình độ thưởng thức không nhiều và loại hình nghệ thuật này đang có nguy cơ bị mai một dần…



<tbody>
http://quehuongonline.vn/Uploads/LibraryImages/bs_-Ro-bam-%281%29.jpg

Biểu diễn nghệ thuật Rô băm trên sân khấu

</tbody>


Đôi nét về Rô băm
Theo ông Đào Chuông, Trưởng đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Kiên Giang, thì: “Rô băm còn gọi “Rom Rô băm” là loại kịch múa cổ điển sân khấu cung đình của người Khmer xưa đã đạt đến một trình độ nghệ thuật rực rỡ. Có thể liên tưởng Rô băm của người Khmer với nghệ thuật hát Tuồng của người Kinh. Rô băm chuyên về diễn tả những “chuyện xưa tích cũ”.
Người nghệ sĩ biểu diễn Rô băm với những động tác của đôi bàn tay trong tư thế phối hợp nhịp nhàng, uyển chuyển, uốn cong toàn thân. Để đạt được trình độ như thế, người nghệ sĩ phải trải qua nhiều năm khổ luyện, phải chịu khó luyện tập từ nhỏ và phải hết sức kiên nhẫn. Trong các vở diễn có hàng trăm động tác múa cổ điển đòi hỏi sự phối hợp nhịp nhàng của cổ, vai, tay, chân... của người nghệ sĩ.
Sau khi đã thành thục các điệu múa, diễn viên mới học thuộc lời thoại và lời hát. Một diễn viên muốn diễn tốt một vai phải mất cả năm trời luyện tập. Rô băm ngoài múa còn dùng lời nói, lời hát để giải thích tình tiết, sự kiện, hành động của vai diễn. Nội dung thường là tích cổ như vở “Riêm kê” trích từ anh hùng ca Ấn Độ Ramayana. Nhân vật trở thành mẫu người lý tưởng của người Khmer như: nàng Sêđa xinh đẹp thủy chung, hoàng tử Rama tài giỏi nhưng gặp nhiều gian truân, khỉ thần Hanuman có pháp thuật cao cường…
Anh Lâm Vinh, diễn viên Đoàn Nghệ thuật Khmer Sóc Trăng, cho biết thêm: Trong một vở diễn Rô băm thường có 2 tuyến nhân vật. Vua, hoàng tử, công chúa không mang mặt nạ. Những nhân vật mang mặt nạ gồm nhiều loại, nhưng nổi bật nhất là vai chằn - đại diện cho phái ác. Ngoài ra, trong vở diễn Rô băm cũng xuất hiện vai hề để gây cười, làm vui nhộn sân khấu. Nhạc cụ của Rô băm chủ yếu là trống vỗ, trống dùi, chiêng và kèn Slayrom khi cất lên làm say đắm lòng người. Trống có tác dụng thúc giục mạnh mẽ những màn chiến đấu. Kèn thì được cất lên khi khóc than thật ai oán...


<tbody>
http://quehuongonline.vn/Uploads/LibraryImages/bs_-Ro-bam-%283%29.jpg

Những mặt nạ và mũ được sử dụng trong nghệ thuật Rô băm

</tbody>


Theo lời các nghệ nhân, Rô băm xưa kia biểu diễn ngay trên nền đất được trải rơm. Ánh sáng được đốt bằng dầu mù u. Ngày nay, sân khấu được dàn dựng công phu với đạo cụ khá hiện đại. Màn chỉ được kéo lên một lần trong suốt vở diễn. Khi chuyển cảnh, ông bầu giới thiệu qua cảnh tiếp cho mọi người dễ dàng theo dõi.Rô băm phát triển rực rỡ nhất vào thập niên 60 của thế kỷ XX. Hàng năm, các đoàn nghệ thuật Rô băm thường đi lưu diễn ở các chùa. Đoàn đi đến đâu cũng được đồng bào Khmer tiếp đón nồng hậu. Các diễn viên hết lòng đem tài năng nghệ thuật ra phục vụ công chúng. Nhiều đêm diễn trăng sáng, mưa trái mùa lâm râm nhưng bà con vẫn nhiệt tình, chăm chú, say mê xem đoàn diễn hết đêm này đến đêm khác.

Nguy cơ mai một
Mặc dù rất tâm huyết với nghề, nhưng ông Đào Chuông thừa nhận: Đã nhiều năm nay, Đoàn Nghệ thuật Khmer Kiên Giang không còn dàn dựng những vở diễn hoặc trích đoạn Rô băm nào. Lý do là kinh phí khó khăn và dàn dựng đòi hỏi rất công phu. Hiện đoàn chỉ tập trung cho ca-múa-nhạc. Lớp nghệ nhân điêu luyện, am hiểu Rô băm ngày càng hiếm vắng. Lớp trẻ ngày nay lại ít mặn mà với Rô băm bởi việc truyền dạy và ý thức kế thừa chưa được quan tâm đúng mức.
Đem nỗi trăn trở này đến các chùa của người Khmer, một vị đại đức trụ trì chùa Rạch Rìa, xã Định Hòa, huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang, cho biết: Từ lâu, chùa đã không còn tổ chức Rô băm trong các dịp lễ, bởi nghệ nhân già thì thưa thớt dần, còn lớp trẻ biết Rô băm thì hầu như không có.


<tbody>
http://quehuongonline.vn/Uploads/LibraryImages/bs_-Ro-bam-%282%29.jpg

Chị Lâm Thị Hương hướng dẫn thế hệ trẻ đến với Rô băm

</tbody>


Chị Lâm Thị Hương, Đoàn nghệ thuật Rô băm Bưng Chông tại Sóc Trăng, chia sẻ: Đoàn có 20-25 diễn viên, trong đó dòng họ của gia đình tôi đã 15 người, còn 5 người nữa là người của các địa phương khác. Chúng tôi mang tiếng là một đoàn nghệ thuật nhưng thực ra chỉ là của một dòng họ, tập hợp anh em yêu thích nghệ thuật để cùng nhau luyện tập, biểu diễn phục vụ bà con. Tất cả mọi chi phí cho luyện tập, biểu diễn đều do gia đình tự lo. Hiện nay, hoạt động của Đoàn rất khó khăn, thiếu thốn đủ thứ vì không được đầu tư.Đến nay, múa Rô băm vẫn chưa có trường đào tạo nên phần lớn là tự đào tạo tại lò nhà. Vì thế, chỉ có ai thực sự yêu nghề, dám hy sinh cho nghề mới theo nổi. Những năm gần đây, hoạt động của đoàn nghệ thuật chỉ ở mức rất cầm chừng. Tại các tỉnh Đồng bằng Sông Cửu Long, chỉ còn vài đoàn nghệ thuật của Trà Vinh, Sóc Trăng và Kiên Giang là còn có khả năng dàn dựng loại hình kịch múa này.
Xã hội hiện đại kéo theo các loại hình nghệ thuật phát triển rầm rộ. Những đêm diễn Rô băm trong sân chùa, trên những cánh đồng sau thu hoạch hay trong các lễ hội truyền thống của người Khmer Nam bộ, đã dần thưa khán giả và đi vào quên lãng. Nghệ thuật sân khấu Rô băm đang đứng trước nguy cơ dần bị mai một.


<tbody>
http://quehuongonline.vn/Uploads/LibraryImages/bs_-Ro-bam-%284%29.jpg

</tbody>


Rô băm là bộ môn nghệ thuật thuộc di sản văn hóa của đồng bào Khmer. Tuy nhiên, không phải ai cũng đủ trình độ để thưởng thức, do tính sử thi ẩn chứa trong loại hình nghệ thuật này. Tính triết lý khắt khe, nhân văn cổ điển trong từng vở diễn Rô băm luôn được đề cao. Do đó, nó đòi hỏi người xem phải có kiến thức và am tường bộ môn nghệ thuật này. Muốn Rô băm không bị thất truyền, thì cần có sự quan tâm hỗ trợ từ nhiều phía. Ngành chủ quản phải trực tiếp chỉ đạo và thực hiện việc sưu tầm, đào tạo lớp diễn viên trẻ hát hay, múa dẻo, làm sao bảo tồn và phổ biến cho bằng được môn nghệ thuật quí giá này. Đặc biệt, ở các phum sóc nếu có điều kiện nên khuyến khích thành lập các đội Rô băm quần chúng để giao lưu rộng rãi.Qua 200 năm hình thành và phát triển, “giờ đây” Rô băm rất cần được bảo tồn và phổ biến, góp phần gìn giữ và phát huy những giá trị văn hóa, nghệ thuật truyền thống độc đáo của người Khmer Nam Bộ.
Diệp Hương(tổng hợp)

yenminh0210
08-08-2012, 10:19 AM
Giữ hồn những điệu xòe cổ


Ai đã từng đến Tây Bắc, đặc biệt là Mường Lò, Yên Bái, đều không khỏi trầm trồ thán phục trước những điệu xòe như “có lửa”, dân dã mà không kém phần hiện đại. Mường Lò nổi tiếng với sáu điệu xòe cổ, được các nghệ nhân coi là gốc, là khởi nguồn của các điệu xòe khác.






<tbody style="margin: 0px; padding: 0px; border: 0px; font-size: 12px; font: inherit; vertical-align: baseline; text-align: left; ">
http://www.bienphong.com.vn/upload/2012/7/11/9088b.gif




Nghệ nhân Lò Văn Biến truyền dạy sáu điệu xòe cổ.
Ảnh: CTV


</tbody>
Mường Lò là cái nôi của người Thái Đen Tây Bắc, là điểm dừng chân đầu tiên của người Thái đen khi di cư vào Việt Nam, rồi mới phát triển lên khắp vùng Tây Bắc. Bởi vậy, nói sáu điệu xòe cổ là cái nôi sản sinh ra các điệu xòe thì không chỉ dựa trên các suy luận lịch sử mà cái chính là sáu điệu xòe này thể hiện đầy đủ nhất các thế chân, thế tay và các hình cơ bản của nghệ thuật dân vũ Thái.
Người có công sưu tầm, truyền dạy sáu điệu xòe cổ là ông Lò Văn Biến ở bản Cang Nà, phường Trung Tâm, thị xã Nghĩa Lộ. Ông nguyên là giáo viên tiểu học, được đào tạo ở Khu học xá Tây Bắc, thông thạo chữ Thái cổ và văn hóa Thái.
Năm 1995, khi tái lập thị xã Nghĩa Lộ, ông Biến được ngành Văn hóa tín nhiệm mời sưu tầm, khôi phục các điệu xòe Thái. Đúng sở nguyện, ông không quản nắng mưa, lặn lội tìm đến các nghệ nhân từng nổi danh trong đội xòe từ thời Pháp thuộc như bà Lò Thị Pành, SN 1918, ở bản Cang Nà, từng là đội trưởng đội xòe. Rồi bà Hoàng Thị Sương ở bản Pắc Kết, bà Lò Thị Mầng ở bản Tông Co. Các bà vui lắm, nói với ông Biến:
- “Mí cốc chắng mí pai, mí sai chắng mí chứa” (nghĩa là có gốc mới có ngọn, có dây mới có cành). Không học các điệu xòe cổ thì không xòe đúng và đẹp các điệu xòe khác đâu. Ngày trước, các bà, các mẹ cũng dạy chúng tôi sáu điệu xòe cổ đấy.
Điều thú vị là sáu điệu xòe cổ mang các hình thế cơ bản, nhưng không gò bó cứng nhắc, mà ẩn chứa nội sinh và sự biến hóa vô cùng tinh tế.
Điệu xòe vòng (xé vóng): Đây là điệu xòe cổ nhất, bởi sự đơn giản trong bước vũ. Quanh đống lửa, mọi người không phân biệt độ tuổi và giới tính, nắm tay nhau tiến lùi theo nhịp trống 2/4. Khi tiến, tay vung ngang tầm vai, khi lùi tay buông thẳng, nhẹ nhàng dịch chuyển theo chiều kim đồng hồ. Xòe vòng không cần luyện tập, không giới hạn số người tham gia và có thể xếp thành nhiều vòng tròn đồng tâm.
Điệu xòe thể hiện sự gắn kết bền vững của cộng đồng, chuyên chở khát vọng một cuộc sống ấm no, hạnh phúc trong sự vận động không ngừng của đất trời, vạn vật.
Từ điệu xòe vòng, dần dần phát triển thành các điệu xòe cổ khác ẩn chứa những ý nghĩa nhân sinh lớn lao:
Điệu vòng tròn vỗ tay (ỏm lọm tốp mứ):
Các vũ công bước theo vòng tròn từ trái qua phải rồi ngược lại, nhảy co từng chân và đồng thời vỗ tay theo nhịp trống, tạo nên không khí vui tươi, rộn rã, thể hiện niềm vui của cộng đồng sau mùa vụ bội thu, săn bắt thú rừng, mừng nhà mới, đám cưới, hội xuân.
Điệu bổ bốn (phá xí): Người tham gia xếp thành hai hàng từ hai bên, quay mặt vào nhau, tay trong tay, tiến vào tạo thành vòng tròn. Từ vòng tròn trung tâm tỏa ra thành bốn vòng tròn nhỏ xung quanh như bông hoa ban năm cánh. Các vòng tròn nhỏ lúc biến thể thành các hình vuông, lúc tạo thành các hình thoi hoặc hình bình hành, các vũ công vừa biến đổi tạo hình, vừa nhún bước theo nhịp trống, tay đan chạm vào nhau trong bước tiến.
Điệu xòe diễn tả tình đoàn kết gắn bó keo sơn. Cuộc sống dẫu muôn vàn khó khăn gian khổ, lúc thắng lợi, lúc chưa thành, thậm chí anh em ly tán, nhưng tình người không bao giờ thay đổi. Lòng người luôn hướng về cội, tin vào sức mình, vươn lên chiến đấu và chiến thắng.
Điệu xòe còn mang bóng dáng quan niệm về vũ trụ, triết lý âm dương ngũ hành một cách tinh tế và sâu sắc.
Điệu tiến lùi (đổn hôn): Các vũ công từ hai bên tiến ra xen kẽ nhau tạo thành vòng tròn, tiến lên rồi lùi lại so le chéo nhau dịch chuyển theo chiều kim đồng hồ, hai tay xòe ngang thắt lưng. Điệu xòe thể hiện tình gắn kết keo sơn, dẫu hoàn cảnh và cuộc sống như thế nào, vẫn còn mãi tình người cao đẹp.
Điệu nâng khăn mời rượu (khắm khăn mơi lảu):
Hai hàng thiếu nữ, khăn piêu vắt trên hai cánh tay, mỗi tay nhẹ nâng chén rượu thơm tiến vào dịu dàng nhún chân mời rồi lướt sang hai bên, thể hiện tấm lòng chân tình, hiếu khách của người Thái Tây Bắc.
Điệu tung khăn (nhôm khăn): Vòng xòe tiến lùi theo nhịp trống, dịch chuyển theo chiều kim đồng hồ, hai tay các vũ công cầm hai đầu khăn piêu tung lên theo nhịp chân. Vòng xòe như bông hoa bừng nở, lóng lánh sắc màu diễn tả niềm vui trong sáng khi có niềm vui, hạnh phúc. Khăn thổ cẩm rực rỡ như muôn sắc màu của cuộc sống, thành quả lao động sáng tạo của con người.
Từ các điệu xòe cổ ấy, dần dần các nghệ nhân sáng tạo nên nhiều điệu xoè khác mô phỏng cuộc sống muôn màu. Ngắm các điệu xòe Thái Tây Bắc mà như thấy được cuộc sống chiến đấu, lao động, tư tưởng, tình cảm cùng những quan niệm về vũ trụ, đất trời, lửa nước, những ý nghĩa nhân sinh cao đẹp ẩn chứa trong từng bước vũ.
Điều thú vị là khi xòe, các nữ vũ công bao giờ cũng dùng khăn piêu làm đạo cụ, khi vắt trên vai, khi nâng trên tay, khi tung lên như ánh cầu vồng làm tăng độ duyên dáng và truyền cảm của các điệu xòe.
Tùy từng vùng, nhạc cụ làm nền có khác nhau. Nếu như ở Quỳnh Nhai (Sơn La), các điệu xòe uyển chuyển trong tiếng đàn tính, thì ở Mường Lò (Yên Bái), các điệu xòe sôi nổi, bay bướm, trong nhịp trống, chiêng, khèn, pí...
Cái chung nhất là xòe không thể thiếu trong đời sống văn hóa của người Thái Tây Bắc: “Không xòe không tốt lúa, không xoè thóc cạn bồ, không xoè trai gái không thành đôi” (Dân ca Thái). Có thể nói, xòe góp phần nuôi dưỡng và chắp cánh tâm hồn những người Thái Tây Bắc. Qua mỗi bước xòe con người gần gũi chan hoà với nhau hơn, tin yêu vào cuộc sống, thêm yêu quê hương đất nước.
Để xòe Thái Tây Bắc mãi mãi giữ được bản sắc dân tộc, đòi hỏi sự nỗ lực của nhiều lực lượng, mà trước hết là ngành Văn hóa. Có như vậy, các điệu xoè Thái mới tồn tại mãi với thời gian, nồng say, mời gọi tìm tòi, khám phá một vùng đất, một vùng người.


Trần Vân Hạc

gau meo
08-08-2012, 02:14 PM
Âm nhạc dân gian trong nghi lễ của người M’nông

Trong các lễ hội của đồng bào M’nông thì các loại hình âm nhạc dân gian được sử dụng một cách phổ biến, rộng rãi và được chia làm hai nhóm: nhóm âm nhạc nghi lễ sẽ tham gia trực tiếp vào tiến trình của nghi lễ và nhóm âm nhạc dùng trong phần hội (chỉ được sử dụng khi nghi lễ kết thúc nhằm tạo không khí vui vẻ cho lễ hội).


<tbody>
http://quehuongonline.vn/Uploads/LibraryImages/am-nhac-mnong.jpg

</tbody>


Điều dễ nhận thấy nhất là nhạc cụ của người M’nông tuy đơn giản, thô sơ, được chế tạo từ những nguyên liệu có trong tự nhiên như tre nứa, lồ ô, gỗ…nhưng không kém phần phong phú về chủng loại. Việc sử dụng các nhạc cụ của đồng bào M’nông luôn gắn liền với nhiều sự kiện của đời sống xã hội. Phong phú, đa dạng và chiếm một tỉ lệ khá cao là các nhạc cụ thuộc bộ gõ, chúng bao gồm từ những nhạc cụ có cấu tạo, cấu trúc âm thanh đơn giản cho đến những loại có cấu tạo phức tạp. Trong các lễ hội cổ truyền của đồng bào M’nông thì không thể vắng mặt dàn cồng chiêng. Do cồng chiêng là nhạc cụ thiêng, là “linh hồn” của dân tộc nên chỉ được sử dụng trong lễ hội lớn của cộng đồng như lễ mừng lúa mới, lễ sum họp cộng đồng, lễ kết nghĩa bon buôn...Ở đây, tiếng chiêng là lời hiệu triệu, là “linh hồn” làm nên buổi lễ, là phương tiện giúp con người giao tiếp, thỉnh cầu thần linh chứng giám lòng thành và ban cho mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt, bội thu…Thậm chí, tại các nghi lễ liên quan đến voi hay nghi lễ thuộc vòng sinh trưởng của cây thì cũng có sự xuất hiện của dàn chiêng. Mặt khác, xuất phát từ quan niệm “vạn vật hữu linh” nên đồng bào M’nông cho rằng mỗi nhạc cụ đều có một vị thần trú ngụ, nên phải được sử dụng trong một không gian, ngữ cảnh nhất định. Trong các lễ hội, nghi lễ, ngoài cồng chiêng còn có sự tham gia của các loại nhạc cụ truyền thống của dân tộc như M’boắt, Drơn, Mló, Goong rêng…Chính những nhạc cụ này làm nên không khí vui nhộn cho lễ hội. Riêng nhạc cụ Đing gơr chỉ được sử dụng trong tang lễ. Có lẽ do âm hưởng của cuộc sống luôn gần gũi với môi trường thiên nhiên như tiếng cành cây, tiếng chim hót, tiếng của thân tre, nứa đập vào nhau, tiếng nước chảy róc rách…nên các nhạc cụ đã hình thành nên một hệ thống âm thanh tương ứng. Âm thanh của các loại nhạc cụ cũng phản ánh khá rõ những quan niệm của đồng bào đối với thần linh, với gia đình, dòng họ, cộng đồng, không chỉ là cơn gió mát xoa dịu những nhọc nhằn, lo toan của cuộc sống mà còn làm an lòng cộng đồng, bon làng.
Bên cạnh các loại nhạc cụ thì các hình thức nghệ thuật ca hát cũng thường xuất hiện trong các nghi lễ, lễ hội của người M’nông. Hình thức ca hát gắn bó với các lễ nghi là khấn thần (rac brah) và nó mang yếu tố hát kể, hát khóc như khóc trâu…Điều đáng nói nữa là cùng với những loại nhạc cụ, làn điệu dân ca thì ở bất kỳ một lễ hội nào của đồng bào M’nông cũng đều có sự hiện diện của những điệu múa xoang truyền thống. Có thể nói, sự góp mặt của âm nhạc làm cho không gian của lễ hội như huyền bí, linh thiêng hơn và chính âm nhạc là “phần hồn” tạo nên sự hoàn thiện cho toàn bộ nội dung của các nghi lễ. Bởi vậy, các lễ hội cổ truyền của đồng bào M’nông không chỉ mang giá trị tinh thần to lớn mà còn mang ý nghĩa nhân sinh sâu sắc.

(Theo Daknong Online)

yuri
14-08-2012, 02:59 PM
Mấy nét về dân ca dân tộc Thổ

Trong “Danh mục các thành phần dân tộc Việt Nam”, do tổng cục thống kê công bố ngày 2/3/1979, thì dân tộc/người “Thổ” mới thấy xuất hiện trong danh mục 54 dân tộc của nước ta; đó là tên gọi chính thức của một cộng đồng tộc người ở miền Tây xứ Nghệ, bao gồm các nhóm: Kẹo, Họ, Mọn, Cuối, Tày Poọng (con kha, Xá lá vàng) và Đan Lai - Ly Hà. Đây là một trong những kết quả của việc điều tra, nghiên cứu dân tộc học ở các thập niên 60s, 70s thế kỷ trước.

Dân tộc Thổ có nhiều nét văn hóa rất phong phú và độc đáo, trong đó có dân ca.

Dân ca Thổ được hình thành bởi những đặc điểm về nguồn gốc, chủ yếu là mặt ngôn ngữ. Loại hình dân ca này luôn mang yếu tố phức hợp, có tính đặc thù, ít thấy phổ quát: Đó là loại hình dân ca vừa mang yếu tố cội nguồn tự thân, vừa mang yếu tố giao lưu (rất gần với dân ca dân tộc Mường ở vùng Hòa Bình), nhưng lại rất đặc trưng và hàm súc.
Nếu các nhà Folklore học sẽ rất hài lòng khi đến với đồng bào dân tộc Thái, được nghe họ hát các làn điệu “nhuôn”, “xuối”, “khắp” (hắp), “òn”… một cách tự nhiên, không cầu kỳ về mặt tổ chức, con người và địa điểm để cất lên tiếng hát, thì đối với đồng bào người Thổ ngày nay, dân ca đã gần như quá khứ. Muốn nghe họ hát, ta phải khơi lên, phải yêu cầu các làn điệu cụ thể, hoặc phải tổ chức luyện tập trước, đi vào những chương trình cụ thể và tìm kiếm cả những con người cụ thể (thường chỉ là những người có tuổi, người già là chính), may ra mới thành công được. Trai gái dân tộc Thổ ngày nay rất ít người biết hát, hoặc quan tâm tới những làn điệu dân ca của chính dân tộc mình, mặc dầu dân ca Thổ cũng rất phong phú, giầu nhạc điệu, đậm chất trữ tình giao duyên.
Những làn điệu dân ca Thổ bước đầu mà chúng tôi sưu tầm, cũng chưa nằm ngoài những làn điệu mà nhiều nhà nghiên cứu đã sưu tầm và nghiên cứu từ trước. Gần chục năm lại nay, việc sưu tầm văn hoá Thổ, nhất là về dân ca, dân nhạc, dân vũ, đã có nhiều khởi sắc, và đã có những con em của chính người Thổ làm việc này. Các làn điệu dân ca Thổ đang dần dần được sử dụng trở lại, phát triển, nâng cao lên một bước cả về giai điệu và lời ca để phục vụ đời sống văn hoá mới, nhằm mục đích xây dựng và bảo tồn bản sắc văn hoá dân tộc ở địa phương mình. Đó là một tín hiệu thật đáng mừng.
Sau đây là một số làn điệu dân ca quen thuộc, hầu như khắp các làng người Thổ ở miền Tây Nghệ An, ít nhiều ai cũng biết đến, đang được từng bước khôi phục, phát triển và lưu giữ lâu dài:



http://vanhoanghean.com.vn/media/images/Hat dan ca Tho.jpg (http://vanhoanghean.com.vn/media/images/Hat dan ca Tho.jpg)


1: Đu đu điềng điềng:
Điệu hát này chỉ dành cho phụ nữ hát riêng lẻ trong gia đình, không mang tính tập thể và cũng không hát ở chỗ đông người. Thường là các bà, các mẹ, các chị, các em gái hát để ru cháu, ru con hoặc ru cho em bé ngủ, theo thang âm “đô-rê-fa-sol-la”. Điệu “đu đu điềng điềng” gần giống với những bài hát ru em bé ngủ của người Thái, nhưng khi hát, giọng điệu luyến láy ít hơn, độ ngân nga ngắn hơn và có pha thêm các làn điệu khác rất tự nhiên. Có thể nói “đu đu, điềng điềng” là thể dân ca ở giữa ca dao và đồng dao. Tuy nhiên, nếu chú ý nghe một cách kín đáo, không lộ diện và lộ ý định sưu tầm hoặc tìm hiểu, ta sẽ thấy người hát “đu đu điềng điềng” có rất nhiều sáng tạo từ chất giọng cho đến sự pha tạp trong cách vận dụng thêm các làn điệu dân ca khác vào làn điệu “đu đu điềng điềng” để hát.

2: Tập tình tập tang:
Điệu hát này chủ yếu dành cho các nam nữ thanh niên là chính. Họ thường hát một mình trên nương rãy (giống như “xuối” của người Thái) để cho khuây khoả; hoặc hát cho vui cửa vui nhà vào những dịp nhàn rỗi được nghỉ ngơi ở nhà, những ngày trời mưa, giá rét, không đi làm việc được. Lúc đồng bào hát điệu “tập tình tập tang” một mình ở nhà thì nghe gần giống như điệu “òn” của người Thái (Tày Thanh). Thang âm làn điệu dân ca này chủ yếu cũng là “đồ-rê-fa-sol-la”. “Tập tình tập tang” còn được sử dụng như một làn điệu ru em bé ngủ. Đây là cách sáng tạo của người hát, tuỳ vào từng hoàn cảnh cụ thể. Ví dụ như bài “ru ún” (ru em) có những câu(Nguyên văn tiếng Thổ):
Tập tình tập tang
ún téo tang cho chí bang khiêng
ún tập biệng cho chí ngâm bưa
ún tày tưa cho chí cáy khợm
ún ăn mớm cho chí ăn choi…
(Tạm dịch):
Tập tình tập tang
Em trèo cầu thang cho chị mang giỏ
Em lót lá cho chị ngâm bột
Em ngủ trưa cho chị dậy sớm
Em ăn mớm cho chị ăn nhai…
Với làn điệu ru em này, ta hiểu là đã có sự sáng tạo, không phải chỉ riêng cách nói lái độc đáo (Em ngủ trưa cho chị dậy sớm/ Em ăn mớm cho chị ăn nhai…), mà từ một điệu hát chỉ để khuây khoả nỗi buồn, chuyển sang mục đích là ru cho em bé ngủ. Người hát lúc này đã có một người nghe trực tiếp (đó là em bé), nhưng vì đối tượng nghe quá bé, cho nên người hát phải sáng tạo cách nói sao cho vừa khiến em bé ngủ, lại vừa nói được nỗi lòng, tâm sự của chính mình trong công việc phải làm ở nhà một mình với em bé, như: Mang giỏ, lót lá ngâm bột, dậy sớm, nhai mớm cơm cho em bé ăn… vv… và… vv, toàn là những công việc vụn vặt mà thường xuyên. Lời hát ru em đã thể hiện được cốt lõi của “tập tình tập tang” là tự động viên mình để cho công việc ở nhà với em bé không bị tẻ nhạt, buồn chán. Làn điệu này có vài nơi nói khác nhau, có nơi nói là “tập tĩnh tập tang”, có nơi lại nói “chập chĩnh chập chang”… nhưng khi họ hát lên thì đều giống nhau.

3: Dạ ời:
Là một làn điệu dân ca rất đặc trưng của dân tộc Thổ. Khác với hai làn điệu đã kể trên, “dạ ời” được sử dụng để hát giao duyên, có tính chất như “hát ghẹo”, hát đối đáp của người Kinh ở miền xuôi, với nhiều người cùng hát và chia phe để hát. “Dạ ời” được hát vào những dịp như: Đêm trăng sáng, trai gái trong làng tụ tập để gặp gỡ, giao duyên, hát đối cho vui; hát trong các dịp lễ hội, đám cưới, mừng nhà mới (ở những trường hợp này thường có kèn, chiêng trống phụ hoạ, đệm theo rất vui); hát trong các dịp đi chợ phiên, hoặc khi có trai gái từ nơi khác đến làng nghỉ trọ lại qua đêm… nghĩa là chỉ hát vào những dịp vui vẻ, chủ yếu là trai gái, nhưng các ông, các bà, các anh chị lớn tuổi cũng nhiều khi tham gia hát “dạ ời” để góp vui, và thường thì họ hát chủ đạo, bởi họ có nhiều kinh nghiệm hơn và có khi người nhiều tuổi lại có chất giọng hay hơn. Hát “dạ ời” (có nơi gọi là “dạo ời”, nhưng cách hát thì như nhau) là cách hát sử dụng giai điệu mượt mà, thướt tha, luyến láy bằng chính giọng hát được “tôi luyện” qua nhiều năm, hay là tự “thiên phú” của từng người cụ thể, tạo nên nét lôi cuốn, sự chú ý và sự đồng cảm, mến phục, dẫn tới có cảm tình rồi yêu nhau thực sự! Cách hát dạ ời có thể tóm tắt như sau: Trai gái thường chia đôi hai bên nam - nữ để hát. Người có chất giọng hay nhất thường được “bên chủ” phân công hát trước. Câu hát luôn theo thể thơ lục bát, ở dạng chào hỏi. Ví dụ: Mở đầu hát “dạ ời” chào hỏi khi có khách xa là con gái hoặc con trai đến làng:
Bên chủ hát:
Chào eng, chào chí tàng xa
Viềng thăm làng ún, thiết tha vô cùng
Bên chủ hát xong thì bên khách hát đối lại:
Chào eng, chào chí làng nhà
Có lời chào hỏi, xật là cảm ơn...
Cứ thế, cuộc hát phát triển lên mãi, từ chào hỏi đến các đích khác của đôi bên trai - gái. Hát “dạ ời” ít nhất mỗi bên cũng phải có từ ba, bốn người trở lên. Cuộc hát đối diễn ra theo trình tự tự do, người này hát, người kia không đối lại được thì người khác phải đối thay vì danh dự của “phe” mình, dứt khoát không chịu thua… bởi thế mà cuộc hát “dạ ời” có khi kéo dài suốt đêm. Những cuộc hát đối suốt đêm như vậy, nếu chỉ diễn ra ở một nơi, và chỉ có trai gái trong làng với nhau, thường liên quan đến tục “ngủ mái”. Tục “ngủ mái”, theo ông Trương Đình Thưởng - trưởng phòng văn hoá huyện Q.H (là người dân tộc Thổ) là cách gọi một cuộc hát “dạ ời” thâu đêm của trai chưa vợ, gái chưa chồng, quây quần trên một ngôi nhà sàn rộng, có sự chuẩn bị chu đáo, có mục đích rõ ràng. Ngày nay rất khó tổ chức lại được nữa.
Ngày trước, trong các làng người Thổ, hát “dạ ời - ngủ mái” giống như một nhu cầu tự nhiên của trai gái, không thể thiếu được! Sự sáng tạo trong cách hát “dạ ời” chủ yếu là sự sáng tạo lời ca, giọng ca, nhất là sự luyến láy để đưa nội dung chủ yếu của lời ca vào giữa trái tim của “đối tác” tham gia hát.
Ngày nay, để khôi phục cách hát “dạ ời” truyền thống của dân tộc Thổ là việc làm rất khó khăn và khá tốn kém. Nhưng khó mà làm được mới là cố gắng, nếu không “dạ ời” sẽ mất đi vĩnh viễn.

4: Ta ta tún:
Thực chất của “ta ta tún” là điệu hát dành cho mẹ nựng con, bà nựng cháu, chị nựng em bé. “Ta ta tún” thường dựa vào những lời ca dí dỏm, ngộ nghĩnh để tạo nên những phút vui đùa với em bé trước khi nó ngủ. Nhạc điệu của “ta ta tún” đơn giản, không có giới hạn về thời gian, bài hát ngắn hay dài là tuỳ thuộc vào em bé: Em bé chưa ngủ, hát tiếp; em bé ngủ rồi thì dừng lại. Người hát “ta ta tún” thường phải chú ý đến nhịp điệu, theo kiểu hát nói, dựa vào lời ca bốn chữ có vần (thường là chữ thứ tư của câu đầu vần với chữ thứ hai của câu tiếp theo… cứ thế, tiếp nối mãi), nhấn giọng, vào nhịp mạnh (tuỳ theo tính cách của mỗi người hát), kết hợp làm một số động tác cần thiết để em bé thích thú mà cười vui trước khi ngủ.Ví dụ, một bài “ta ta tún” tương đối phổ biến trong cộng đồng người Thổ (Nguyên văn tiếng Thổ):
Ta tun ta tún…
Con ún pe pông
Con rông pe pải
Con mái lợp nhà
Ké khà tô cơm
Con đẹt chưm chơm…
Trong sáu câu thơ trên, trừ năm câu đầu có vần theo trình tự: Tún - ún; pông - rông; pải - mái; nhà – khà, ra… đến câu thứ sáu thì từ “chơm” đã không còn ở vị trí vần theo trình tự nữa, mà được đẩy lên ở vị trí thứ tư: Cơm - chơm. Đó là cách tạo cao trào, buộc em bé phải cười trước khi ngủ (vì đa số trẻ em trước khi buồn ngủ thường hay quấy khóc).
Về cách hát, thường là chân đưa nôi, hoặc vỗ vỗ hai bàn tay vào nhau theo nhịp hát nhấn giọng khi cao, khi thấp, thường có chữ “là” đệm vào gữa câu hát ,ví dụ: “Con đẹt (là) chưm chơm…”(trẻ em (thì) lấy củi), chữ “là” chỉ đóng vai trò là đệm theo, hay như một dấu cách tạo nhấn, làm cho em bé chú ý người đang hát mà thôi, không phải kết cấu chính thức trong câu thơ, và cũng không phải bất cứ người hát “ta ta tún” nào cũng đệm thêm chữ “là” (thì) trong khi hát.
Có thể nói “ta ta tún” (có thang âm: Rê-fa-sol-la-đô), là điệu hát rất đặc trưng của đồng bào dân tộc Thổ, chúng ta vẫn còn được nghe các em bé hát nựng em mình trước khi đưa nôi bằng chính làn điệu như đã nói ở trên.

5: Đồng dao:
Cũng giống như các dân tộc khác, nhất là người Thái và người Kinh sống gần gũi bên cạnh, đồng bào Thổ đã sáng tạo nhiều bài đồng dao rất hay, rất đặc sắc. Phương pháp sáng tác cũng dựa trên nguyên tắc: Vui nhộn, dễ hát, dễ nghe, đơn giản, có tính “nhảy cóc”, rất phù hợp với tâm lý của trẻ con. (Đồng là đứa trẻ con. Dao là bài hát dân gian. Đồng dao có nghĩa là bài hát dân gian của trẻ con). Ví dụ, một bài đồng dao rất phổ biến ở người Thổ các huyện Nghĩa Đàn, Tân Kỳ, Quỳ Hợp (Nguyên văn tiếng Thổ):
Khai khai rế
Cô kế đối lêng
Thành phủ tá lêng
Đối lêng cho chắng
Nấp cửa nha vắng
Cho mế bố vang…
Cách đó cách giang
Mụ cái ti ngược
Ông tược theo khâu
Rù rì nhập nhau
Nhập nhau… nhập nhau… rế!
Trong bài “khai khai rế” nguyên văn tiếng Thổ trên đây, ta thấy rõ tính đồng dao rất đặc trưng của người Thổ, nghĩa là cũng thể đồng dao, nhưng sự biến đổi lại luôn ở câu cuối cùng. Những bài đồng dao như trên, thường chỉ trẻ em nam hát, có tính chất nghịch ngợm, triêu đùa. Chúng hát khi đi chăn trâu ngoài nương, ngoài bãi ven khe suối, hoặc chơi trăng sáng ở giữa làng. Chúng hát để trêu ghẹo nhau, có khi dăm sáu đứa cùng hát, cuối cùng chúng reo to lên đồng loạt, cùng chụm đầu vào hay chạy toá ra mỗi người một nơi rồi cười như nắc nẻ. Tiếng reo cuối cùng ấy đã thêm ra một chữ “rế” trong bài đồng dao ngỡ như vô lý như ta thấy ở ví dụ trên.
Đồng dao cho ta thấy tính hiếu động, đầu óc khoáng đạt và hài hước của một tộc người có nguồn gốc đa dạng về mặt văn hoá...

Ngoài các làn điệu cơ bản như đã nêu ở trên, đồng bào Thổ còn có nhiều điệu hát biểu hiện một tâm hồn người Thổ giầu cảm xúc, và mang một sắc thái tình cảm riêng biệt mà chỉ dân tộc Thổ mới có, mới cảm nhận hết cái hay, cái đẹp của các làn điệu dân ca do chính họ sáng tạo nên từ trong cuộc sống, lao động, đấu tranh để sinh tồn và phát triển. Cần phải có thời gian và sự gắn bó mật thiết với đồng bào hơn nữa, mới mong tiếp tục nghiên cứu sâu hơn về lĩnh vực này.
Ngày xưa, người Thổ cũng ở nhà sàn là chủ yếu. Mọi cuộc hát đối giao duyên đều diễn ra ở trên nhà sàn. Nhà sàn nay không còn bóng dáng trong các làng của người Thổ nữa, vì vậy, việc khôi phục các làn điệu dân ca Thổ phải theo hướng nào để đồng bào tự giác sinh hoạt và tự giác hát hò như xưa, chứ không phải chỉ dựa vào vài ba tiết mục cải biên, hoặc chạy theo phong trào thi đua cho gọi là có “bản sắc văn hoá”, rồi thôi?

Tục ngữ người Thổ có câu: “Của được là đất; của mất là vàng”. Chưa dám nói người Thổ sắp mất, hay đã mất đi cái gì trong lĩnh vực dân ca, nhưng chắc chắn cái mất đó sẽ là “vàng” thực sự!

Thái Tâm

yenminh0210
17-08-2012, 09:57 AM
<tbody>
Hát Bội, loại hình nghệ thuật cần gìn giữ



<tbody>
http://kinhtenongthon.com.vn/Uploaded/thanduong/Nam%202012/Thang%205/Ngay%2003/tr8ta.JPG


Nghệ sỹ Ba Hưng - Thanh Thủy trên sân khấu.

</tbody>

Hát Bội, một hình thức bình dân của hát Tuồng cung đình đã gắn bó với đời sống văn hóa người dân Nam Bộ trong suốt lịch sử hình thành vùng đất này. Tuy nhiên, những nghệ sỹ hát Bội thực thụ ngày nay hầu như không thể sống bằng tài năng và sức sáng tạo của mình. Sau ánh đèn sân khấu, những mảng đời sáng tối hiện ra, vật vã cùng cuộc mưu sinh đầy gian khó…
Đâu rồi thời vàng son?
Nếu phải chọn một loại hình nghệ thuật đặc sắc gắn liền với văn hóa, tín ngưỡng của người dân Nam Bộ, đó chỉ có thể là hát Bội. Từ các bậc vua chúa, quân thần cho tới những nông dân, kẻ chợ, ai cũng đam mê, thích thú những vở diễn kèm theo hát, nói và tiếng trống chầu thân thuộc.
Được khai sáng và phát triển bởi Đào Duy Từ, một nhân sỹ tài danh thời chúa Nguyễn, đến nay, hát Bội đã sản sinh ra những nghệ sỹ tài năng như Đào Tấn, Trần Hữu Trang… với những vở diễn nổi tiếng như Nguyệt Cô hóa cáo, Phụng Nghi Đình, Kỷ Lan Anh, Ôn Đình chém ta, Quan Công Tử Bình…, làm mê đắm bao thế hệ người Việt. Cũng như Nhã nhạc cung đình Huế, hát Bội cũng là một nhánh của nghệ thuật Tuồng nhưng bình dân hơn. Theo đó, hát Bội thường được các gánh hát, ghe hát hay các đoàn tập hợp nghệ sỹ nay đây mai đó biểu diễn trong các khu dân cư, làng xóm. Có một thời, những đoàn hát này từng là niềm ao ước, mong mỏi của người dân bởi khi đó, các kênh truyền hình chưa phong phú như bây giờ.
Tuy đã đạt tới đỉnh cao nhưng có một nghịch lý là các nghệ sỹ biểu diễn nghệ thuật hát Bội không còn đất sống. Điều đáng báo động là sau những nghệ sỹ tên tuổi, nghệ thuật hát Bội hiện nay hầu như không có lớp kế cận. Nguyên nhân thì nhiều nhưng chung quy cũng tại lớp trẻ không còn hứng thú với loại hình nghệ thuật này. Thêm nữa, khán giả ít nhiều quay lưng với hát Bội.
Theo nghệ sỹ Thanh Phước, đoàn hát Long Phụng (TP. Hồ Chí Minh), vẫn còn nhiều nghệ sỹ trẻ đam mê biểu diễn hát Bội nhưng không biết biểu diễn ở đâu và cũng chẳng có khán giả. Nhiều nghệ sỹ phải lo toan cơm áo đời thường nên không có thời gian luyện tập, để cho các kỹ năng múa, hát dần mai một theo ngày tháng…



<tbody>
http://kinhtenongthon.com.vn/Uploaded/thanduong/Nam%202012/Thang%205/Ngay%2003/tr8tb.JPG



Khán giả xem hát Bội.


</tbody>


Làm “vua sàn diễn, xe ôm sàn đời”…
Ngồi cùng chúng tôi trong căn gác phía sau đình An Sơn (thị xã Thuận An, Bình Dương), ông Nguyễn Văn Hưng (nghệ sỹ Ba Hưng), một diễn viên hát Bội của đoàn Long Phụng bùi ngùi cho biết: “Nghề hát Bội coi như tới hồi mạt vận, cả năm chẳng có diễn với hát gì. Chỉ trông mong vào mấy lễ kỳ yên ở các đình, miếu mà thôi. Tuy nhiên, lễ thì mỗi năm chỉ một vài lần, làm sao đủ sống khi lương, trợ cấp không có. Mỗi lần diễn, thù lao khoảng 12 - 15 triệu đồng, trừ chi phí đạo cụ, mỗi người còn khoảng 1 triệu đồng. Vì thế, các anh chị em nghệ sỹ phải kiếm đường mưu sinh. Người thì đóng kịch, đóng phim, kẻ buôn thúng, bán bưng, còn tôi, thường ngày ra đứng ở ngã ba cầu Phú Long chạy xe ôm, mỗi ngày cũng kiếm được vài ba “cuốc”, đủ sống qua ngày”.
Nhìn ra dòng sông Sài Gòn, nhớ lại thời “làm vương, làm tướng” của mình, ông Hưng cười buồn: “Do trời sinh được cái tướng khôi ngô, gương mặt chữ điền và dáng đi nghiêm chỉnh, từ lúc hơn 20 tuổi, tôi đã được ông bầu của đoàn cho đóng các vai vua, vai tướng. Mang danh thiên tử, đi đâu cũng có trống lọng, cờ buông, quân hầu hai bên hai hàng, giáo gươm tề chỉnh, thét một tiếng ai ai cũng run sợ, vậy mà khi trút bỏ xiêm y, về với đời thường, mình chỉ là anh xe ôm đầu đường cuối chợ, ngay cả một căn nhà cũng không có…”.
Kể về những kỷ niệm của mình, nghệ sỹ Thanh Thủy (đoàn Long Phụng) cười giản dị: “Có lẽ, trong các vai diễn, vai Hồ Nguyệt Cô của tôi đã để lại ấn tượng trong lòng khán giả. Một lần đi lưu diễn ở vùng Tam Nông (Đồng Tháp), đến đoạn cuối, khi Nguyệt Cô mất hết phép thuật, sắp trở lại nguyên hình là cáo vì bị chính người đàn ông mình yêu thương lừa lấy mất ngọc quý, tôi nhập vai quá tốt nên hàng trăm khán giả đều khóc òa vì thương tiếc cho oan tình của Nguyệt Cô. Đã nhiều năm trôi qua, nhưng tình cảm chân thành và nồng hậu vô tư ấy tôi vẫn không thể nào quên được”.
Nán lại đình An Sơn xem các nghệ sỹ đoàn Long Phụng biểu diễn vở “Trảm Trịnh Ân” cho bà con xem, nhìn hàng trăm người dân ngồi ngay ngắn nhìn lên sân khấu, chúng tôi không khỏi bùi ngùi, chỉ mong các nghệ sỹ hát Bội sẽ qua khỏi khúc sông hiu quạnh này, một tương lai tươi sáng hơn sẽ sớm đến với họ…

Trí Đại


</tbody>

yenminh0210
22-09-2012, 09:43 AM
Gìn giữ điệu sli giang của người Nùng

Người Nùng ở thôn Cao Tuyên, xã Bình Yên, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang là những người di cư từ tỉnh Cao Bằng về theo chính sách của Nhà nước từ năm 1977.

Sinh sống trên miền đất mới gần 40 năm, người Nùng ở đây vẫn giữ được những nét văn hóa rất riêng của mình. Họ vẫn mặc trang phục truyền thống, nói tiếng của dân tộc mình, hát những làn điệu Sli, điệu lượn, điệu ví đằm thắm trong những dịp lễ, tết…
<tbody>
http://images.danviet.vn/CMSImage/Resources/Uploaded/phuongthao/nguoi-nung-sli-giang.jpg



Ảnh minh họa từ internet


</tbody>

Cụ Lục Văn Chính, gần 90 tuổi nhớ lại: "Trước đây, chúng tôi sống tại thôn Pô Tán, xã Nũng Nặm, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng. Ở quê cũ, chúng tôi sống trên núi đá, không có đất canh tác, cuộc sống vô cùng khó khăn, người dân chủ yếu kiếm sống qua ngày bằng việc săn bắt thú rừng, đào măng, đào củ mài. Trước cuộc sống khó khăn của đồng bào, năm 1977, Nhà nước có chủ trương đưa 26 hộ gia đình người Nùng di cư về đây để xây dựng cuộc sống mới."

Có thể nói, nét nổi bật nhất trong văn hóa của người Nùng nơi đây là những làn điệu Sli mượt mà làm mê đắm lòng người. Ông Lương Văn Vinh, người được bầu là có uy tín và cũng là người hát Sli hay nhất thôn Cao Tuyên nói: "Hiện nay, thôn còn khoảng 20 người biết hát, chúng tôi thường đi biểu diễn giao lưu với các tỉnh bạn như Cao Bằng, Bắc Kạn, Thái Nguyên… và hát trong các cuộc Liên hoan tiếng hát các dân tộc toàn tỉnh. Tuy thôn chưa thành lập câu lạc bộ văn nghệ truyền thống nhưng mọi người vẫn có ý thức truyền đạt lại những điệu hát Sli cho con cháu."

Ông Vinh cho biết thêm cùng gọi là Sli nhưng Sli của các nhánh dân tộc Nùng có sự khác nhau. Chẳng hạn, với nhóm người Nùng Giang có Sli Giang; Nùng Cháo có Sli Sình Làng, Cổ Lẩu; Nùng Phản Slình có Sli Phản Slình... Mỗi làn điệu lại có cách thể hiện thế giới tâm hồn riêng thông qua những câu Sli. Nhưng, tất cả đều giống nhau ở cách biểu diễn là hát xướng.

Nội dung của hát Sli phong phú và hấp dẫn, mang đậm dấu ấn văn hóa của đồng bào Nùng. Đồng bào Nùng thường hát Sli khi dịp Tết đến xuân về, khi có đám cưới, lễ hội... Khi điệu Sli vang lên trầm bổng là đồng bào đang đắm mình trong tiếng lòng của chính mình.

Ông Vinh kể: “Từ khi còn nhỏ, tôi thường được nghe các anh chị, các cô, các bác ở trong thôn hát Sli Giang. Đặc biệt là những ngày đầu xuân năm mới, hoặc những đêm trăng sáng, nhiều đôi nam thanh nữ tú thường chia làm 2 nhóm ngồi hát đối đáp với nhau, qua những cuộc hát như thế có nhiều đôi đã nên vợ, nên chồng. Để hát Sli hay, ngoài chất giọng tốt, phải tập trung, phải biết luyến láy và có sự cảm thụ, cách thể hiện làm sao để lời hát dễ đi vào lòng người”.

Trong lời hát của điệu Sli Giang luôn có sự liên tưởng, ví von, thông qua những hình ảnh cụ thể để nói lên tâm tình con người. Dù lời hát nói về thiên nhiên, cây cỏ… thì cuối cùng vẫn là để nói về tình cảm, tâm trạng và ước vọng của con người. Khi hát Sli không cần nhạc cụ hay điệu múa đi kèm.

Người hát có thể hát bất cứ lúc nào, chỗ nào, miễn là có đối tượng để hát đối, hát cùng hoặc là đối tượng được hướng đến trong bài hát. Ví dụ nếu hát về mùa Xuân thì có bài Chào mùa Xuân: Mùa Xuân đến ngày nào cũng tốt/ Già trẻ gái trai ai cũng muốn được đi chơi. Trong lao động sản xuất, người Nùng thường hát những điệu Sli có nội dung cổ vũ, động viên hăng say lao động, sản xuất hoặc nhắc nhở mọi người nên chăm chỉ lao động, bằng những câu thơ nhẹ nhàng nhưng ẩn chứa nhiều hàm ý: Ngày ngày đi chơi chỗ này, chỗ khác/Không nhớ việc nhà để cây đỗ tương ra hoa mà không vun được.

Trưởng thôn Hoàng Văn Pảo cho hay hiện nay do sống chung với các dân tộc anh em, người Nùng ở thôn Cao Tuyên tiếp nhận thêm những văn hóa của các dân tộc khác nên các nét văn hóa truyền thống của dân tộc Nùng ở Cao Tuyên đã có phần mai một. Từ thực tế trên, vài năm gần đây chúng tôi khuyến khích thế hệ trẻ học các làn điệu Sli và mong muốn chúng không quên văn hóa gốc của dân tộc mình.

Ông Nguyễn Xuân Sửu, Trưởng Phòng Văn hóa và Thông tin huyện Sơn Dương cho biết trong những năm qua, để gìn giữ và phát huy những giá trị, bản sắc văn hóa của các dân tộc, huyện Sơn Dương đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động văn hóa, nghệ thuật và đã thành lập các Câu lạc bộ nghệ thuật trên địa bàn như Câu lạc bộ hát Soọng cô xã Ninh Lai; Câu lạc bộ hát Soọng cô xã Sơn Nam, Câu lạc bộ hát Then ở xã Tân Trào...

Để gìn giữ điệu Sli của dân tộc Nùng Giang ở thôn Cao Tuyên, ngoài việc khuyến khích những người biết hát truyền dạy cho thế hệ trẻ, chúng tôi còn đẩy mạnh tuyên truyền, bồi dưỡng niềm say mê, yêu thích, tự hào cho những thế hệ sau đối với những làn điệu dân ca, dân vũ nói chung và điệu Sli Giang của dân tộc Nùng nói riêng. Qua đó góp phần bảo tồn bền vững những nét văn hóa truyền thống. Đây cũng chính là điểm nhấn, thu hút khách du lịch về với quê hương cách mạng.
Theo TTXVN

yuri
24-09-2012, 10:32 AM
Quyến rũ điệu múa Chăm dưới tháp Poshanư

Nằm trên đồi Ngọc Lâm, ngọn tháp Poshanư uy nghiêm và cổ kính từ lâu đã trở thành một trong những biểu tượng về văn hóa và du lịch của thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận.


<tbody>
http://dulich.tuoitre.vn/ImageView.aspx?ThumbnailID=590017


Phụ nữ Chăm uyển chuyển trong trang phục múa duyên dáng

</tbody>


Dưới chân ngọn tháp đã gần 1.300 năm tuổi này còn là một thế giới văn hóa sống động muôn màu của đồng bào Chăm đang sinh sống ở đây, thể hiện qua những lễ hội, điệu múa, tiếng hát lời ca trầm hùng, bay bổng và lãng mạn.
Có thể nói tháp Poshanư là điểm hẹn của người Chăm Bình Thuận. Vào bất cứ dịp lễ hội nào trong năm, hoặc có khi chỉ là một ngày vui của cộng đồng, người Chăm lại tổ chức ca hát nhảy múa dưới chân tháp, chia sẻ niềm vui và cũng là lời cảm tạ đối với các vị tiền nhân. Đặc biệt là vào các dịp lễ Rija Nưga, Poh Mbăng Yang vào tháng giêng, lễ hội Ka Tê vào tháng 9, chính là những dịp tuyệt vời nhất để người Chăm trình diễn điệu múa hát truyền thống giàu màu sắc, vũ điệu và âm nhạc của mình.


<tbody>
http://dulich.tuoitre.vn/ImageView.aspx?ThumbnailID=590016


Múa Chăm dùng rất nhiều sự khéo léo uyển chuyển trong di chuyển tay và chân


http://dulich.tuoitre.vn/ImageView.aspx?ThumbnailID=590014


Các chàng trai chơi nhạc cụ truyền thống trong buổi biểu diễn

</tbody>


Múa và vũ điệu chiếm phần quan trọng hàng đầu trong đời sống tâm linh của người Chăm. Đây cũng là một nghi thức quan trọng bậc nhất để trình diễn trong các lễ hội chính hằng năm của cộng đồng Chăm. Người Chăm cần được múa hát như cần được thở, bởi những ảnh hưởng vô cùng to lớn của hoạt động này đối với tâm hồn của từng người. Khi múa hát, không chỉ bày tỏ sự vui tươi, dạt dào tình cảm, người Chăm còn múa hát để tưởng nhớ và ca ngợi các bậc tiền nhân, các vị vua mà trong tâm trí họ, được tôn vinh như là những vị thần.


<tbody>
http://dulich.tuoitre.vn/ImageView.aspx?ThumbnailID=589994


Các chàng trai chơi trống Ginăng, tạo nên những âm điệu trầm hùng cho điệu múa

</tbody>




<tbody>
Múa dân gian Chăm có rất nhiều điệu khác nhau dựa vào phụ kiện mà các vũ công cầm khi biểu diễn như múa quạt, múa đội lu (như cái chum nhỏ), múa khăn, múa kiếm, múa roi. Cũng có những điệu múa mang ý nghĩa triết lý, tâm linh như múa âm dương, múa đạp lửa… Mỗi điệu múa là một ngôn ngữ, một sự thể hiện, mỗi triết lý và ý nghĩa riêng, nhưng tất cả đều toát lên vẻ đẹp của văn hóa và con người Chăm.

</tbody>


Múa Chăm là một sự kết hợp tuyệt vời của màu sắc, vũ điệu và âm nhạc. Phụ nữ Chăm trong trang phục váy áo truyền thống thật quyến rũ. Các chàng trai cũng rực rỡ không kém. Tất cả những người tham gia múa đều đội khăn màu sắc và duyên dáng. Phụ nữ Chăm tay cầm quạt hoặc nhiều phụ kiện độc đáo, phô diễn sự khéo léo, đắm say, mê mãi qua cách di chuyển cơ thể, tay và chân. Tiếng trống, tiếng nhạc đệm từ những nhạc cụ truyền thống chính là một phần quan trọng trong việc tạo nên sự tuyệt vời cho các điệu múa Chăm.
Trống Ginăng, trống Baranưng, đàn Kanhi, chiêng, Grong (lục lạc), mỗi nhạc cụ góp một giai điệu khác nhau trong dàn hợp xướng lúc hào hùng mạnh mẽ, lúc réo rắt thiết tha, lúc dịu dàng tình cảm. Trong đó, trống Ginăng được xem là nhạc cụ chính bởi âm điệu hùng hồn trầm bổng, có tính chất hiệu triệu, gọi mời, đặc biệt phù hợp trong không gian vui mừng, lễ hội.

Cứ thế, đàn ông chơi nhạc cụ, phụ nữ nhảy múa theo nhịp, bước đi khi lả lướt khoan thai, khi thúc giục quyến rũ, khi nồng nhiệt say mê. Tất cả như cuốn hút người xem trong một không gian của văn hóa, nghệ thuật và những đam mê vô tận.
Năm tháng trôi qua, dù cuộc sống có bao biến đổi thăng trầm, người Chăm vẫn giữ nguyên vẹn tình yêu mãnh liệt với phong tục văn hóa của mình, vẫn say mê không ngừng những điệu múa lời ca, tiếng trống tiếng chiêng cũng như tình yêu vô tận với thiên nhiên, cuộc sống, lòng tôn kính với các bậc tiền nhân. Tất cả đã góp phần tạo nên nét đẹp và sự phong phú trong đời sống văn hóa Chăm, mà cũng là văn hóa của 54 dân tộc anh em trên đất Việt.

HUỲNH THU DUNG

yuri
04-10-2012, 09:32 AM
Độc đáo rối nước làng Nguyên Xá

Rối nước Nguyên Xá cho ta cái cảm xúc kỳ ảo, vừa thực vừa hư bởi cái nghịch lý của loại hình sân khấu này và cả cái nghịch lý trong cách tổ chức phường hội nơi đây

Những kỳ tích để đời
Ra đời cách đây khoảng 700 năm, phường rối nước Nguyên Xá, còn gọi là làng Nguyễn ở Đông Hưng, Thái Bình là một trong những cái nôi của múa rối nước Việt Nam. Trải qua nhiều thế kỷ, sân khấu rối nước Nguyên Xá chỉ giới hạn trong làng quê của mình với những tích trò phục lễ hội và tín ngưỡng như: Lễ tế trâu của đình Thượng, đình Đoài; lễ cầu mát của chùa Quỳnh, chùa Trại; đôi khi họ phục vụ cả những buổi mừng thọ, đám cưới, khánh thành công trình… Do hạn chế về số lượng khán giả và nội dung, đã có thời rối nước làng Nguyễn không còn kinh phí hoạt động, dần bị mai một. Nhưng may sao, năm 1954 Bác Hồ về thăm và ra chỉ thị khôi phục phường rối nước. Ngay sau đó, Nhà hát Múa rối nước Trung ương cử người về học 15 trò hay nhất của làng để tổ chức thành những chương trình biểu diễn lớn. Từ đây, lịch sử múa rối nước Nguyên Xá bước sang một trang mới.


<tbody>
http://www.quehuongonline.vn/Uploads/LibraryImages/roi-nuoc.jpg

</tbody>

Những năm 1960 đến nay, múa rối nước làng Nguyễn phát triển rực rỡ và liên tục. Chặng đường 10 năm đánh Mỹ 1965-1975 rối nước làng Nguyễn nhiều lần biểu diễn cho cán bộ-chiến sỹ Quân khu III. Dưới mưa bom bão đạn, những buổi biểu diễn vẫn đầy đủ âm thanh, ánh sáng với các tích trò cổ như cáo bắt vịt, múa sư tử… đan xen với những vở mới như săn máy bay Mỹ, bắt sống giặc lái. Năm 1974, Bộ Văn hóa tổ chức Hội nghị khoa học múa rối nước, đã mời làng Nguyễn biểu diễn minh họa. Những năm 1980, rối nước làng Nguyễn bận rộn với những buổi công diễn phục vụ khách quốc tế như Liên Xô, Trung Quốc, Nhật, Pháp, Canađa… Từ những năm 1990 đánh dấu bước trưởng thành về nghệ thuật với những cơn “mưa vàng, bạc” huy chương. Riêng nghệ nhân Phan Văn Uyển được phần thưởng đặc biệt của Hiệp hội múa rối quốc tế. Năm 2002-2006, rối nước Nguyên Xá liên tiếp giành giải nhất tại Liên hoan rối nước Phú Thọ và 2 kỳ Festival tại Huế. Rối nước Nguyên Xá còn gắn với những kỳ tích vô tiền khoáng hậu trong làng múa rối nước ta. Được công nhận là nơi lưu giữ nhiều con rối nhất với gần 1.000 con và con rối có kích cỡ to nhất nước ta với chú Tễu, cao 1m, ngang 35cm. Thủy đình, nơi biểu diễn của rối nước Nguyên Xá cũng to nhất nước. Thêm nữa, trong các tích trò cổ của Nhà hát Múa rối nước Trung Ương có tới 9 tích trò được phường rối nước làng Nguyễn truyền lại. Năm 1984, lần đầu tiên nước ta “xuất khẩu” nghệ thuật rối nước với 6 nghệ nhân Nguyên Xá là đại diện công diễn ở Pháp, Ý…

Bí truyền: tác dụng hai mặt
Người ta bảo sức hấp dẫn của rối nước Nguyên Xá là do vùng đất này cũng là cái nôi của nghệ thuật chèo cổ. Các làn điệu xẩm xoan, lưu thủy, sắp cổ phong hay các điệu vỉa đã nâng đỡ cho các tích trò diễn đi diễn lại hàng chục lần mà vẫn cuốn hút người xem. Đến nay, thời của âm nhạc điện tử nhưng rối nước làng Nguyễn vẫn duy trì cách thức công diễn từ hàng trăm năm trước. Đó là diễn nhạc “sống” chứ không dùng băng thu sẵn và chỉ sử dụng 3 bộ nhạc cụ dân gian, gồm bộ gõ (trống, thanh la, não bạt, mõ, chiêng); bộ hơi(sáo, kèn) và bộ dây (hồ, líu, nhị, đàn tranh, đàn tam).
Mặc dù vậy, nếu chỉ có các tích trò độc đáo hay làn điệu chèo cổ thì rối nước Nguyên Xá cũng khó có những kỳ tích vô tiền khoáng hậu kể trên. Thực ra, “vũ khí bí mật” của làng Nguyễn lại nằm cách tổ chức phường hội mang tính bí truyền. Các nghệ nhân được truyền hoặc tự sáng tạo những tích trò, những miếng nghề, rồi đem góp lại trong phường hội nhưng không buộc phải phổ biến trong phường. Do đó, trò của ai người đó diễn, không ai thay được. Không ai được tiết lộ cách điều khiển con rối bằng máy dây hay máy sào. Bí mật tới mức không truyền nghề cho con gái, thậm chí anh em ruột không truyền cho nhau. Trước đây, khi gia nhập phường còn phải cắt máu ăn thề không truyền nghề cho con rể và người ngoài. Sự cực đoan đó có tác dụng chống lại sự ăn cắp bản quyền, đảm bảo cho những nghệ nhân trong phường yên tâm sống với nghề và giúp cho phường có vị thế độc tôn trong các phường rối nước. Chẳng hạn như các tích trò “ngũ phương”, “sư chạy đàn” vẫn giữ được sự độc quyền hàng trăm năm nay, không phường rối nước nào trên cả nước diễn được, ngoại trừ làng Nguyễn. Tuy nhiên, nó cũng gây ra nhiều hệ lụy đáng tiếc. Có khá nhiều tích trò chưa kịp truyền lại cho con cháu thì nghệ nhân đã qua đời như trò Rồng hành Mã của cụ Tổng Chuẩn xưa kia, giờ chỉ còn là huyền tích. Ngay hiện giờ, cách đây hơn 10 năm, nghệ nhân cuối cùng chuyên tạo hình con rối của Nguyên Xá đã qua đời mà không kịp truyền cho ai. Hậu quả là phường rối nước làng Nguyễn phải lặn lội sang tận tỉnh Hà Nam nhờ người đảm trách.


Hương Châu (LangVietOnline)

yenminh0210
04-10-2012, 10:46 AM
Nghệ thuật và trò chơi dân gian độc đáo thời TrầnThiên Trường xưa, Nam Định nay - mảnh đất cố hương của nhà Trần - là nơi “khai sinh” của nhiều loại hình dân ca, dân vũ độc đáo, đồng thời cũng là mảnh đất có nhiều cuộc thi thể hiện trí thông minh, lòng quả cảm, sức mạnh của con người chiến thắng thiên nhiên và giặc ngoại xâm.

Những loại hình nghệ thuật, trò chơi dân gian đó đều gắn với lịch sử vùng miền, phản ánh quá trình lao động khai phá đất đai của con người, trong đó độc đáo nhất phải kể đến múa bài bông, thi bơi chải và thi đánh cờ người.

Múa bài bông
Hàng năm cứ vào dịp từ tháng giêng đến tháng ba và tháng 8 âm lịch, nhân dân các nơi lại nô nức kéo về làng Phương Bông dự hội múa bông, đông nhất là vào dịp mồng 10 tháng 3 âm lịch. Hội múa bông thực chất là một phần của lễ tưởng niệm Trần Quang Khải, một danh tướng dòng dõi quý tộc thời Trần. Tương truyền, ông cũng chính là người dạy dân làng cách trồng bông, dệt vải và là tác giả của điệu múa bài bông nổi tiếng.

http://media.thethaovanhoa.vn/2012/10/03/15/49/Mua-bai-bong.jpg
Múa bài bông - một điệu múa có từ thời Trần
Sau chiến thắng quân Nguyên - Mông, Trần Quang Khải trở về quê cũ Tức Mặc. Ông dạy dân Phương Bông (còn gọi là Hương Bông, thuộc hương Tức Mặc - hành cung Thiên Trường năm xưa, nay là xã Mỹ Trung, huyện Mỹ Lộc) biết cách trồng bông, từ đó Phương Bông trở thành vườn bông của triều đình. Bài hát, điệu múa bài bông cũng ra đời từ đó. Điệu hát múa này trước kia được biểu diễn trong các dịp khánh lễ ở sân rồng và đặc biệt không thể thiếu trong những ngày ăn mừng chiến thắng. Về sau này, múa bài bông trở thành một phần quan trọng trong nghi lễ cúng tế Trần Quang Khải và chỉ có ở làng Phương Bông, do đó nó mang đậm sắc thái địa phương và mang tính dân tộc sâu sắc. Đình làng Phương Bông thờ Trần Quang Khải làm thành hoàng, coi như vị tổ sư nghề ca kĩ.

Để thực hiện múa bài bông, những người tham gia vào đội múa được dân làng tuyển chọn kĩ càng, họ phải là những cô gái trẻ, đẹp và có giọng hát hay. Trang phục để múa bài bông hết sức rực rỡ, nhiều màu sắc, chủ yếu là áo màu đỏ thắm, thắt lưng bao xanh hoặc đỏ. Trên vai người múa là một cái cần, hai đầu cần là hai cái giỏ buộc dải lụa điều, đầu cần tròn có cuốn giấy màu xanh đỏ theo hình rắn lượn. Trong mỗi giỏ lại đựng đầy hoa tươi (chủ yếu là hoa huệ) được xếp tròn, cao tượng trưng cho bông hoa khi nở rộ, ở giữa mỗi giỏi hoa có một ngọn nến cháy sáng. Điểm đặc biệt của điệu múa này là số người tham gia múa bao giờ cũng là số chẵn, người múa đứng xếp thành hàng hình các ô vuông tượng trưng cho thửa ruộng. Căn cứ vào số người tham gia điệu múa và địa điểm biểu diễn mà người ta chia múa bài bông ra làm ba hậng: Thiên tử, Chư hầu và Đại phu.
Điệu múa, lời ca khúc hát bài bông được diễn diễn tấu trong sự hòa âm từ các nhạc cụ như đàn, sáo, nhị, hồ…; động tác múa mô phỏng theo các động tác lao động như trồng bông, hái bông, quay tơ, dệt vải… nhưng được nghệ thuật hóa cao độ. Do yêu cầu của nội dung bài múa phải sử dụng ánh sáng lung linh từ những ngọn nến như một yếu tố tạo nên vẻ huyền ảo nên người ta chỉ biểu diễn múa bài bông vào ban đêm. Đươi ánh sáng của những ngọn nến, tiếng đàn, tiếng hát cất lên, hòa quyện trong mùi hương hoa ngây ngất, người múa quần áo rực rỡ, phất phơ dải bao lưng xanh… tất cả tạo nên một bầu không khí thiêng liêng mà thanh khiết. Những cô gái vừa hát, vừa múa uyển chuyển nhịp nhàng trong tiếng nhạc chừng hai mươiphút, sau đó từng người tiến lên phía trước, quỳ xuống và đặt hai giỏ hoa của mình lên ban thờ. Cứ thế cho tới người cuối cùng và họ kết thúc điệu múa bằng một bản hợp ca ca ngợi vị tướng đã có công giúp dân giúp nước.
Thi bơi chải ở Đệ Nhị
Một trong số các cuộc thi được nhân dân Thiên Trường xưa ưa thích là thi bơi chải trên sông Vĩnh Giang của thôn Đệ Nhị ( hay còn gọi là Đệ Nhì -thuộc hành cung Thiên Trường xưa, nay thuộc xã Mỹ Trung, huyện Mỹ Lộc). Sông Vĩnh Giang là con sông chảy quang co uốn khúc, ôm lấy đồng ruộng, làng mạc, men theo làng Đệ Nhất rồi chảy xuôi xuống Đệ Nhị, nơi ngã ba sông có đền thờ Đệ Nhị hay còn gọi là đền thờ Thánh Bơi.
Thuyền bơi (chải) được làm bằng gỗ, dài chừng 12m, để mộc không sơn; đầu chải hơi vót, chải có khoang và chia làm tám phách để 16 người ngồi bơi. Người gõ mõ đứng ở giữa chải, người cầm chải đứng cuối, người đứng ở đầu chải cầm sào để đẩy chải khác ra xa chải của mình trong khi bơi. Trong các cuộc thi bơi, thông thường Lý trưởng của làng đứng ra cầm chải. Nhân dân địa phương quan niệm rằng nếu ông Lý trưởng nào cầm chải thắng trong cuộc thi thì dân làng đó sẽ làm ăn phát đạt trong ba năm liền.
Mỗi hiệp thi có hai chải cùng bơi, chải nào thắng thì được vào thi bơi tiếp với các chải còn lại. Khoảng cách giới hạn trong cuộc thi là từ khúc sông làng Thanh Khê ra đến chợ Viềng. Chải giành chiến thắng là chải bơi nhanh và đẹp nhất sẽ được nhà vua trao giải. Có một điểm đặc biệt, đó là trong lúc ngoài sông thi bơi thì trong đền cũng diễn ra nghi lễ cầu thánh và lễ tế. Cuộc thi bơi chải ở Đệ Nhị phục vụ hai mục đích: vừa là nghi lễ tế thánh, vừa là trò vui trong ngày hội.
Thi đánh cờ người ở Đệ Tứ
Cũng như múa bài bông, bơi chải, đánh cờ người là một hình thức giải trí, vui chơi được nhân dân Thiên Trường xưa hết sức ưa thích, đặc biệt là trong các dịp lễ hội. Thi đánh cờ người ở Đệ Tứ có những nét rất riêng, từ cách bày quân đến cách đánh đều mang sắc thái, phong tục tập quán của người dân Thiên Trường.
Để chuẩn bị cho cuộc thi, người ta bày quân chia thành hai bên nam và nữ. Tướng cờ bên nam là một cụ ông, tướng cờ bên nữ là một cụ bà, chỗ ngồi của tướng cờ đều được trang trí hết sức lộng lẫy, tướng cờ hai bên đều mặc áo thêu kim tuyến vàng óng ánh. Phục sức của mỗi quân cờ cũng rất trang trọng, các quân sĩ, tượng, xe, pháo… đều mặc áo màu sặc sỡ nhưng không giống nhau để phân biệt quân của hai bên. Trước mặt mỗi quân cờ đều cắm tấm biển có tua rua bay phấp phới, mang tên chính quân cờ đó. Khi đánh, các quân cờ vẫn ngồi im, người đánh chỉ di chuyển tấm biển trước mặt các quân cờ người. Chính vì thế trông bàn cờ vẫn rất đẹp dù nhìn ở mọi góc độ, hàng ngũ ngay ngắn từ khi bắt đầu tới khi kết thúc mà không hề bị lộn xộn. Do khoảng đất làm bàn cờ rất rộng nên đòi hỏi người chơi phải có hình dung tốt, quan sát thật nhanh và nắm chắc luật chơi.
Ngoài các trò chơi đã đi vào các câu ca dân gian, ở Nam Định còn vô số những trò chơi khác vẫn còn được lưu lại đến nay trong các dịp lễ hội của nhân dân các vùng như: thi bắt vịt, dệt vải, đấu vật, thổi cơm niêu, bắt chạch trong chum... Những lễ hội và trò chơi dân gian đã tồn tại, lưu truyền trên mảnh đất Thiên Trường - Vị Hoàng qua nhiều thế hệ, tiềm ẩn bên trong những sinh hoạt dân gian ấy là nội dung lịch sử sống động và sâu sắc, phản ánh đời sống của người dân qua lao động, sản xuất với nhiều sắc thái tinh thần phong phú.

Hiền Hạnh

yuri
08-10-2012, 10:03 AM
Hát Then - điệu hát “thần tiên” của đồng bào Tây Bắc

Hát Then là văn hóa đặc trưng của đồng bào dân tộc Tày, Nùng, Thái vùng Tây Bắc. Then có thể hiểu là Thiên tức là Trời, vì thế điệu hát Then vẫn được người Tày, người Nùng, người Thái coi là điệu hát thần tiên.


<tbody>
http://www.quehuongonline.vn/Uploads/LibraryImages/bs_hat-Then-(2).jpg

Liên hoan hát Then, đàn Tính toàn quốc lần thứ 3, tổ chức tại Bắc Cạn năm 2009

</tbody>


Di sản đặc sắc
Hát Then là một loại hình nghệ thuật dân gian diễn xướng nguyên hợp, vừa bao gồm nhiều yếu tố văn hoá - nghệ thuật, vừa mang cả yếu tố tâm linh. Hát Then gắn bó khá sâu sắc với đời sống tinh thần và tâm linh của đồng bào các dân tộc Tày, Nùng, Thái tại một số tỉnh Tây Bắc như Lạng Sơn, Cao Bằng, Tuyên Quang, Bắc Giang, Quảng Ninh…. Xuất xứ nguồn gốc của Then là từ tín ngưỡng của đồng bào về một thế giới thần bí, nơi đó có những nhân vật và sức mạnh diệu kỳ như: Bụt, Giàng, Trời, mà chỉ có bà Then, ông Then mới có đủ bản lĩnh và khả năng đến được thế giới đó. Khi các bà Then, ông Then này dâng lên Mường Trời những sản vật của con người thì họ hát. Lúc đầu hát Then chỉ có một người: tay đệm đàn, miệng hát, chân sóc nhạc. Chính lời bài hát Then, hoà trong nhịp đàn tính dìu dặt, cùng tiếng xóc lúc khoan nhịp, lúc dồn dập sẽ đưa bà Then, ông Then đến với Mường Trời để cầu xin các vị thần linh cứu giúp con người. Do đó, người hát Then trong những dịp lễ, tết là những người đại diện cho cộng đồng giao tiếp với thần linh, cầu cho mùa màng tươi tốt, đời sống ấm no, hạnh phúc.
Hát Then không chỉ là một làn điệu dân ca thông thường mà nó còn tổng hòa nhiều môn nghệ thuật và phong tục khác như hát, múa, đàn và giao duyên.

Lời hát Then vốn là những câu chữ được dân gian chắt lọc, gọt giũa, vừa là những câu thơ trữ tình, giàu nhạc điệu, vừa là lời khuyên răn, khích lệ, vừa là những kinh nghiệm về đối nhân xử thế... Cho nên khi giới trẻ lắng nghe những lời hát Then sẽ chắt lọc được những bài học quí về cuộc sống, về cách ứng xử với thiên nhiên và mọi người xung quanh. Ở mỗi vùng quê đều có những làn điệu hát Then khác nhau, nhưng nhìn một cách tổng thể, Then có một số loại hình thể hiện với những chức năng chính sau: Then Kỳ Yên (cầu an), Then cầu mùa, Then chúc tụng, Then chữa bệnh, Then cấp sắc (Lẩu Then).Để lời ca, tiếng hát Then thấu tới cả cõi Trời còn có sự góp mặt của âm thanh từ chiếc đàn Tính. Nói đến hát Then người ta không thể quên vai trò của chiếc đàn này. Bầu của chiếc đàn Tính được làm bằng quả bầu khô, hai dây tơ được chuốt từ ruột tằm. Bầu đàn được hình dung như quả đất, nối với cần đàn, đầu đàn- coi như trời, như thiên đường. Vì thế, người Tày có câu tục ngữ: "Ðàn Tính ba năm, kéo Nhị ba buổi", với hàm ý nghe một lần kéo nhị chỉ nhớ ba ngày, còn nghe một lần đàn Tính thì nhớ đến ba năm.


<tbody>
Ngày 30/5/2012, Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân đã đồng ý về chủ trương với đề nghị của tỉnh Tuyên Quang về việc lập hồ sơ Di sản văn hóa phi vật thể tiêu biểu hát Then của dân tộc Tày tỉnh Tuyên Quang và một số tỉnh khu vực Việt Bắc, đề nghị UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại.

</tbody>





<tbody>
http://www.quehuongonline.vn/Uploads/LibraryImages/bs_hat-Then-(1).jpg

Thế hệ trẻ tiếp nối nghệ thuật hát Then- đàn Tính của cha ông


</tbody>


Tiếng trầm bổng ngân nga từ cây đàn tính quyện với những lời ca, tiếng hát của Then như đưa ta vào một thế giới hư ảo, huyền bí. Lời then lúc thủ thỉ, sôi động, lúc lại trầm buồn, ngẫm ngợi. Mỗi đoạn một tâm trạng, một sắc thái. Có khi căng thẳng, lo lắng, có khi hồ hởi, vui tươi, tiếng đàn, tiếng hát quyện với nhau lung linh huyền diệu.

Thách thức trong việc bảo tồn, phát huy giá trị của hát Then
Hát Then là sản phẩm sáng tạo của rất nhiều thế hệ đồng bào dân tộc Tày, Nùng, Thái. Trải qua thời gian, hát Then đã trở thành món ăn tinh thần không thể thiếu của đồng bào các dân tộc miền núi phía Bắc. Loại hình nghệ thuật này luôn có sức sống mãnh liệt trong đời sống đồng bào và cũng là niềm tự hào của các dân tộc này... Hiện nay, một số đồng bào người Tày, Nùng, Thái ở khu vực phía Bắc, di chuyển đến sinh sống ở những vùng quê mới ở các tỉnh phía cực Nam của Tổ quốc đã mang theo nghệ thuật truyền thống này và ở đó, hát Then - đàn Tính đã có sức sống của nó.
Tuy nhiên, trên thực tế, hát Then cũng như nhiều di sản văn hóa phi vật thể ở Việt Nam đứng trước nguy cơ mai một nghệ nhân, thiếu người kế cận. Đặc biệt chúng ta không tranh thủ khai thác các nghệ nhân còn giữ được làn điệu Then cổ để truyền dạy cho thế hệ sau thì giá trị đặc sắc của nghệ thuật này sẽ bị mai một. Một thực tế cũng đáng buồn là ở hầu hết các bản làng vùng cao giờ đây chỉ còn các nghệ nhân cao tuổi đánh được đàn Tính, thuộc nhiều bài hát Then, còn thế hệ trẻ thì chỉ biết qua loa hoặc không mấy quan tâm. Các nghệ nhân còn lưu giữ được những bài hát Then cổ là rất hiếm.


<tbody>
http://www.quehuongonline.vn/Uploads/LibraryImages/bs_hat-Then-(4).jpg

</tbody>


Ông Nguyễn Vũ Phan, Giám đốc Sở Văn hóa – Thể thao và Du lịch (VHTTDL) tỉnh Tuyên Quang, tâm sự: Sở VHTTDL Tuyên Quang cũng như cá nhân ông rất lo lắng vì chứng kiến cảnh hát Then đang dần bị quên lãng ngay trên quê hương mình. Để cứu vãn, hàng năm tỉnh tổ chức nhiều lớp học dành cho con em dân tộc Tày, Nùng ở địa phương và mời các nghệ nhân đến để dạy, nhưng cũng chả được mấy người theo, nhất là những người trẻ. Riêng tỉnh Tuyên Quang có tất cả 4 nghệ nhân nắm giữ làn điệu Then cổ thì đã mất đi 2 người. Hát Then giờ cũng bị trẻ hóa rất nhiều. Lời Then giờ đa phần được đặt lại. Lời cổ không còn mấy người giữ. Đáng lo ngại hơn là một bộ phận người dân tộc Tày không còn nói được tiếng mẹ đẻ. Thực trạng này là thách thức không nhỏ đối với việc bảo tồn, phát huy giá trị di sản hát Then.Ở Lạng Sơn, theo ông Hoàng Thành Khởi, Trưởng phòng Văn hóa Thể thao huyện Văn Quan (Lạng Sơn), cho biết đã mấy lần làm đề án bảo tồn hát Then nhưng rồi phải bỏ ngang vì thiếu kinh phí, nhưng nếu có tiền cũng không có người truyền dạy. Xã Bình Phú, nơi hiếm hoi của tỉnh còn duy trì được đội hát Then truyền thống thì mỗi năm đội văn nghệ xã cũng chỉ biểu diễn được 3 - 4 buổi.
Không riêng gì Lạng Sơn, Tuyên Quang mà các tỉnh khác có nghệ thuật hát Then như Cao Bằng, Bắc Kạn, Bắc Giang, Quảng Ninh, Đắk Lắk… đều có chung số phận.
Về yêu cầu đặt ra đối với việc bảo tồn, phát huy giá trị hát Then, ông Nguyễn Vũ Phan cho biết: Yếu tố quyết định là phải coi trọng vai trò của các nghệ nhân, hạt nhân văn hóa dân tộc Tày. Từ trước tới nay, mới chỉ là sự coi trọng về mặt tinh thần, động viên, cổ vũ, đến giờ cần phải quan tâm vật chất, dành một phần kinh phí thỏa đáng hỗ trợ hoạt động của các nghệ nhân để họ truyền dạy làn điệu Then cho thế hệ trẻ và đào tạo người kế nghiệp. Không ai có thể thay các nghệ nhân đào tạo người kế nghiệp mà phải do chính các nghệ nhân đảm nhiệm. Đồng thời, hằng năm các địa phương cần tổ chức hội nghị tôn vinh các nghệ nhân, hạt nhân văn hóa dân gian để động viên, cổ vũ những người có đóng góp tích cực đối với đời sống sinh hoạt văn hóa cộng đồng.
Ở góc độ nghệ nhân, bà Võ Thị Thi (bản Sầm, xã Bình Phú, huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn) mong muốn: Nhà nước sớm có chính sách đãi ngộ thỏa đáng với nghệ nhân để họ yên tâm truyền dạy, bồi dưỡng cho các thế hệ sau.
Nhạc sỹ Lương Nguyên, người từng làm Tổng Đạo diễn Liên hoan hát Then - đàn Tính, nhấn mạnh: Muốn bảo tồn hát Then phải để cho nó được sống trong cộng đồng. Cơ quan quản lý nhà nước chỉ giữ vai trò định hướng chứ không thể làm thay.
Thanh Thảo

yenminh0210
12-10-2012, 10:12 AM
Nghệ thuật sân khấu dân tộc ChămSân khấu Chăm cũng như sân khấu các dân tộc Việt Nam đều hình thành từ vốn văn học, nghệ thuật dân gian. Người Việt có nghệ thuật tuồng, chèo, cải lương, múa rối... phát triển từ các trò diễn xướng dân gian thành sân khấu chuyên nghiệp. Sân khấu Chăm cũng vậy. Nghệ thuật múa Chăm là đỉnh cao của nghệ thuật sân khấu Chăm cũng bắt đầu từ múa dân gian. Vì vậy, có thể nói nghệ thuật múa Chăm tạo ra sân khấu.






<tbody style="margin: 0px; padding: 0px; border: 0px; font-size: 12px; font: inherit; vertical-align: baseline; text-align: left; ">
http://www.bienphong.com.vn/upload/2012/8/8/1068a.gif
http://www.bienphong.com.vn/upload/2012/8/8/2008b.gif




Một điệu múa Chăm.




Sân khấu ngoài trời.



</tbody>
Nhiều vở kịch múa có nội dung văn học sâu sắc, có tính cách nhân vật cao, nhiều hình tượng đẹp. Nhưng nghệ thuật múa là dùng ngôn ngữ múa biểu hiện không gian, không lời; còn sân khấu là diễn tả nội tâm, thân phận nhân vật bằng hành động kịch thông qua cốt truyện, nói với khán giả bằng sự diễn cảm những suy tư, lời thoại văn học. Tuy nhiên, khi nghiên cứu sân khấu Chăm, nhiều nhà nghiên cứu đã khẳng định: Từ những vở kịch múa đã ra đời loại hình SÂN KHẤU.
Sân khấu Chăm hình thành từ trò diễn có tính thanh xướng kịch, một loại hình sân khấu cổ. Nghĩa là ở hình thức sân khấu kể chuyện: Có lời kể, có hát, có múa, có đọc văn. Chịu ảnh hưởng của sân khấu Ấn Độ, nhưng khi du nhập, dần dần phát triển tính bản địa, dân tộc, độc đáo. Có thể tóm lược sự phát triển sân khấu Chăm từ thấp đến cao như sau: Sân khấu dân gian đến sân khấu tín ngưỡng, rồi sân khấu cung đình, sau cùng là sân khấu đương đại.
Sân khấu dân gian phản ánh hiện thực, có đề tài là sử thi, có đề tài là sinh hoạt dân dã. Nội dung thường phê phán thói hư tật xấu, hướng tới cái thiện. Có đề tài về phong tục tập quán, lao động sản xuất. Nhưng tất thảy đều có cốt truyện, nhân vật trung tâm.
Sân khấu tín ngưỡng, tôn giáo có nguồn gốc từ nghệ thuật sân khấu dân gian, nhưng phát triển ở mức cao hơn, có quy phạm chặt chẽ, có người diễn chuyên nghiệp. Sân khấu này mang ý nghĩa linh thiêng, thờ phụng, tế thần, chỉ được diễn theo những nghi lễ nhất định, tuyết đối không được tùy tiện, du hí.
Sân khấu cung đình có nguồn gốc từ sân khấu tín ngưỡng. Khi nghiên cứu văn học và điêu khắc, người ta thấy sân khấu cung đình vẫn chỉ dừng lại ở những diễn ca lịch sử, dừng lại ở hình thái sân khấu tôn giáo. Tuy nhiên, người ta vẫn phải thừa nhận có loại hình sân khấu cung đình mang đặc trưng riêng về nội dung. Đó là những câu chuyện chuyên diễn kể về những ông hoàng, bà chúa. Nghệ thuật mang những quy phạm, ước lệ, cách điệu... là đặc trưng của sân khấu cung đình Chămpa.
Sân khấu đương đại là sự kế thừa, tiếp nối và phát triển lên một đỉnh cao mới của sân khấu Chăm. Sân khấu đương đại của dân tộc Chăm vừa giữ được nét truyền thống, vừa bảo đảm được tính nhân văn song cũng mang ăm ắp tính thời sự của cuộc sống hiện tại. Trải qua hàng trăm năm, sân khấu Chăm vẫn giữ nguyên vẻ đẹp dân gian, bản địa. Nhưng dưới các triều đại phong kiến, thực dân, sân khấu Chăm không được biết đến. Các nhà nghiên cứu nước ngoài cũng chỉ chú ý đến các hình thái nghệ thuật như kiến trúc, điêu khắc, ca múa nhạc.
Sau ngày đất nước thống nhất, nghệ thuật Chăm (trong đó có sân khấu) như một ngọn lửa bùng lên. Người Chăm tự do sáng tạo, phát triển các loại hình nghệ thuật của dân tộc mình. Cả nước biết đến sự phát triển phong phú của nền nghệ thuật ca múa nhạc. Năm 1985, tại Thuận Hải (Ninh Thuận, Bình Thuận ngày nay) đã diễn ra Hội diễn nghệ thuật quần chúng. Ngoài ca múa nhạc, có một số vở kịch hát dân ca, đặc biệt là vở kịch Bà Chăm - Bà Ni (dựa vào trường ca cùng tên) được dư luận chú ý. Sau hội diễn đã xuất hiện nhiều vở kịch hát dân ca như: Ngọn lửa tình yêu; Hôm nay hôm qua; Núi đá trắng... Có vở kịch được viết bằng tiếng Chăm, được dư luận đánh giá cao, được công chúng, đặc biệt là người Chăm nồng nhiệt đón nhận.
Là một dân tộc có nền văn minh phát triển sớm, dân tộc Chăm đang từng ngày làm sống dậy các hình thái nghệ thuật, góp phần xây dựng cuộc sống, con người của xã hội hôm nay, luôn tiến về phía trước, luôn hướng tới: Chân, thiện, mỹ.

Xuân Nguyễn

yuri
24-10-2012, 09:18 AM
Phục hồi điệu múa rồng Thăng Long

Múa rồng, hoạt động biểu diễn đỉnh cao trong những ngày hội lớn của người Việt, đặc biệt là của Hà Nội, đang dần hồi sinh khi các nghệ nhân múa rồng của Thủ đô được tụ hội trong một liên hoan và trình diễn điệu múa đầy sáng tạo của quê mình.



<tbody>
http://www.quehuongonline.vn/Uploads/LibraryImages/(348)1.jpg

</tbody>


Những câu chuyện…

Cuộc hội tụ của các nghệ nhân múa rồng Hà Nội diễn ra trước Sân vận động quốc gia Mỹ Đình vừa rồi là kỳ liên hoan thứ 3 của nghệ thuật này. Tuy nhiên, đây lại là lần đầu tiên kể từ khi Hà Nội mở rộng, nên cuộc hội ngộ rôm rả và xôm tụ hơn hẳn 2 lần trước.
Quả là sau 6 năm gián đoạn, nỗi mong đợi và niềm hứng khởi của cả người trong cuộc lẫn người đến xem đều không thể giấu nổi. 29 đội rồng của các quận, huyện mang đến 60 tiết mục múa rồng, nghĩa là tính bình quân, mỗi đội đã "giữ" 2 màn múa, có những đội còn hào hứng dựng 3 màn rồng hoành tráng. Huyện Đan Phượng xây dựng màn múa lân thông qua truyền thuyết về một thầy thuốc nhân từ, giỏi võ nghệ đã thuần phục con quái vật hung ác chuyên làm hại người dân (gọi là thân lân). Người đời biết ơn nên tôn xưng vị thần thuốc là ông Địa.
Cứ mỗi khi năm hết tết đến, ông Địa lại cùng lân về làng, mang hạnh phúc an khang thịnh vượng cho mọi gia đình. Các nghệ nhân múa rồng Đan Phượng đã gửi gắm khát vọng ấm no, hạnh phúc trong câu chuyện ấy.Với màn trình diễn "Đông Anh - truyền thống và phát triển", dưới nền nhạc sôi động cùng những động tác, kỹ thuật điêu luyện, sâu sắc và có độ cao, đội rồng huyện Đông Anh kể lại sự tích thành Cổ Loa, gắn liền với truyền thuyết An Dương Vương.
Những vòng uốn lượn của thân rồng thể hiện các vòng thành, đầu rồng ở tâm hình xoắn ốc vươn cao, thể hiện quyền uy tối thượng của đức vua. Đồng thời, sự kết hợp đầy đủ, hài hòa của tứ linh đã thể hiện quá trình gian khổ trong quá trình xây thành dựng nước, chống thiên tai và giặc ngoại xâm của dân tộc, xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc.
Quận Cầu giấy là một trong những đơn vị tích cực nhất. Năm 2004, các nghệ nhân múa rồng Cầu Giấy đã đoạt giải nhất ở kỳ liên hoan lần đầu tiên, năm sau (năm 2005, liên hoan lần thứ 2) lại tiếp tục "giật" giải nhì. Và không chỉ "đợi" các liên hoan, các nghệ nhân múa rồng Cầu Giấy còn liên tục mang rồng đi trình diễn ở các lễ hội địa phương và quận.
Màn trình diễn "Rồng phun lửa" của họ thể hiện rất rõ nhiệt huyết của một quận trẻ trong công cuộc xây dựng Thủ đô ngày càng giàu mạnh, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân…


Chữa lành “vết thương” mai một

Các tiết mục đem đến trình diễn không chỉ mang hồn phách vùng đất Thăng Long, mà còn "gánh" được trên vai những yếu tố độc đáo.
Như đội rồng huyện Thanh Oai mang đến con rồng dài kỷ lục Việt Nam, dài 100m với 100 người biểu diễn. Các nghệ nhân múa rồng Thanh Oai đã "biến" con rồng kỷ lục của mình thành những hình ảnh rất ý nghĩa như: Bản đồ Việt Nam, ngôi sao vàng 5 cánh… Phải nói rằng, tất cả 29 quận, huyện, thị xã của Hà Nội đã từng bước khôi phục và phát triển các đội rồng.
Đáng ghi nhận là múa rồng Hà Nội vẫn giữ được bản sắc, rồng không lai căng, pha trộn, không bị ảnh hưởng của rồng nước ngoài. Múa rồng Hà Nội ngày càng gần gũi với con người và cuộc sống đời thường hơn. "Liên hoan múa rồng Hà Nội" được cho là sự kiện khuấy động trở lại điệu múa đang tồn tại một cách lặng lẽ ở đất Thăng Long này. Nói là tồn tại một cách lặng lẽ là bởi múa rồng đã có một thời gian phôi pha, tưởng như đã mai một.
Các nghệ nhân múa rồng buồn nhưng hiểu rằng trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân, đế quốc, điều kiện thời chiến không cho phép múa rồng tồn tại. Sau khi đất nước thống nhất, múa rồng được khôi phục trở lại và từng bước phát triển mở rộng. Cả người say sưa múa rồng lẫn người mê mải xem rồng đều tha thiết với nghệ thuật mang đầy dáng dấp đất Thăng Long này.
"Vết thương" mai một lặng lẽ đau một thời gian dài đã được chữa lành, song đến giờ ở Hà Nội vẫn chưa có đội múa rồng chuyên nghiệp nào, cho dù đội ngũ nghệ nhân còn khá nhiều. Nghệ thuật múa rồng sẽ còn "sống" và phát triển ở Thủ đô ngàn năm văn hiến, bởi như Phó Giám đốc Sở VHTT&DL Nguyễn Khắc Lợi: "Múa rồng thì nhiều nơi có, nhưng với Hà Nội đó là một đặc sản… Chúng tôi sẽ cố gắng để liên hoan múa rồng diễn ra thường niên, đưa múa rồng trở thành một hoạt động văn hóa đặc trưng của Hà Nội". Thế nên, những người làm văn hóa Hà Nội cũng nên nghĩ đến sự có mặt của một đội múa rồng chuyên nghiệp đại diện cho Thủ đô.

(Theo LangVietOnline)

tomhe
24-10-2012, 02:32 PM
Ngọt ngào điệu hát ống Bắc Giang

<tbody>
http://nhandan.org.vn/polopoly_fs/1.373711.1351015838!/image/2906534121.jpg

Một buổi sinh hoạt hát ống tại Tân Yên (Bắc Giang).



</tbody>


Cùng với biết bao câu hò, điệu hát trong nền văn hóa nghìn năm đất Việt, hát ống của vùng quê Bắc Giang ghi dấu ấn bởi chất mộc mạc, trữ tình và hình thức thể hiện vô cùng độc đáo.
Nức tiếng một thời
Hát ống (hay ví ống) là tên gọi của một loại hình nghệ thuật dân gian đặc sắc đã ra đời và tồn tại hàng trăm năm nay trong cộng đồng làng Việt, đặc biệt là ở xã Liên Chung, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang - nơi được coi như cái nôi của lối hát rất chân quê mà giàu cảm xúc này. Từng có lúc hát ống Tân Yên nổi tiếng gần xa, lan truyền khắp các vùng phụ cận. Từ thời phong kiến, những người thợ cày, thợ cấy, thợ gặt đã cùng nhau cất lên lời hát ngợi ca lao động, ngợi ca vẻ đẹp quê hương, tình làng nghĩa xóm, tình yêu đôi lứa... Dưới gốc đa ở Nhã Nam, Phồn Xương, có những canh hát trước đây đã kéo dài suốt một ngày. Theo ông Ngô Văn Nguyên, Chủ tịch CLB hát ống, hát ví Liên Chung, dân gian vẫn truyền lại câu chuyện: Trong cuộc khởi nghĩa Yên Thế của Anh hùng áo vải Hoàng Hoa Thám, ở thời kỳ hòa hoãn lần thứ hai với thực dân Pháp (1897-1909), nơi đây đã diễn ra rất nhiều hoạt động văn nghệ giữa nghĩa quân và nhân dân trong vùng, trong đó có hát ví, hát ống được mọi người yêu thích hơn cả. Tương truyền rằng ông Cả Trọng, người con trai của Ðề Thám, cũng là một người hát rất hay.
Cái tên hát ống nghe lạ mà quen bởi thực chất đó chính là lối hát ví, hát giao duyên đối đáp qua lại vốn phổ biến trong dân gian xưa nay. Hát ống cũng mang những đặc trưng của các hoạt động sinh hoạt âm nhạc cộng đồng truyền thống như: được truyền từ đời này sang đời khác, hình thức diễn xướng đơn giản, gắn liền với cảnh quan thiên nhiên và sinh hoạt đời thường của người nông dân. Hát ống, với bản chất là hát ví, có giai điệu và ca từ mộc mạc, giọng hát như giọng thơ, thường là thể thơ lục bát dễ nhẩm, dễ thuộc. Nhưng điểm khác biệt và độc đáo là ở chỗ người ta sử dụng những chiếc ống hát được nối với nhau vừa để truyền âm, vừa để động tác khi hát trở nên duyên dáng hơn, cuốn hút hơn.
Ống hát thường được làm bằng những nguyên liệu tự nhiên vốn rất sẵn ở các vùng quê như ống tre hoặc nứa. Sau khi làm sạch, tròn trịa, một đầu ống người ta bịt lại bằng da con ếch, rồi nối hai ống với nhau bằng sợi tơ hoặc cước với khoảng cách vài chục sải tay. Khi hát, mỗi khi bên này dùng ống làm loa để hát thì bên kia đặt ống lên tai để nghe, rồi đổi lại. Cứ thế, cứ thế, sợi tơ mỏng mảnh khẽ rung lên, truyền đi những âm điệu ngọt ngào, khiến cả người hát lẫn người xem đều thích thú, say mê. Trong ký ức của nhiều người dân làng Hậu, xã Liên Chung bây giờ vẫn ghi nhớ hình ảnh những buổi hội làng hoặc sinh hoạt văn nghệ ở đình, chùa, những đêm trăng thanh gió mát, nam thanh nữ tú trong làng lại ngân nga những câu hát đượm tình quê hương, thắm tình người. Ðã có nhiều mối lương duyên giữa trai gái trong ngoài thôn được se nên cũng từ những sợi tơ ấy. Bà Nguyệt, một bậc cao niên trong làng vui vẻ bày tỏ: "Cũng chẳng ai biết hát ví, hát ống có từ bao giờ, tôi chỉ nhớ từ tấm bé đã hay theo mẹ ra đình, nghe các bà, các mẹ, các bác hát với nhau. Dần dần hiểu được ý nghĩa và thuộc nằm lòng luôn". Rồi bà ngâm luôn một trổ hát ví mà chắc hẳn đã theo chân bà từ thời son trẻ: Không dây mà buộc em chàng/Trăm sông một bến tình này anh trao/Thắm phai nàng hỡi má đào/Ðá vàng ta quyết dạt dào thủy chung...
Trải qua nhiều năm, bằng trí óc sáng tạo và tình cảm dạt dào, người dân chốn thôn quê đã tạo nên một kho tàng những câu hát hết sức dân dã mà sâu sắc, có khi trầm lắng suy tư, khi lại hóm hỉnh không ngờ. Chẳng hạn như trong một cuộc hát ống mà đôi bên nam nữ cùng so tài ứng tác với nhau, một bên hỏi, một bên trả lời. Nữ hát: Em đố chàng: Hoa gì sớm nở tối tàn/Trắng, hồng, đỏ thẫm, tím than trong ngày?/Hoa gì trắng đỏ cùng cây?/Hoa gì đêm nở, ban ngày cấm cung? Nam trả lời: Phù dung sớm nở tối tàn/Năm màu thay đổi chan chan trong ngày/Hoa giấy trắng đỏ cùng cây/Hoa quỳnh đêm nở, ban ngày cấm cung.
Có khi đó lại là những câu hát trở nên bông đùa hơn, táo bạo hơn, vừa để trêu chọc, vừa để thử tài ứng khẩu của đối phương. Phía bên kia nếu không nghĩ ra câu nào thì xem như chịu thua, chỉ còn cách hẹn lần sau. Qua đó, có thể thấy rằng hát ống, hát ví không chỉ là nơi lưu trữ nhiều giá trị tinh túy của trí tuệ dân gian, mà còn mang đến một không gian văn hóa cộng đồng hết sức đặc sắc, làm phong phú thêm đời sống tinh thần của con người.
Gìn giữ cho muôn đời sau
Tuy từng có thời kỳ hát ống ở Bắc Giang xuất hiện thưa thớt và gần như vắng bóng, nhưng nó vẫn tồn tại, vẫn có sức sống và đang dần được khôi phục, lưu truyền trở lại. Bằng những câu hát ngẫu hứng trên đồng ruộng, khi tát nước, khi vơ cỏ, hoặc những buổi sinh hoạt văn nghệ quần chúng, hoặc những lời ru của bà, của mẹ cho con cháu nghe, người dân ở Tân Yên vẫn có những cách tuyệt vời để giữ gìn hát ví, hát ống. Mặt khác, nhiều nghệ nhân, nhiều người sưu tầm tâm huyết với bộ môn nghệ thuật này cũng dày công kiên trì, tìm hiểu và ghi chép lại được hàng nghìn lời hát cổ. Cuối tháng 4 vừa qua, CLB hát ống, hát ví xã Liên Chung đã chính thức được thành lập, mang đến một sân chơi định kỳ và rộng rãi cho người dân. Ðây là một tín hiệu đáng mừng cho thấy chính quyền địa phương đã quan tâm và tạo điều kiện trong việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa này. Với 31 hội viên đầu tiên, đến nay số hội viên CLB vẫn đều đặn tăng lên, trong đó có cả những nghệ nhân cao niên, lẫn những thanh, thiếu niên có tuổi đời còn trẻ. Thu Trang, một sinh viên báo chí hào hứng cho biết: "Mới đầu nghe nói đến hát ống em thấy rất xa lạ. Nhưng một lần gần đây được bạn rủ về quê Bắc Giang chơi, em được trực tiếp nghe hát ống và thấy thật sự thích thú. Hóa ra hát ống là hát đối đáp qua lại giao duyên, và còn có thêm những chiếc ống hát ngộ nghĩnh, giống như trò chơi thời thơ ấu của trẻ con vậy. Các bác nông dân hát rất hay và lời hát giàu ý nghĩa". Không chỉ độc đáo ở hình thức, hát ống còn thú vị ở chỗ: tùy hoàn cảnh, tùy hứng thú mà người hát còn có thể thêm bớt từ ngữ, biến đổi sao cho linh hoạt dựa trên những câu hát cổ, hoặc là sáng tác thêm. Hiện nay CLB hát ống vẫn đang duy trì hoạt động, phân loại, dạy hát, thi hát cho các hội viên và tất cả người dân tham gia. Phó Chủ tịch UBND xã Liên Chung Dương Minh Hiếu cũng nói thêm rằng trong tương lai không xa, hát ống, hát ví sẽ được đưa vào các trường học ở xã, để lớp trẻ biết đến và yêu mến hơn văn hóa quê hương mình.
Những ngày đầu tháng 10 vừa qua, trong thời gian diễn ra Ngày hội văn hóa, thể thao và du lịch Bắc Giang 2012, cùng với nhiều sản phẩm văn hóa vật thể và phi vật thể khác, hát ống đã được tôn vinh và giới thiệu đến với du khách gần xa. Hy vọng rằng, với bản sắc độc đáo và sức lan tỏa mạnh mẽ của mình, hát ống Bắc Giang sẽ không bị lãng quên mà sẽ được phát huy trong nền văn hóa tiên tiến mà đậm đà bản sắc của dân tộc.
HOÀNG MỸ HẠNH

tomhe
31-10-2012, 08:15 AM
Những điều bạn chưa biết về múa rối nước

Là người Việt, bạn đã từng xem múa rối nước chưa? Bạn biết những gì về nghệ thuật này?

Múa rối nước là một loại hình văn hóa truyền thống gắn bó lâu đời với người dân Việt Nam, đặc biệt là ở vùng trung du và đồng bằng Bắc Bộ. Thông qua các câu chuyện được nghệ sĩ rối nước thể hiện, người xem sẽ cảm nhận được sắc thái của hội làng, gửi gắm vào đó những mơ ước bình dị cho cuộc sống.
Không ai biết chính xác múa rối nước xuất hiện từ bao giờ. Nhưng theo những ghi chép cụ thể, trong các cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông đời Trần, “đội quân rối khổng lồ” đã góp phần đánh tan kẻ thù ngoại xâm.


http://k14.vcmedia.vn/Images/Uploaded/Share/2011/11/19/111119kpmuaroinuoc10.jpg



http://k14.vcmedia.vn/Images/Uploaded/Share/2011/11/19/111119kpmuaroinuoc4.jpg


Trước khi chính thức trở thành nghệ thuật sân khấu, múa rối nước là hoạt động nằm trong các phường hội dân gian rải rác khắp thôn xóm, được "nuôi lớn" bằng nhiệt huyết của người dân. Từ xa xưa, người Việt Nam đã chế tạo ra 3 dạng rối: rối đồ chơi, rối diều - rối gió và rối pháo.


http://k14.vcmedia.vn/Images/Uploaded/Share/2011/11/19/111119kpmuaroinuoc1.jpg
Từ những khối gỗ mộc mạc, chúng đã trở thành những con rối đầy sức sống.



Phổ biến nhất với nghệ thuật múa rối nước là rối đồ chơi. Các mô hình rối đồ chơi xuất phát đều là những khối gỗ mộc mạc. Sau khi được đẽo, khắc, tô màu dưới bàn tay của người nghệ sĩ, chúng sẽ trở nên có hồn hơn, trở thành một phần làm nên thành công của buổi diễn. Mô hình chú Tễu, Chí Phèo, Thị Nở bỗng tràn đầy sức sống, “ngoan ngoãn tuân theo” sự chỉ đạo của nghệ nhân điều khiển từ đằng sau tấm mành trúc.


http://k14.vcmedia.vn/Images/Uploaded/Share/2011/11/19/111119kpmuaroinuoc8.jpg


Thời nay, các tiết mục múa rối ngày càng được đầu tư công phu hơn. Không đơn thuần là màn biểu diễn thô sơ của những nghệ nhân múa rối cùng các con rối của mình nữa, loại hình nghệ thuật này còn là sự kết hợp ăn ý của dàn nhạc chèo, hệ thống ánh sáng, hiệu ứng khói, tia lửa… khiến màn biểu diễn rối nước trở nên vô cùng sống động.


http://k14.vcmedia.vn/Images/Uploaded/Share/2011/11/19/111119kpmuaroinuoc6.jpg
Sân khấu biểu diễn rối nước.



Mở màn chương trình biểu diễn rối nước thường là những làn điệu quan họ của các nghệ sĩ tham gia “lồng tiếng” cho nhân vật rối. Tiếp theo, những tiết mục có nội dung ca ngợi "thú làm ruộng" của người nông dân, giã gạo, dệt khung cửi, các trò vui chơi giải trí lành mạnh như chọi trâu, múa lân... lần lượt được trình diễn. Ngoài ra, việc tái hiện các sự kiện lịch sử như trận đánh của Hai Bà Trưng, Lê Lợi… cũng đem đến những trải nghiệm khác nhau cho khán giả.
Không những thế, trong một vài màn biểu diễn, các nghệ nhân sẽ xuất hiện tham gia “diễn” cùng các nhân vật rối của mình.

“Đặc sản văn hóa” Việt Nam

Múa rối nước hiện nay đã trở thành “đặc sản văn hóa” Việt Nam. Các vị khách du lịch thường rất hào hứng trước những chương trình biểu diễn văn hóa khi đến thăm đất nước chúng ta, đặc biệt là múa rối nước.

Họ bị thu hút bởi các làn điệu chèo đầu chương trình với “dàn giao hưởng dân tộc” gồm những nhạc cụ như sáo, bộ gõ, đàn bầu, đàn tam thập lục... Âm nhạc trong múa rối nước giúp gắn kết các tiết mục với nhau. Các nghệ nhân múa rối nước dựa theo tiết tấu nhạc mà điều khiển con rối lúc khoan thai, lúc sôi động.


http://k14.vcmedia.vn/Images/Uploaded/Share/2011/11/19/111119kpmuaroinuoc2.jpg
Múa rối đã trở thành một trong những nét văn hóa đặc sắc của Việt Nam.


http://k14.vcmedia.vn/Images/Uploaded/Share/2011/11/19/111119kpmuaroinuoc3.jpg


Những nhân vật múa rối được điều khiển khéo léo và tài tình bởi những nghệ nhân “bí ẩn”. Các teen nước ngoài khi xem múa rối nước đã tỏ ra trầm trồ thán phục không biết bí quyết gì giúp nghệ nhân múa rối có thể phối hợp ăn ý với nhau đến vậy sau tấm màn che. Hình ảnh hai chú trâu chọi nhau tranh giành ruộng lúa, những điệu múa uyển chuyển khi cá chép hóa rồng bay lên trời cao lý giải ý nghĩa cái tên Thăng Long… đã hoàn toàn chinh phục các vị khách nước ngoài.


http://k14.vcmedia.vn/Images/Uploaded/Share/2011/11/19/111119kpmuaroinuoc9.jpg
Bạn có nhận ra đây là phân cảnh trong sự kiện trả gươm cho rùa thần của vua Lê Lợi?



http://k14.vcmedia.vn/Images/Uploaded/Share/2011/11/19/111119kpmuaroinuoc7.jpg
Cảnh đua thuyền tái hiện lễ hội truyền thống.
Ling Ling

yuri
03-11-2012, 08:22 AM
Chờ hội hát dô

Đối với người dân xã Liệp Tuyết, huyện Quốc Oai (Hà Nội), lễ hội hát dô là một tín ngưỡng dân gian, niềm tự hào của nhiều thế hệ. Thế nhưng hiện nay, lễ hội này chỉ còn là hoài niệm.

Dân ca nghi lễ
Cụ Kiều Thị Hạnh, 97 tuổi, ở thôn Vĩnh Phúc có lẽ là nghệ nhân hát dô duy nhất còn sót lại ở Liệp Tuyết. Cụ kể: Lễ hội hát dô là một lễ hội dân ca nghi lễ được hình thành và phát triển trên mảnh đất Lạp Hạ xưa kia (xã Liệp Tuyết ngày nay) thờ Đức Thánh Tản Viên - một trong “tứ bất tử” linh thiêng của dân tộc Việt. Một lễ hội ca ngợi các vị thánh trong đền Khánh Xuân và cũng nhằm ca ngợi tình yêu thiên nhiên, tình yêu trai gái; cầu mong sự thịnh vượng, no ấm, học hành đỗ đạt, ca ngợi cảnh sắc thiên nhiên làng xóm…


<tbody>

http://www.quehuongonline.vn/Uploads/LibraryImages/hat-do.jpg


Đội hát dô của xã Liệp Tuyết vẫn luyện tập nhưng chưa có đất diễn



</tbody>

Tương truyền, vào một ngày đầu xuân, Đức Thánh Tản Viên đi du ngoạn qua sông Tích, khi đến xã Lạp Hạ thấy ruộng đất phì nhiêu nhưng dân cư thưa thớt, ngài đã dừng lại dạy dân trồng trọt, cày cấy. Sau đó, ngài ra đi, hẹn mùa lúa chín sẽ về. Vụ đó, người dân Lạp Hạ bội thu nhưng chờ mãi không thấy Đức Thánh quay lại. 36 năm sau, ngài mới trở lại, thấy dân làng đã giàu có, thóc lúa đầy nhà, ngài tập hợp trai gái trong làng để dạy múa hát, mừng cho dân làng được mùa no ấm. Từ đó dân làng xây đền Khánh Xuân tại thôn Đại Phu để tưởng nhớ công ơn và cứ 36 năm theo lệ lại mở hội ca múa tưng bừng, còn gọi là hội hát dô. Theo cụ Hạnh, hát dô có 36 làn điệu và là loại hình nghệ thuật có những luật rất nghiêm ngặt. Hội hát dô được tổ chức từ ngày mùng 10 đến 15 tháng Giêng âm lịch, thì từ năm trước vào khoảng tháng 8, dân làng bắt đầu tuyển trai, gái từ 12 - 18 tuổi chưa chồng, chưa vợ để tập luyện và sau khi kết thúc lễ hội thì không một ai được phép nhắc hoặc hát hát dô, nếu không sẽ bị lời “hèm” cay nghiệt, ai vi phạm sẽ mang tội với thánh. Người Liệp Tuyết vẫn truyền nhau câu ca: “Con hát tuổi hạn hai mươi/ Nếu qua tuổi ấy thì thôi hát hò/ Bao giờ đến hội hát dô/ Thì còn phải kiếm gái tơ chưa chồng”…

Mòn mỏi trông chờ
Học hát dô từ năm 11 tuổi, cụ Hạnh cho biết, hát dô cũng không quá khó, mặc dù cụ không biết chữ nhưng được “Cái hát” (tức người đàn ông làm người Cái lĩnh xướng - PV) chỉ dạy bằng truyền khẩu, nên đã thuộc và đam mê từ đó. Cụ tâm sự: “Năm tôi 11 tuổi, tôi học hát dô và được tham gia lễ hội năm ấy (năm 1926). Khi đó nhà tôi đã phải bán 3 sào ruộng để cho chị em tôi đi hát, mẹ tôi đã cõng tôi đến lễ hội. Tôi nhớ người đi xem lễ hội đông lắm, không chỉ các làng, xã bên mà ở cả các tỉnh khác cũng đổ về xem, nô nức...”.


<tbody>
Có một tin vui là Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam vừa công nhận hát dô là “địa chỉ văn hóa dân gian”, và Hội đã phối hợp với Quỹ Ford thực hiện dự án bảo tồn và phát huy hát dô; bà Nguyễn Thị Lan – chủ nhiệm CLB Hát dô xã Liệp Tuyết - được công nhận danh hiệu Nghệ nhân hát dô.


</tbody>

Tuy nhiên cụ cũng buồn rầu cho biết, kể từ bấy đến nay là đã 86 năm mà cụ chưa được chứng kiến thêm hội hát dô một lần nào nữa: “Tôi năm nay đã 97, cái tuổi gần về với ông bà, vẫn cứ mong mỏi từng ngày được một lần gặp lại lễ hội, như thế thì tôi vui mừng và hạnh phúc lắm”. Đem điều băn khoăn của cụ Kiều Thị Hạnh đến ông Kiều Đình Minh - Chủ tịch UBND xã Liệp Tuyết. Ông bảo: “Hát dô vẫn được duy trì đấy chứ! Ở các hội nghị của xã, các cháu vẫn tập luyện, và vẫn biểu diễn từng đợt, như Tết âm lịch chẳng hạn. Tuy nhiên, để tổ chức một lễ hội lớn thì địa phương không làm nổi vì thiếu kinh phí. Phải cấp thành phố mới có lực khôi phục lại lễ hội”. Ông cũng chia sẻ, vì thiếu kinh phí nên xã cũng không thể hỗ trợ cho CLB hát dô của xã, thậm chí cũng không có cả các chế độ cho những người đã có công sưu tầm, lưu giữ và phát triển làn điệu hát dô cổ…

Thanh Hà (Dân Việt)

yuri
22-11-2012, 08:31 AM
Múa trống Sadăm (Sóc Trăng)

Múa trống Sadăm là một điệu múa dân gian độc đáo của đồng bào Khmer, có tính chất vui nhộn được biểu diễn trong các ngày lễ hội như: Tết Chol Chnăm Thmây, Lễ Dolta, Lễ hội Ooc - Om - Boc,….Có khi múa trống Sadăm còn biểu thị sự tinh nghịch, đùa vui của các chàng trai Khmer.


<tbody>
http://www.quehuongonline.vn/Uploads/LibraryImages/(584)avatar.aspx.jpg

</tbody>


Nhạc cụ phục vụ cho tiết mục múa Sadăm thường có từ bốn đến sáu cái trống Sadăm, hai cái Cuôl (chiêng) cùng với Chul (chum chọe) và Krap (gõ sênh).

Khi biểu diễn tiết mục múa này đòi hỏi phải có một cái sân rộng, diễn viên đứng ở bốn góc, trống đeo trước bụng và trống vừa là nhạc cụ đệm, vừa là đạo cụ để múa. Khi bắt đầu diễn, tiếng trống và cồng vang lên dồn dập, liên hồi cùng những điệu bộ rất nhịp nhàng hết quay rồi lại nhảy khá dí dỏm.

Người múa trống điêu luyện có thể đánh trống bằng một bàn tay, hai bàn tay đan chéo nhau, đánh bằng cùi chỏ,... Một số động tác phá cách như người nằm thẳng dưới sàn hai tay vẫn múa trống, hai người múa trống có thể bắt tay đánh chuyền qua trống làm cho điệu múa trống Sadăm thêm phong phú và hấp dẫn. Đặc biệt, với những nghệ nhân có kinh nghiệm lâu năm, có sức khỏe tốt và sự dẻo dai có thể biểu diễn động tác nâng trống Sadăm lên bằng miệng rất chuyên nghiệp.

Múa trống Sadăm giỏi, kỹ thuật cao là phải biết kết hợp khéo léo, hài hòa giữa âm thanh tiết tấu của trống và điệu bộ cơ thể.

Vào những ngày Lễ hội lớn, những đội múa trống Sadăm còn đeo mặt nạ với nhiều gương mặt khác nhau trông rất ngộ nghĩnh và lạ mắt.
Múa trống Sadăm còn có sự kết hợp điêu luyện của những chú khỉ Hanuman với các động tác như cười, lạy, gãi, nhảy, âu yếm,….hòa quyện rất nhịp nhàng với tiếng trống làm cho buổi diễn thêm sinh động và vui nhộn.

Thưởng thức múa trống Sadăm sẽ đem lại cho chúng ta một cảm giác thật hào hứng, sảng khoái, cười không ngớt bởi những trò trêu trọc của các diễn viên múa./.
(Theo Báo Du Lịch)

tomhe
23-11-2012, 09:41 AM
Đặc trưng ngôn ngữ trong “hát nhà tơ - hát cửa đình” Quảng Ninh

Tôi không ngạc nhiên khi nhận ra trong các bài ca “Hát nhà tơ - hát cửa đình” Quảng Ninh có một số bài lẩy ra từ thơ ca cổ điển Việt Nam, chẳng hạn như: “Quân tạo hoá trêu ngươi chi tá/ Đem sắc tài đúc cả vào khuôn/ Hiên thì thấp thoáng trăng tròn/ Gió vàng hiu hắt như khuôn mặt sầu/ Niềm tâm sự thấp cao mọi lẽ/ Tình cảnh này biết kể cùng ai/ Chống tay ngồi nghĩ thở dài/ Bực mình muốn gửi mấy lời phân vân…”. Nhưng tôi lại rất ngạc nhiên vì trong đó có nhiều câu hay mà tôi chưa thấy có trong các tập sưu tầm ca dao đã xuất bản từ nhiều năm trước đây. Tôi rất yêu hình ảnh lão làng ra đình, được viết rất gợi cảm, câu thơ sinh động, sung mãn, đầm ấm mà vẫn ngang tàng: “Người làng đây, phơ phơ đầu bạc/ Bước ra đình con cháu theo sau/ Chiềng làng quan, cụ lão đi đâu/ Già thong thả ra đình nghe hát/ Áo mặc vào, chân đi chữ bát/ Mũ đội đầu, tay lại vẫy ngang...”. Nhiều câu ca ngợi quê hương, sông nước, xóm làng v.v. rất, nhuần nhị, ngôn ngữ là ngôn ngữ mang tính biểu cảm của thi ca: “Chim bay về sườn núi Lục Sơn/ Ve gọi sầu, chim nhạn rủ rê đàn/ Sông lai láng tràn ra cửa bể/ Non lại tạnh, ánh trăng vàng xê xế/ Thuyền đung đưa đủng đỉnh tiếng chày/ Chú tiều phu chở củi chất đám mây…”. Hình ảnh chú tiều phu chất củi như chất đám mây lên xe là rất mới, chưa thấy trong thi ca tương tự về đề tài này. Tôi ngờ là bài ca trên do một nhà nho khá sành thơ cổ điển Trung Hoa sáng tác, bởi cái tiếng chày đủng đỉnh trong ánh trăng xế vàng, có lẽ là thoát thai từ tiếng chày đập vải quen thuộc của thơ Đường, và dù có như thế, không gian của bài thơ vẫn bát ngát, khí hậu vẫn hài hoà, riêng biệt.
<tbody>
http://www.baoquangninh.com.vn/dataimages/201211/original/images654801_Tr6_7.hat_nha_to.jpg


Nghệ nhân dân gian Đặng Thị Tự, ở xã Đầm hà (huyện Đầm Hà), mặc dù đã trên 90 tuổi, nhưng vẫn còn nhớ 39 bài hát nhà tơ, với 746 câu, thuộc 9 giai điệu cổ. Ảnh: NGUYỄN TRUNG HÀ (Sở VH-TT&DL)

</tbody>
Nhiều câu gợi cảm khác: “Chênh bóng nguyệt đầu ghềnh góc núi/ Hiên chờ mây, bướm lượn vai mòn”… Hình ảnh “Chênh bóng nguyệt…”, “hiên chờ mây…” rất hay, là sáng tạo chữ của nhà thơ. Hoặc câu ca rất sinh động: “Trên ngàn gió cuốn rung cây/ Dưới khe cá lượn, chim bay về ngàn...”.Có một số nội dung khác được nói đến nhiều là tình yêu, đi thi đỗ đạt, nỗi niềm nhân thế về sự ăn ở ở đời và thờ phụng bố mẹ tổ tiên. Vì bài viết không nhằm khám phá nội dung mà chỉ tìm hiểu về vẻ đẹp ngôn ngữ của lời ca, nên tôi chỉ xin nói đôi điều về tình yêu trai gái, mà tôi thấy về nghệ thuật ngôn từ có những nét đặc sắc. Tình yêu cũng lắm vẻ: “Yêu nhau yêu vụng, yêu thầm/ Yêu liếc con mắt, yêu cầm cổ tay…”. Câu “yêu liếc con mắt, yêu cầm cổ tay” là rất hay, tinh tế, cho thấy tác giả là một nhà thơ có tài. Cảnh chia tay: “Bước đường từ lúc chia phôi Nhạn nam én bắc, mỗi người một phương”. Hình ảnh nhạn, én thay cho người, làm cho sự chia xa đã được tình cảm hoá, cao sang và sâu sắc. Ngôn ngữ của ca từ như thế là ngôn ngữ thơ có giá trị nghệ thuật.Nhiều câu thể hiện rất rõ bút pháp truyền thống của ca dao đồng bằng Bắc bộ:“Bây giờ sum họp trúc mai/ Xin chàng đừng ở ra hai tấm lòng/ Đừng nghe miệng thế xa xôi/ Đừng thấy vắng mặt mà nguôi tấm lòng…” Có khi ý tứ rất giản dị: “Muốn cho gần bến gần thuyền/ Gần cha, gần mẹ, nhân duyên càng gần”. Có câu hay đến không ngờ: “Bẻ một cành lá cắm đây/ Sang năm thì cứ nẻo này mà sang…”. Sang năm thì cành lá đã khô, và cũng có thể là đã mất rồi, nhưng cái nẻo cắm của lòng người thì tôi chắc suốt đời không quên được. Bất cứ nhà thơ nào, viết được một câu thơ như thế, đều đáng được kính trọng.Lại có câu thắm thiết mà bâng khuâng, ngổn ngang bao nỗi niềm về tương lai, đọc mà nao lòng: “Em thương anh lắm, anh ơi/ Biết rằng lên ngược xuống xuôi đường nào…”. Hoặc: “Loan thương phượng lắm, phượng ơi/ Đang ăn nhớ đến lại rời đũa ra/ Đêm năm canh, em ngủ có ba/ Còn hai canh nữa em ra trông trời…”.Tình yêu trong lòng người phụ nữ thắm thiết đến như thế, cũng cao sang đến như thế, làm tôi vô cùng xúc động. Nếu biết câu này là của cô gái nào, người đàn bà nào, tôi chỉ ao ước một lần được nhìn thấy mặt, mà bày tỏ lòng cảm phục, ngưỡng mộ. Không phải nhà thơ tình nào cũng viết được hai câu ý tứ sâu xa như thế này: “Thương cho đến chiếu đến giường/ Thương cho đến chỗ phòng hương anh nằm”. Nhiều hình ảnh ví von rất hợp lý và có ý nghĩa: “Nếu anh là một con thuyền/ Thì em là gái dáng chuyên đưa đò/ Nếu anh là một cánh diều/ Thì em là gió lựa chiều bay cao…”. Quả thật là “sang vì vợ”, nếu em là gió cho cánh diều anh bay cao…Và như thế, cả không gian và thời gian nghệ thuật đều được làm mờ bằng đặc trưng của nghệ thuật thi ca phương Đông. Đây là điều làm cho những câu ca tiêu biểu của “Hát nhà tơ - hát cửa đình” Quảng Ninh khu biệt với kho tàng ca dao dân ca đồng bằng Bắc bộ của các tỉnh khác. Có đặc điểm này, như tôi đã nói ở trên, đây không phải là lời ca tiếng nói của quảng đại nhân dân, rồi được nhân dân nhuận sắc qua nhiều năm, như hầu hết các câu ca dao được sưu tầm ở nhiều tỉnh thành khác, mà rõ ràng nó là sáng tác ẩn danh của các nhà nho có tài làm thơ…Lời ca trong những câu trên của “Hát nhà thơ - hát cửa đình” Quảng Ninh nằm ở ranh giới giữa ca dao và thơ cổ điển, mang dấu ấn khá rõ của lao động thơ, đó là thơ của nhà thơ đã được dân gian hoá. Tất nhiên không phải câu ca nào trong “Hát nhà tơ - hát cửa đình” Quảng Ninh cũng đều đạt được “đẳng cấp” như vậy, nhưng cũng không ít. Và nó là nét làm nên giá trị của loại hình thi ca này ở Quảng Ninh.
Điền Nam

tomhe
29-11-2012, 08:50 AM
<tbody>
Người Mày phía núi Ku Lôông





Người Mày là một trong những bộ tộc ít người hiện còn lại ở Quảng Bình, cư trú chủ yếu trong 2 xã Trọng Hóa và Dân Hóa thuộc huyện Minh Hóa. Gắn bó với vùng núi rừng và thiên nhiên khắc nghiệt của Quảng Bình từ bao đời nay, người Mày đã xây dựng được những tập quán sinh hoạt văn hóa rất riêng, trong đó có những câu ca điệu hát, lời ru mộc mạc mà đằm thắm, thấm đẫm tình người…


<tbody>
http://sggp.org.vn/dataimages/original/2012/11/images441481_6c.jpg



Người Mày anh em.

</tbody>


Điệu ru mộc mạc
Những người Mày biết hát ru hiện không nhiều. Theo tìm hiểu của chúng tôi, ở trong vùng Lòm thuộc xã Trọng Hóa chỉ còn khoảng mươi người. Một trong những người biết một vài điệu hát ấy là chị Y Phăng. Tôi nghe chị hát ru đứa cháu nhỏ: I…í í í../Lầm lét con/Chớ miệt dút ra/Lế làm lế cư đo/Tế chi ăn/Lầm lét con ơi. Chị hát, còn anh chồng phiên dịch ra tiếng Việt cho chúng tôi: I…í í í…/Ngủ đi con/Cho mẹ đi làm/Lấy cây ngon, lấy quả ngọt/Để cho mình ăn/Ngủ đi con ơi.
Điệu ru con của người Mày dường như được thẩm thấu từ âm điệu của gió, của suối nơi góc rừng nguồn nước. Lời ru là các từ ngữ lắp ghép giản đơn, thật thà như bản chất của đồng bào. Bài hát mà chị Y Phăng hát ru là một trong những bài ru con mà phụ nữ Mày còn ghi nhớ qua truyền khẩu cho nhau từng thế hệ nối tiếp.
Nhưng ru con của người Mày không bất biến ở một bài hay một điệu dân ca như thế. Người phụ nữ Mày, theo lời kể lại, họ có thể nhìn mái nhà để sáng tác ra một bài ru con cho hôm nay, rồi ngày mai họ có thể nhìn cây cối, rừng núi để hát cho con nghe công tích cha ông, hoặc núi rừng quê hương yêu dấu của họ. Chị Y Phăng kể: “Mình nhìn cái gì mình hát cái đó cho con cháu nhỏ nghe. Hôm nay thì nhớ nhưng ngày mai mình quên. Quên nên mình hát cái khác cho con, mình tự sáng tác ra thôi, chỉ biết mần răng nó gần gũi với con mình cho đến khi chúng lớn lên…”.
Chúng tôi nghe một bài hát dài, được phiên âm ngắn gọn và cụ thể về lời ru con gái: Con gái ơi/Bình minh sớm dậy/Nhớ chủi quét nhà/Giã pồi, múc nước/Làm ăn bố mẹ vui/Mệt ơi/Nuôi lợn/Nuôi gà/Trồng sắn/Trồng khoai/Cuốc đất trồng chuối/Mà trồng mía ngọt/Mà trồng lúa thơm/Cho bố được vui/Cho mẹ được nhờ/Con ơi, này con ơi. Ở đồng bào Mày, lời hát ru có lối tự sự và lối hát lãng mạn, tất cả đều được truyền khẩu hàng ngày theo cuộc sống, nó tự thấm vào tâm khảm của mỗi thế hệ.
Không có trường học cho lời hát ru, nhưng trong tâm hồn của mỗi cá thể người Mày đều chứa chan làn điệu mẹ cha truyền lại. Mỗi bản có mỗi cách hát khác nhau, và mỗi người có một giọng ngân khác nhau, nhưng chung lại, âm điệu thì da diết, ngôn từ thì mộc mạc như lời tự sự với lòng mình mong cho con cái lớn khôn.

“Tôi nghèo, có rừng quê tôi giàu có”
Lân la với một số cụ già của người Mày, chúng tôi biết thêm về tình yêu quê hương bản quán của họ qua câu hát rất riêng mà tinh túy; như bài Brú Lòm (Núi rừng Lòm): Núi rừng bản Lòm ta/Giàu có và ấm no/Có song bột, trầm hương/Quê hương mình giàu có/Giặc đến cùng nhau đánh/Cho đến chết mới thôi/Còn một người cũng đánh/Đánh hết giặc mới thôi/Giữ lấy bản rừng của ta/Ơi con cháu ta ơi… Họ tự hào với vùng đất sinh ra họ. Với người ngoài, đó là non cao rừng thẳm, là rừng sâu nước độc, nhưng với bà con người Mày, đó là quê hương và giặc đến thì cùng nhau đánh, “đánh đến chết mới thôi”...
Người Mày ở Lòm còn có một bài hát mà người Khùa, người Sách cũng thuộc làu, bởi nó nói đúng đạo lý của những con người sinh ra và lớn lên nơi núi rừng: Tôi không đi đâu hết/Tôi ở núi rừng cha mẹ đã sinh ra tôi/Núi rừng này cha mẹ đã nuôi tôi/Dễ kiếm ăn con cá con ốc/Củ nâu, củ mát, con ong/Mà nuôi tôi khôn lớn/Tôi không đi đâu hết/Không bỏ núi rừng tôi/Núi rừng tôi dễ kiếm ăn/Dễ kiếm sản vật/Tôi nghèo, có rừng quê tôi giàu/Tôi không tham rừng của họ/Đi rừng của họ khó kiếm ăn/Đất bằng ở không quen/Ốm đau thì không có thuốc men/Không tiền bạc chạy chữa/Tôi ở rừng quê tôi/Ốm đau thì có thuốc men rừng quê tôi/Lấy cỏ dã về xông/Tôi không đi đâu/Tôi ở nơi mẹ cha đã cắt rốn chôn nhau. Bài hát thể hiện tình yêu thương da diết quê hương bản xứ. Người Mày thường hát bài này vào mùa cuối năm lễ tết, bởi khi đó tình cảm của người với đất bản xứ luôn được khơi dậy.
Người Mày còn truyền tụng nhau nhiều lời ca điệu hát khác. Cùng với tập tục và nghi lễ cưới vợ, những làn điệu hát ru của người Mày có thể coi là một gia tài văn hóa độc đáo của một tộc người được sinh ra và lớn lên giữa núi rừng Trường Sơn đại ngàn. Mặc dù đã đi qua chiến tranh, đã ít nhiều bị văn hóa hiện đại xâm nhập… nhưng đến nay bà con người Mày ở Minh Hóa Quảng Bình vẫn còn giữ được bản sắc văn hóa độc đáo ấy.
Nếu có dịp trở lại Trường Sơn huyền thoại, qua địa phận Quảng Bình, du khách hãy dừng chân ở Minh Hóa để biết thêm một tộc người anh em bản địa, dân số tuy chỉ ngàn người có lẻ, nhưng họ có một tư duy triết lý thông minh, một gia tài văn hóa độc đáo rất cần được tìm hiểu và chung tay gìn giữ bảo tồn…

Minh Phong

</tbody>

yuri
30-11-2012, 11:47 AM
<tbody>
Rối hầu thánh độc nhất xứ Bắc có nguy cơ biến mất






Xã Nam Giang, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định từ lâu được mệnh danh là "đất trăm nghề". Nhưng ít ai biết, nơi đây còn lưu giữ được vốn di sản quý báu. Đó là nghệ thuật rối đầu gỗ "Ổi lỗi" chùa Đại Bi, hay còn gọi là hát và múa rối hầu thánh...






Loại hình rối cạn "độc nhất vô nhị"
Chùa Đại Bi được xây dựng từ thời Lý, có tên chữ là Đại Bi Tự. Lễ hội chùa Bi và trò rối cạn Ổi lỗi gắn liền với sự xuất hiện và công lao của Thiền sư Từ Đạo Hạnh. Đây là loại hình rối cạn độc đáo "có một không hai"của xứ Bắc; theo lệ cổ chỉ được diễn một đêm cúng giao thừa và trong dịp lễ hội tại chùa Bi tổ chức vào dịp tháng giêng.
Nghệ nhân Nguyễn Tiến Dũng, cho biết, sự ra đời của rối đầu gỗ gắn với nhiều tích huyền hoặc. Tương truyền, một lần Thiền sư đang đi thuyền dạo trên sông thấy một cái bọc nổi lềnh bềnh, vớt lên xem trong đó có sáu đứa trẻ quái thai. Động lòng trắc ẩn, Thiền sư đem sáu đứa trẻ về chùa nuôi nấng và dạy dỗ . Để tưởng nhớ công lao và đại đức của Thiền sư, nhân dân sáng tạo ra sáu đầu rối.
Hiện nay, ngoài rối Ổi lỗi thì chỉ một số ít nơi còn duy trì được hoạt động múa rối cạn như Định Hóa (Thái Nguyên), Tế Tiêu (Hà Nội). Không đơn thuần như những vùng khác chỉ là hình thức sinh hoạt văn hóa dân gian để giải trí, rối Ổi lỗi chủ yếu được biểu diễn "hầu thánh". Chính vì mang đậm tính chất lễ nghi, thờ cúng nên những hành động và tiến trình của màn múa không thể tự do mà phải tuân theo quy tắc riêng nhất định.


<tbody>
http://nguoicaotuoi.org.vn/Uploaded/baonguoicaotuoi/Nam%202012/VH/vh1149.jpg


Nghệ nhân Đoàn Hữu Sòng kể về sự huyền bí rối hầu thánh.

</tbody>

Từ xưa, dân ở đây quan niệm những đầu rối là "thánh tượng" nên không được phép gọi là “con rối”. Trước khi tổ chức hát rối, phải làm thủ tục tế lễ xin phép rước và đưa thánh tượng từ nơi thờ tự ra nơi biểu diễn. Lễ xin phép chia làm bốn phần: lễ thánh y, lễ rước thánh tượng, lễ tắm tượng và lễ dâng tượng. Chỉ những người có vai vế trong phường hát rối mới được phép rước thánh tượng. Lệ cổ duy trì tất cả các thành viên trong phường đều là nam giới, chia làm hai nhóm: Nhóm cấp trước và nhóm cấp sau. Trong mỗi đêm hội, những nghệ nhân biểu diễn mặc áo dài thâm, quần trắng, đội khăn xếp. Yếu tố làm nên sức sống và linh hồn của lễ hội rối cạn chùa Bi là những đầu rối gỗ, hay còn gọi là "Thập nhị thánh tượng" gồm sáu tượng rối lớn và sáu tượng rối nhỏ, có niên đại hơn 400 năm. Sáu tượng rối lớn cùng cỡ được gọi là sáu "ông Lộng", làm từ gỗ mít khoét rỗng sau đó phủ sơn ta. Trong số những đầu tượng này có đôi tượng "chúa Lộng" mang gương mặt của quan văn, quan võ màu đỏ sẫm, với đường nét thể hiện cho bậc chính nhân quân tử: Hai chòm ria vểnh sang hai bên, mắt nhìn thẳng quắc thước. Ngoài ra còn có đôi "Chàng cát" (hay còn gọi là đôi tượng "Cóc vàng") sơn mặt màu hồng nhạt, mang dáng vẻ thư sinh và lão nông. Còn đôi pho tượng "Tùy trắng" có miệng rộng cười khoáng đạt, da trắng, khuôn mặt rạng rỡ, biểu thị cho sự no đủ, khỏe mạnh. Sáu tượng rối nhỏ hơn bằng gỗ đặc, tượng trưng cho sáu nhân vật: Một tượng Chàng đội mũ lục giác, tượng hai nàng tiên, tượng ông Chớp mặt đỏ, tượng hoàng hậu tai đeo hoa và tượng ông Mách mặt to, dáng dữ tợn.
Nhạc cụ minh họa cho trò hát rối này hầu hết thuộc bộ gõ, đều là những nhạc cụ dân gian đơn giản và được chia làm hai nhóm. Nhóm nhạc biểu diễn theo tiết tấu của điệu múa, lời hát rối bao gồm một trống bản, một trống cơm, một thanh la và thêm một số mõ tre. Còn có nhóm nhạc đế với trống túc, chuông đẩu và một trống cái dùng để cầm canh chuyển làn điệu.
Anh Trần Xuân Bình, một người hơn 20 năm trong phường cho biết: Đứng đầu mỗi thôn là một ông trùm, sẽ là những người diễn mở đầu và kết thúc, hay hát những phần lời khó, mang tính chất "bí truyền". Nội dung của hát rối Ổi lỗi chủ yếu ca ngợi công lao của đức thánh Từ, đất nước thái bình thịnh trị, vua sáng tôi hiền.
Để biểu diễn rối Ổi lỗi, người ta dựng một tấm vải sặc sỡ mắc vào hai cây cột giữa tiền đường trong lòng chùa, tượng trưng cho sóng nước mênh mang. Lúc này sáu "ông Lộng" đã được "mặc áo" (gọi là the) phủ từ cổ tượng trở xuống, đồng thời che tay người điều khiển. Các nghệ nhân sẽ đứng sau tấm màn, biểu diễn sao cho đầu rối hướng về phía bàn thờ Phật và Thiền sư Từ Đạo Hạnh, vì thế nghệ thuật này mới có tên gọi khác là rối "hầu thánh". Những tượng rối đầu gỗ với màu sắc tươi sáng, hình dáng lạ mắt, động tác múa nhịp nhàng của người nghệ nhân hòa quyện cùng lời ca câu hát, đã tạo nên sự đặc sắc của một loại hình biểu diễn độc nhất vô nhị.

Liệu rối hầu thánh “Ổi lỗi” có còn?
Hiện nay phường rối chùa Đại Bi có khoảng gần 50 người, phần lớn đều đã cao tuổi. Cụ Chánh trùm phường Vũ Huy Rính năm nay đã bước sang tuổi 79, còn các bậc "lão làng" như ông Đoàn Hữu Sòng, Cao Công Lân, Nguyễn Tiến Dũng, Đoàn Văn Tiến… cũng đều ngấp nghé "thất thập". Vì không có người kế cận nên nguy cơ mai một là rất gần, chưa nói đến bộ Thập nhị thánh tượng với tuổi thọ hơn 400 năm được bảo quản trong điều kiện chật chội và ẩm thấp bắt đầu bị hư hại. Cùng với thời gian, liệu rối nghệ thuật “Ổi lỗi” hầu thánh có còn?

Anh Phạm


</tbody>

tomhe
08-12-2012, 08:54 AM
"Kéo chày" - lễ hội độc đáo của dân tộc Pà Thẻn 0http://www.vietnamplus.vn/avatar.aspx?ID=176051&at=0&ts=300&lm=634903833936130000









Hà Giang - mảnh đất địa đầu cực Bắc của Tổ quốc hội tụ 22 dân tộc anh em cùngchung sống với sự đa dạng về văn hóa.

Đến với Hà Giang những ngày trung tuần củatháng 10 Âm lịch, du khách sẽ được thưởng thức, đắm mình cùng lễ hội "kéo chày"- một lễ hội độc đáo, nguyên sơ và huyền bí của dân tộc Pà Thẻn.

Dân tộc Pà Thẻn ở Hà Giang hiện có 5.975 người sống tập trung ở các huyệnQuang Bình, Bắc Quang, Xín Mần và Hoàng Su Phì. Khác với dân tộc Mông thườngsinh sống ở trên các triền núi cao, dân tộc Pà Thẻn lại thường sinh sống, cư trúở vùng tương đối thấp. Những năm 90 trở về trước, các hoạt động kinh tế củangười Pả Thẻn chủ yếu mang tính tự cung tự cấp, nguồn thu chính từ nông nghiệpnương rẫy, họ thường du canh du cư. Được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, nhữngnăm gần đây, dân tộc Pà Thẻn bắt đầu định cư ổn định cuộc sống. Rừng núi bạtngàn, đất đai màu mỡ là điều kiện tự nhiên thuận lợi.

Sau những ngày thu hoạch xong vụ lúa mùa, bà con dân tộc Pà Thẻn chọn ngàytốt, thường là ngày 16/10 Âm lịch hàng năm là ngày tổ chức lễ hội "kéo chày."Theo các già làng dân tộc Pà Thẻn ở xã Tân Bắc (huyện Quang Bình), người thầycầm chịch ở lễ hội "kéo chày" rất quan trọng. Người thầy phải là người giỏi vềvõ công, khỏe và phải luyện tập rất công phu, đồng thời phải biết niệm thần chúđể cho chiếc chày được nâng lên khỏi mặt đất mặc dù rất nhiều thanh niên kéochày xuống bằng mọi cách cũng không thể kéo được.

Trước khi vào buổi lễ "kéochày" người thầy dùng một chiếc chày được làm bằng một đoạn gỗ hoặc vầu, cóđường kính khoảng 10 cm, dài từ 2,5-3m. Sau đó, thầy cầm tay vào chiếcchày, xoay đi xoay lại mấy vòng và niệm thần chú.

Cùng đó, hai thanh niên người Pà Thẻn trai tráng, khỏe mạnh ôm chặt chày ở tưthế đối ngược nhau. Vừa xoay chày, người thầy vừa đọc thần chú, sau đó như cómột phép thuật mà không ai có thể diễn tả nổi, chiếc chày khắc tự xoay và nânglên khỏi mặt đất, mặc dù hai thanh niên ra sức kéo xuống cũng không thể kéođược. Lúc này hàng chục thanh niên trai tráng trong bản cùng nhau kéo chày xuốngnhưng cũng không kéo nổi, chỉ khi nào có người bịt tay vào đầu trên hoặc dướicủa chiếc chày thì chiếc chày mới chạm đất, khi đó lễ kéo chày kết thúc.

Ở lễ hội "kéo chày", những chàng trai Pà Thẻn nào tham gia luôn nhận được sựtin yêu, thán phục và ngưỡng mộ của du khách nói chung và các cô gái Pà Thẻn nóiriêng. Với dân tộc Pà Thẻn, lễ hội "kéo chày" là một tục lệ mang tính chất cộngđồng, là dịp để mọi người cùng nhau vui vẻ, thư giãn sau một ngày mùa bội thu.Qua lễ hội họ cầu mong các thần linh phù hộ mưa thuận gió hòa, cho dân bản đượcmùa, đời đời no ấm.Trong lễ hội "kéo chày," các chàng trai Pà Thẻn ai cũng diện áo mới, mặc quầnchân què, trang trí thêm hai chiếc khăn vắt chéo qua ngực và dùng thắt lưng màutrắng. Các cô gái Pà Thẻn lại nổi bật hơn trong bộ trang phục màu đỏ tươi, mộtbộ nữ phục của các cô gái gồm khăn, áo, thắt lưng, váy, tạp dề. Màu chủ đạo trêntrang phục của các cô gái Pà Thẻn là màu đỏ, nhưng có phối màu với các màu sángkhác như màu trắng bằng cách ghép vải hoặc dệt thành đường kẻ sọc.

Nếu chú ý mộtchút, trong trang phục của các cô gái Pà Thẻn, du khách sẽ thấy cách cắt may vàtrang trí áo không giống với bất cứ một kiểu áo nào của dân tộc khác. Với mộthình thức trang trí của áo, kết hợp với những đường thêu và ghép vải khéo léo đãtạo nên cho các cô gái Pà Thẻn một sự độc đáo riêng có. Đến với lễ hội, các côgái Pà Thẻn không chỉ xúng xính đẹp hơn trong bộ quần áo mới mà họ còn đẹp hơnkhi đeo các trang sức bằng bạc gồm vòng cổ, vòng tay và hoa tai.

Mỗi du khách đến với các làng bản của người Pà Thẻn, Hà Giang trong nhữngngày này không chỉ được chứng kiến lễ hội "kéo chày" mà còn được xem lễ hội nhảylửa, xem các hội thi gói bánh dài, bánh xường, bánh ốc; được thưởng thức nhữngmón ăn truyền thống của dân tộc Pà Thèn.

Gìn giữ nguyên vẹn nét văn hóa độc đáo của dân tộc trong cuộc sống của người PàThẻn ở Hà Giang nói chung và lễ hội "kéo chày" nói riêng là một điều rất đángtrân trọng. Với tín ngưỡng tâm linh, lễ hội "kéo chày" truyền thống của dân tộcPà Thẻn là kho tàng văn hóa hết sức phong phú và độc đáo, chứa đựng những giátrị văn hóa tinh thần đậm nét nhân văn. Với kho tàng văn hóa nghệ thuật dân gianvà tri thức địa phương của dân tộc Pà Thẻn ở Hà Giang đã góp phần bảo tồn nềnvăn hóa Pà Thẻn trong nền văn hóa các dân tộc Việt Nam phong phú, tiên tiến, đậmđà bản sắc dân tộc.


Minh Tâm

yuri
08-01-2013, 09:32 AM
Mai Châu (Hoà Bình), xứ sở của những điệu xoè

Múa xoè là hình thức sinh hoạt văn hoá dân gian phát triển mạnh trong các lễ hội của người Thái Mai Châu. Ngoài những đặc điểm chung thì xoè Mai Châu có những nét độc đáo, mang đậm bản sắc riêng của những điệu xoè duyên dáng, chắc khoẻ.


<tbody>
http://www.baotayninh.vn/resources/newsimg/092012/012013/05/datnuoc1.jpg

</tbody>

Xoè có nhiều điệu: Xoè chá, xoè ồng bổng, xoè kiếm, xoè đánh máng… các điệu xoè đều xuất phát từ cuộc sống lao động sản xuất, tập quán sinh hoạt của đồng bào nơi đây. Ví như điệu xoè “ồng bổng” là hình thức múa cổ, động tác đơn giản, mọi người cầm tay nhau nhảy nhót xung quanh đống lửa theo nhịp “hò huậy, hò huây” mừng thắng lợi giòn giã sau một buổi đi săn hoặc xung quanh vò rượu cần trong lễ mừng nhà mới. Đặc điểm của điệu xoè này là trang phục bình thường chỉ có đàn ông xoè, “nhạc” đệm là miệng tự hô, có sự cổ vũ nồng nhiệt của người xem, động tác đơn giản nhưng mạnh mẽ, vui nhộn, phóng khoáng. Còn điệu xoè “đánh máng” lại dành riêng cho nữ giới. Cứ 3 cặp một, mỗi cặp cầm hai chày gõ vào thành máng dùng để giã gạo, tạo ra những tiếng chày chắc giòn, nhịp điệu mỗi lúc một nhanh, mạnh. Bên cạnh đó còn có xoè đơn lẻ, vừa xoè vừa đánh trống đánh chiêng. Vừa xoè vừa đánh máng có 2 người tham dự, nam đánh trống, nữ đánh chiêng, cả hai vận lễ phục, đầu chít khăn, lưng thắt dải lụa màu, tay tung dùi trống lúc mềm mại, khi mạnh mẽ, chân nhún nhảy nhịp nhàng theo tiếng trống, chiêng.
Hiện nay ở bản Lác, bản Pom Coọng có gần 10 đội xoè thường xuyên luyện tập phục vụ đời sống văn hoá tinh thần ở địa phương, góp phần thúc đẩy du lịch văn hoá Mai Châu ngày càng phát triển. Hầu hết các điệu xoè cổ đều đã được cải biên và nâng cao, trở thành các điệu múa hấp dẫn với nhiều động tác, đạo cụ, trang phục và nhạc đệm thu hút người xem. Các đội văn nghệ vừa đáp ứng nhu cầu phục vụ khách du lịch, tăng thêm thu nhập, lại có cơ hội gìn giữ, quảng bá bản sắc văn hoá dân tộc.
Đến với Mai Châu, khi tiếng trống, tiếng chiêng được thăng hoa, bước chân thêm rộn rã thì cũng là lúc những vòng xoè như bông hoa ngũ sắc được mở rộng thêm mãi. Không còn phân biệt già trẻ, gái trai, chẳng kể người Việt Nam hay du khách nước ngoài, tất cả cùng ngất ngây trong vũ điệu đam mê của núi rừng Tây Bắc.
Theo dulichvn

yuri
15-01-2013, 08:27 AM
Múa Cơ tu – vũ điệu từ cuộc sống

Người Cơ tu tự hào về nghệ thuật múa đặc sắc của dân tộc mình. Vũ điệu múa không chỉ là sản phẩm tinh thần trong đời sống văn hóa của đồng bào dân tộc mà còn tích tụ nhiều đặc trưng văn hoá độc đáo của cộng đồng người Cơ tu.

Điệu múa tập thể
Người Cơ tu chủ yếu múa hai điệu tơntúng và dadăq, nên người dân nơi đây khi nhắc đến hai điệu múa này là người ta nghĩ ngay đến múa Cơ tu. Tơntúng là điệu múa của đàn ông; dadăq là điệu múa của phụ nữ. Đây là hai điệu múa tập thể được thể hiện ở tất cả các lễ hội của người Cơ tu và được múa cùng lúc với nhau. Điệu múa này không có bất kỳ sự phân biệt nào, là người già trẻ, trai gái, người lớn, người nhỏ đều được tham gia. Thậm chí những người khách từ nơi khác đến chơi cũng có thể tham gia. Trang phục, trang sức múa cũng chính là trang phục, trang sức của người tham dự lễ hội – đó là những trang phục đầy hoa văn sặc sỡ và những trang sức đẹp đẽ và quý giá nhất của mình. Vậy nên, bất kỳ ai đi tham dự lễ hội đều có thể múa nếu thích. Điều đó cho chúng ta thấy tính cộng đồng, sự đoàn kết, chan hòa của tộc người Cơ tu rất cao.


<tbody>

http://www.quehuongonline.vn/Uploads/LibraryImages/(461)1.jpg


Vũ điệu “dâng trời” của phụ nữ Cơ tu trong ngày hội



</tbody>

Vũ điệu “bám đất, dâng trời”
Động tác của hai điệu múa tơntúng và dadăq có đặc điểm riêng và ấn tượng, “có thể ví như một điệu dân vũ mà cả hình tượng lẫn nhịp điệu là bám đất, dâng trời”. Tức là cả hai điệu múa đôi chân dù di chuyển nhưng đều bám sát đất, hai tay của nữ giơ lên cao như đang dâng lễ vật cho trời. Động tác múa về cơ bản giống nhau, chỉ khác nhau ở giai điệu, nhịp điệu chậm rãi, tha thiết hay rộn rã, dồn dập mà thôi. Vì vậy, khi mới nhìn thoáng qua, múa Cơ tu có vẻ khá đơn điệu, trùng lặp, nhưng thật sự, đó chính là sự kết tinh một nghệ thuật múa với nhiều nét đặc trưng văn hóa riêng và đặc thù.
Nhìn tổng thể, múa Cơ tu tạo thành vòng tròn di chuyển chậm và ngược chiều kim đồng hồ. Nếu là lễ hội ở sân nhà gươl thì lấy cột đâm trâu làm tâm điểm, nếu là lễ hội ở bên trong nhà gươl thì cột chính ở giữa nhà làm tâm điểm. Điệu múa Cơ tu cũng gắn liền với âm nhạc cồng chiêng và trống. Sau khi chiêng, trống nổi lên sẽ tạo nhịp điệu, giai điệu để múa. Hàng con gái thường múa trước rồi mới tới hàng con trai nối tiếp theo sau tạo thành vòng tròn. Nếu đông người, một vòng chật thì họ sẽ tách thành hai vòng tròn cùng nhảy múa, nữ múa vòng trong, nam múa vòng ngoài.
Động tác múa tơntúng hùng dũng, dịch chuyển nhịp nhàng theo tiếng trống chiêng nhịp 2/4 với các đạo cụ của người trai làng giữ đất, giữ rừng, đi săn bắn… Đây là điệu múa của những chàng trai tay cầm kiếm, giáo, khiên với dáng dấp khỏe khoắn, dứt khoát. Đàn ông đóng khố không cầu kì, rườm rà, mà đơn giản, lộ thân hình cường tráng của người con trai núi rừng. Điều đó thể hiện tinh thần thượng võ, sức mạnh của trai làng Cơ tu, không sợ đương đầu với kẻ thù, với thú dữ hay khó khăn nguy hiểm; và còn thể hiện niềm tin yêu cuộc sống, yêu buôn làng.
Điệu múa dadăq của thiếu nữ Cơ tu rất uyển chuyển, nhịp nhàng và độc đáo. Toàn vòng tròn di chuyển chậm, từ trái sang phải, còn từng người thì chân nhún nhẹ nhàng tự quay vòng tròn quanh mình từ phải sang trái. Múa dadăq “thể hiện nét đẹp của người con gái miền sơn cước, yêu thiên nhiên và yêu cuộc sống”.
Vũ điệu của phụ nữ Cơ tu làm cho chúng ta liên tưởng đến hình tượng người phụ nữ đang dâng hiến lễ vật cho Giàng, đang cầu xin Giàng. Chính vì vậy, có nhiều ý kiến cho đây là điệu múa thiêng, là “hương đất dâng trời”, hay như hình tượng đôi sừng trên đầu trâu - biểu tượng hiến tế của người Cơ tu… Người ta cũng đã tìm được nhiều hình vẽ tương tự động tác múa dadăq trên vách đá các hang động của người tiền sử ở Thái Lan, Trung Quốc... Vì vậy, theo các nhà nghiên cứu, điệu múa dadăq “bắt nguồn từ những động tác dâng lễ vật từ thời xa xưa. Lễ vật được nâng trên tay là xôi, thịt, hoa, trái… Với nét đặc trưng của vũ điệu là hai tay đưa lên trên trời nên các nhà nghiên cứu gọi là vũ điệu dâng trời”.


<tbody>

http://www.quehuongonline.vn/Uploads/LibraryImages/(276)2.jpg


Cột đâm trâu là tâm điểm của vòng múa Cơ tu



</tbody>

Mang hơi thở cuộc sống và tâm linh
Trong lễ đâm trâu (những lễ hội lớn của người Cơ tu như lễ hội được mùa, lễ hội mừng lúa mới, lễ hội mừng nhà gươl… thường có lễ đâm trâu), múa được duy trì thường xuyên trong buổi lễ. Người Cơ tu cư trú ở vùng miền núi khắc nghiệt, địa hình hiểm trở, trong cuộc sống mưu sinh của họ còn phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên. Tâm linh của họ tin rằng thần đất, thần sông, thần suối cho họ cái ăn từ đất rừng, đất rẫy, từ con nước… Giàng cho họ suy nghĩ, niềm tin để vượt qua khó khăn, sống gần gũi với gió núi, với cây rừng. Vì vậy, qua rất nhiều thế hệ, họ đã hun đúc, sáng tạo nên một điệu dân vũ mang đậm hơi thở cuộc sống và tâm linh. Trong vũ điệu ấy chúng ta thấy có cảnh những trai làng khỏe mạnh tay cầm giáo mác giữ đất, giữ rừng, đi săn bắn, có cảnh hiến tế với hàng đoàn người phụ nữ tay dâng lễ vật lên Giàng, thần đất, thần sông để cầu mưa, cầu ban cho cái ăn, cái mặc…
Vũ điệu Cơ tu tích tụ rất nhiều đặc trưng văn hóa của cộng đồng người nơi đây. Nó đã thể hiện được vẻ đẹp của nghệ thuật tạo hình, của âm nhạc, của hình thể, của trang phục…, nó còn giúp ta hiểu được tâm tư, tình cảm và ước mong cuộc sống ấm no, hạnh phúc của họ. Vũ điệu giúp họ thêm gắn bó, yêu thương nhau, bản làng thêm đoàn kết, gần gũi với thiên nhiên và thêm tin yêu cuộc sống. Người Cơ tu có quyền tự hào về nghệ thuật múa đặc sắc của mình. Điệu múa là sản phẩm tinh thần không thể thiếu trong đời sống văn hóa của họ, nó tiêu biểu cho cội nguồn văn hoá độc đáo của dân tộc Cơ tu.

Vũ Đình Anh (LangVietOnline)

yuri
28-01-2013, 09:15 AM
Gìn giữ hát ống

Tưởng chỉ còn là ký ức của những bậc cao niên trong làng, nhưng không ai ngờ hát ví, hát ống lại sống lại ở miền quê Liên Chung, Tân Yên, Bắc Giang. Những ngày lễ hội hay cấy cày, trên cánh đồng hay giữa sân đình, lời ca tiếng hát mộc mạc, dân dã vẫn được cất lên chứng tỏ sức sống của nghệ thuật dân gian.


http://www.baodulich.net.vn/Uploaded/haunguyen/anh2.1.jpg


Hồi sinh

Đi về xã Liên Chung, nghe người dân trong thôn ngoài làng kể chuyện, chúng tôi mới biết hát ống, hát ví là niềm tự hào của làng quê yên bình này. Không ai biết được lối hát này đã tồn tại được bao nhiêu lâu, nhưng theo trí nhớ dân gian thì cũng phải đến hàng trăm năm, đã từng nức tiếng xa gần. Người đàn ông trung niên chỉ đường cho chúng tôi còn hào hứng cất lời: ‘‘Hỡi cô thắt cái bao xanh/ Có về Làng Hậu quê anh thì về/ Làng Hậu có gốc cây đề/ Có sông tắm mát có nghề làm ăn”. Lời ca mộc mạc, không gian khoáng đạt, lời hát cất lên tự nhiên làm sống lại không khí những buổi sinh hoạt dân gian ở nông thôn xưa là tinh thần của hát ống, hát ví. Hát ví là lối hát đối đáp, giao duyên giữa hai bên nam, nữ. Lời hát thường là những bài lục bát dân dã và đi vào lòng người, dễ nhớ, dễ thuộc, được cất lên tự nhiên trong khung cảnh làm đồng, trong những ngày nông nhàn hay lễ hội của làng xã. Hát ống vẫn dùng ca từ và giai điệu của hát ví, lối đối đáp của hát ví, chỉ khác là đôi bên sử dụng những chiếc ống tre nối với nhau bằng những sợi dây mảnh khi hát để truyền âm. Ống ở đây là hai chiếc ống bằng tre thông hai hai đầu, có đường kính khoảng 10cm, dài khoảng 20cm. Hai ống được liên kết với nhau bởi một sợi dây tơ tằm buộc vào hai chiếc kim khâu. Một đầu ống tre được bịt bằng da ếch. Khi hát, các màng da ếch rung lên, truyền tới người nghe âm thanh ấm và dịu hơn. Theo ông Nguyễn Vân Đài, người có công khôi phục lại lối hát ví, hát ống tại địa phương, các cụ xưa làm ống hát bằng tre ngà, nhưng cũng có thể dân dã với những nguyên liệu tự nhiên vốn rất sẵn ở các vùng quê như ống tre hoặc nứa. Khi bên này dùng ống loa để hát thì bên kia đặt ống nghe lên tai để nghe và đổi ngược lại. Hát ống, hát ví có thể diễn ra ngay trong những buổi cấy cày, tát nước, người ta cất tiếng hát, lời trêu đùa để tìm kiếm niềm vui, xua tan đi mệt nhọc. Chỉ cần vài người có thể trở thành một cuộc hát.

“Duyên đâu vướng sợi tơ hồng”

Sinh ra ở nông thôn, hát ống, hát ví được nuôi dưỡng trong sự khoáng đạt của thiên nhiên và những người dân lao động lạc quan, yêu đời. Người dân quê muốn giao lưu, làm quen đều dùng dến hát ví. Hát ví còn được dùng để hát mời trầu, giao duyên, để giao lưu với khách xa gần. Những cuộc ví như thế là ví đơn, ví lẻ. Còn những cuộc hát kéo dài là những cuộc vào dịp lễ hội, ngày nông vụ chí kỳ, trong đám cưới hay khi có việc làng. Đặc biệt hơn cả, những buổi hát ví, hát ống còn bắc cầu cho nam thanh nữ tú tìm hiểu nhau, không ít người nên duyên vợ chồng. Trai gái muốn tìm hiểu nhau, họ lại tự tổ chức lên các cuộc hát ống. Theo những người lớn tuổi trong làng, không phải ngẫu nhiên mà họ phải dùng đến hát ống. Có thể để cho đôi bên vừa quen, còn e ngại chưa dám đối diện nhau dùng đôi ống tre nối bằng sợi chỉ tơ là để bắc cầu nói lên tiếng lòng mình. Cũng có khi vì quan niệm nam nữ “bất tương thân” nên phải dùng sợi tơ như thước đo, để không ai vì quá si mê tiếng hát mà làm trái với quan niệm ấy. Trong trí nhớ của nhiều người, những ngày hội làng xưa, thanh niên đến hát ống, hát ví rất đông. Sự hấp dẫn của loại hình này còn bởi tùy hoàn cảnh, tùy hứng thú mà người hát còn có thể thêm bớt từ ngữ, biến đổi sao cho linh hoạt dựa trên những câu hát cổ, hoặc là sáng tác thêm để cho buổi hát thêm sinh động. Vì thế, buổi hát ống, hát ví trở thành nơi hò hẹn, tâm tình, có khi hai bên hát những câu bông đùa, trêu chọc nhau. Những lời hát thông minh, dí dỏm đã bắc cầu cho những mối quan hệ lâu dài và thân thiết hơn. Vậy mà sợi tơ mỏng manh ấy lại thành sợi nhớ, sợi thương, thành tơ hồng kết duyên cho bao nhiêu người: ‘‘Nếu ai đã nói thật lòng/ Thời anh chẳng dấu kẻo lòng hoài nghi/ Bờ đê đường cũng dễ đi/ Về thôn Liên Bộ nhà thì gần sông/ Duyên đâu vướng sợi tơ hồng/ Thành ra tri kỷ mặn nồng cũng nên”.
Cuộc sống hiện đại với nhiều thay đổi đã từng khiến loại hình văn nghệ dân gian này mai một và gần như biến mất trong đời sống cộng đồng. Nhưng những người trong CLB hát ống xã Liên Chung vì mong muốn gìn giữ văn hóa truyền thống của quê hương đã cất công sưu tầm lại lời hát ví của các bậc cao niên trong làng, mời người già truyền dạy cho thế hệ trẻ để gìn giữ cho đời sau.
Nguyễn Thảo

gau meo
19-02-2013, 08:44 AM
Trò cổ Xuân Phả - Một di sản văn hóa quý xứ Thanh

Trò Xuân Phả là một trong ba di sản văn hóa, văn nghệ quý của xứ Thanh cùng với tổ khúc hò sông Mã và tổ khúc dân ca Đông Anh. Nếu hò sông Mã hay dân ca Đông Anh thể hiện lối sinh hoạt thường ngày của nhân dân thì trò Xuân Phả thể hiện lối sinh hoạt cung đình, mang đậm tính ngoại giao.

Trò Xuân Phả được lưu truyền qua nhiều thế hệ và có đời sống riêng trong tâm thức người dân. Hàng năm, trò được tổ chức vào ngày 10/2 âm lịch tại làng Xuân Phả, xã Xuân Trường, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa.

Truyền thuyết trò cổ Xuân Phả
Truyền thuyết kể rằng, vào thời nhà Đinh, khi đất nước có giặc ngoại xâm, nhà vua cho sứ giả đi khắp nơi cầu bách linh, bách tính và hiền tài cùng đứng lên đánh giặc cứu nước.
Khi quan quân đi đến bờ sông Chu, gần làng Xuân Phả thì trời tối và gặp mưa to, gió lớn. Sứ thần cùng đoàn tùy tùng phải trú ngụ trong ngôi miếu nhỏ ở ven sông. Đêm đến, thần Thành hoàng làng Xuân Phả báo mộng bày cách đánh giặc.
Sứ giả trong lòng vô cùng phấn khởi, vội quay về kinh đô đem chuyện báo mộng tâu với nhà vua. Nghe có lý, nhà vua lập tức thân hành cùng quan quân lên đường.
Khi gặp giặc, nhà vua đã làm đúng như lời dặn của vị Thành hoàng làng. Quả nhiên lũ giặc biển bị tiêu diệt phần lớn, số còn lại hốt hoảng chèo thuyền trốn chạy, nhà vua chiến thắng trở về.
Đất nước trở lại yên bình, nhà vua mở hội mừng công. Trong ngày hội, các nước lân bang đã đến dự, vừa tỏ lòng khâm phục vua nước Đại Việt, vừa tỏ mối giao bang hòa hảo.
Đặc biệt, các nước chư hầu, các bộ tộc đã mang theo nhiều điệu múa, hát đặc sắc của dân tộc mình như “Chiêm Thành đồ tiến cống,” “Ai Lao đồ tiến cống,” “Hoa Lang đồ tiến cống”...
Nhớ ơn vị Thành hoàng làng Xuân Phả có công lớn với đất nước, nhà vua đã ban đạo sắc phong hiệu cho Thành hoàng làng Xuân Phả là “Đại Hải Long Vương Hoàng Lang tướng quân” và truyền cho dân làng Xuân Phả lập đền thờ đồng thời ban thưởng những điệu múa hát hay nhất, đẹp nhất cho dân làng, đó là năm điệu trò cổ Chiêm Thành, Ai Lao, Ngô Quốc, Hoa Lang và Lục Hồn Nhung (còn gọi là Tú Huần).
Từ đời này qua đời khác, hằng năm người dân làng Xuân Phả vẫn tổ chức lễ hội trò Xuân Phả để tưởng nhớ công đức của Thành hoàng làng.


<tbody>

http://www.quehuongonline.vn/Uploads/LibraryImages/(649)avatar.aspx.jpg


Một tiết mục đặc sắc của trò Xuân Phả. (Nguồn: Báo Tuổi trẻ)



</tbody>


Vài nét về năm trò cổ Xuân Phả
- Trò Hoa Lang: là trò múa hát, mô phỏng người nước Hoa Lang (Hà Lan) đến tiến cống vua Đại Việt.
Trò Hoa Lang gồm có 17 người trong các vai nhân vật chúa ông, mế nàng, lính hầu, quân, người điều khiển kỳ lân. Đạo cụ là quạt giấy hoa, cây siên đao, cây bai chèo, hai con ngựa, roi ngựa, cờ lụa màu đỏ, cờ lẹm màu trắng, 1 con kỳ lân, túi vải hoa.
Trang phục của người múa là áo dài năm thân màu xanh nước biển có trang trí hoa văn các loại phù hợp với các nhân vật. Riêng áo của chúa ông có rồng vàng trước ngực, đuôi rồng vắt qua vai kéo về sau áo, gấu áo có sóng gợn màu vàng kim tuyến...
Dẫn đầu trò Hoa Lang là điệu múa kỳ lân, sau là chúa ông cùng đội quân và tiếp đó là hai lính hầu cưỡi ngựa khi đi nước kiệu, khi đi nước đại. Những điệu trò như phi ngựa, múa đấu roi, múa kéo quạt, múa siên đao, múa phất cờ, múa cờ lẹm, được kết hợp khéo léo theo nhịp trống chiêng và đàn bát âm, cùng những lời hát cất lên với những động tác chèo thuyền nhịp nhàng.
- Trò Ai Lao: là trò mô phỏng người nước Ai Lao (Lào) sang tiến cống vua Đại Việt.
Trò Ai Lao không có lời ca mà chỉ sử dụng động tác múa và âm nhạc thể hiện nội dung. Nhân vật của trò có chúa ông, lính hầu, mái nàng, quân, người đội lốt hổ, đội lốt voi.
Đạo cụ là chiếc cáng để cáng chúa, 10 đôi sênh, lốt hổ, lốt voi, cây súng kíp, búa điều khiển voi, cờ đuôi nheo. Trang phục nhân vật chúa mặc áo thụng màu xanh, nẹp xanh thẫm, ngực áo có mặt nguyệt và đôi rồng chầu, quần dài trắng, thắt lưng bằng lụa màu đỏ, đội mũ cánh chuồn đen...
Dẫn đầu trò Ai Lao là đoàn voi bước đi thong thả, đoàn hổ xông xáo nhảy nơi này, nơi khác và sau là chúa ông cùng quân lính. Những điệu trò được diễn nhịp nhàng theo tiếng trống, tiếng mõ, tiếng sênh.
- Trò Chiêm Thành: là trò mô phỏng người Chiêm Thành sang cống tiến vua Đại Việt. Nhân vật trò Chiêm thành là chúa, mế nàng, phỗng, quân. Trang phục màu đỏ.
Dẫn đầu trò là hai phỗng đi hàng đôi, vừa đi vừa hát, theo sau là chúa và các quân. Những điệu trò trình diễn theo nhịp trống rung lên.
- Trò Tú Huần: còn gọi là “Lục Hồn Nhung” được mô phỏng tộc người Tú Huần sống ở miền núi phía Bắc đến cống tiến. Đặc biệt trò Tú Huần được lưu truyền rộng rãi hơn các trò khác.
Đoàn trò Tú Huần mặc quần áo màu xanh nước biển, từ bà già đến đàn con đều đeo mặt nạ bằng gỗ. Khi tiếng mõ nổi lên thì những điệu trò bắt đầu trình diễn, người hầu dìu cố già thong thả nhún nhảy, người hầu làm động tác lúc thì quạt, lúc thì giã trầu.
Người mẹ gõ sênh nhảy ra và hú lên một tiếng tức thì đàn con cũng ra trình diễn. Trong trò sử dụng những điệu nhảy chân cóc, có lúc lại ngồi xổm nhảy cóc lùi xa, tiến gần.
- Trò Ngô Quốc: là mô phỏng người Trung Quốc sang cống tiến. Nhân vật là chúa Ngô, mế nàng, lính, nàng tiên, quân, ngoài ra còn có thầy thuốc, thầy địa lý, người bán kẹo.
Dẫn đầu đoàn trò là thầy địa lý tay cầm la bàn để xem hướng nhà, xem đất. Thầy thuốc tay cầm dao cầu, vừa đi vừa tìm người kê đơn bắt mạch. Người bán kẹo rao hàng ý ới...
Khi trống rung lên, những nàng tiên nhịp nhàng vỗ cánh ra trình diễn rồi cúi chào Thành hoàng. Chúa và quân cũng tiến ra diễn trò theo nhịp trống nổi lên. Lúc thì múa siên đao, lúc thì chèo thuyền và hát theo nhịp trống. Cứ như vậy vừa chèo vừa hát vừa múa cho đến hết lời ca, thì cũng là lúc điệu trò kết thúc.
Những điệu múa của trò Xuân Phả vừa vui, mạnh nhưng không kém phần trữ tình. Trò Xuân Phả sử dụng nhiều đạo cụ và mỗi đạo cụ có một hình tượng riêng.
Những động tác khi múa lúc uyển chuyển, nhịp nhàng khi lại mạnh mẽ tạo nên cao trào, đem đến cho khán giả một cảm giác hết sức rộn ràng, đứng ngồi không yên.
Cho đến nay, vẫn chưa có một nghiên cứu quy mô nào, nhưng một số nhà văn hóa dân gian khi tìm hiểu về các điệu múa trong trò Xuân Phả đều khẳng định đây là những điệu múa mang tính liên tục, như một vở diễn có năm lớp tương đương với năm trò diễn và mang đậm chất của người Việt cổ.

Hoài Nam (TTXVN)

tomhe
14-03-2013, 10:08 AM
Dậm Thuông - điệu nhảy kì ảo của dân tộc Tày

Thời gian gần đây, các màn nhảy tập thể, nhảy đường phố (flatmost) được những người trẻ (quốc tế và trong nước) du nhập vào Việt Nam đã ngày càng trở nên thịnh hành. Ít ai biết rằng, ở nơi thâm sơn cùng cốc, giữa sự trùng điệp của núi rừng Tây Bắc, một điệu nhảy tập thể như thế đã tồn tại hàng trăm năm nay. Và, nó được gọi với một cái tên dân gian là tục Dậm Thuông, của đồng bào dân tộc Tày ở xã Thượng Bằng La, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái.Điệu nhảy của thần linh?

Chuyện xưa kể lại rằng, xa xưa, từ thuở núi rừng còn hoang sơ, con người chưa biết làm ruộng, chưa biết nuôi lợn nuôi gà, các vị thần linh thường bay từ trên trời xuống cùng dân bản cuốc đất làm ruộng, dạy con người các nghi lễ ăn, ở. Về sau thần linh bay về trời, không xuống nữa, từ đó cứ vào các dịp quan trọng như ma chay, cưới hỏi hoặc các dịp lễ hội, dân bản lại tổ chức nhảy gọi là Dậm Thuông để mời các vị thần linh xuống cùng nhảy múa. Người dân nhảy múa như thể là hình thức mời thần linh chứng giám cho nghi lễ, vừa là để cảm tạ các vị thần linh và cầu xin sự no ấm, may mắn cho một năm mới an lành, một mùa canh tác bội thu.Dậm Thuông, trước hết là một nghi lễ, bởi nó thường được tổ chức trước điện thờ thần linh hoặc bàn thờ tổ tiên. Sau khi "bà mo" (thầy cúng) kết thúc phần cúng, ba đến bảy người được "bà mo" chọn sẽ tham gia Dậm Thuông cùng với "bà mo". Dậm Thuông có sáu điệu gồm Dậm Khăn, Dậm Chèo Thuyền, Dậm Tính, Dậm Quạt, Quét Sân Rồng, Dậm Téo Kéo. Mỗi một điệu dậm là một bài hát khác nhau với các loại nhạc cụ khác nhau như đàn tính; một loại nhạc cụ làm từ nhiều quả lục lạc nhỏ kết lại cộng với âm thanh của các loại bát, đĩa, xoong, nồi.Các dụng cụ đi kèm mỗi điệu nhảy cũng không giống nhau và quy định khá nghiêm ngặt, ngoài quạt, khăn, khi thực hiện điệu nhảy, người ta còn sử dụng cả kiếm gỗ, chân hương, đèn. Tùy từng hoàn cảnh khác nhau mà sử dụng một phần hoặc toàn bộ sáu điệu nhảy trong "bữa tiệc" nhảy của sự kiện đó. Điều làm cho Dậm Thuông trở thành thứ nghi lễ mang đầy màu sắc kì ảo của tâm linh là nó có thể khiến cho mọi người xung quanh cùng tham gia, cùng nhảy múa với trạng thái háo hức giống như trong trạng thái lên đồng, như một thứ men say chứa đựng sự hoang dã, bí ẩn của núi rừng. Theo nhịp của tiếng hát then, tiếng đàn trong ánh sáng của đèn nến, khói hương, từng điệu nhảy cứ thế diễn ra tuần tự, khi uyển chuyển khoan thai, khi mạnh mẽ, dồn dập và đỉnh điểm là ở điệu dậm cuối cùng Dậm Téo Kéo, những người tham gia sẽ nhảy như bị nhập đồng - đó là lúc thần linh và con người hòa làm một, mọi mong muốn, ước nguyện của con người đã được thần linh chứng dám.
http://xmedia.nguoiduatin.vn/2013/03/11/85a9428f86aade596023f9596fb1f39f-1.jpgĐây là một trong sáu điệu nhảy của Dậm Thuông.
Chứng thực cho điều kì lạ này, nghệ nhân hát then, "bà mo" Hà Thị Luật, 83 tuổi ở xã Thượng Bằng La cho biết: "Những người tham gia Dậm Thuông sẽ cứ thế nhảy mãi cho đến khi trong người có người có cảm giác lâng lâng, nhảy không còn biết mệt, không còn ngượng ngịu. Nhảy say tới mức, âm nhạc và động tác hòa làm một. "Bà mo" Luật còn cho biết thêm rằng, có một số dân tộc cũng có kiểu nhảy như bị ai đó điều khiển như điệu nhảy lửa của người Pà Thẻn. Tìm hiểu thêm, được biết nhảy lửa là nghi lễ nhảy truyền thống của dân tộc Pà Thẻn vào đầu năm mới. Tham gia nhảy là các chàng trai trẻ, trong tiếng khấn, tiếng gõ của thầy cúng, các chàng trai từng người một sẽ bỗng dưng đứng bật dậy cứ thế chân trần nhảy qua, nhảy lại trên một đống lửa to đang cháy bừng bừng, hơi than đỏ rực, thậm chí họ còn bới tro tàn lửa bay lên người để được may mắn mà không hề hấn gì. Giống như nhảy lửa, Dậm Thuông có lẽ cũng là một nghi lễ đầy bí ẩn, chứa đựng trong đó những hoang dã, kì diệu của núi rừng.Vũ điệu của cộng đồng Tuy nhiên, theo bà Luật, Dậm Thuông không chỉ là một nghi lễ đơn thuần. Không giống nhảy lửa, người nhảy nhảy một cách hoàn toàn tự nhiên, tự phát giống như chơi một trò chơi trong trạng thái không tỉnh táo. Dậm Thuông phải qua quá trình tập luyện với nhiều động tác bài bản và khi đạt đến đỉnh điểm, dù người nhảy không còn ở thực tại nhưng động tác càng uyển chuyển, khéo léo, phối hợp với nhau càng nhịp nhàng, ăn khớp hơn. Từ một nghi lễ hoang sơ, Dậm Thuông trở thành một hoạt động mang giá trị cao về nghệ thuật và văn hóa cộng đồng. Thông thường, Dậm Thuông được tổ chức trên nhà sàn với từ ba đến bảy người. Nhà nào tổ chức đám cưới, có Dậm Thưông là dân bản đến đứng chật cả nhà, tràn ra cả ngoài đường. Nhưng có lẽ vui nhất là khi dân bản mở hội Caau Loog Toong (lễ hội xuống đồng) vào tháng 1 Âm lịch, sau dịp Tết Nguyên đán. Dân bản sẽ tổ chức Dậm Thuông nhiều người. Màn đại Dậm này có từ 300 đến 500 người tham gia và không giới hạn người cho đến cuối buổi dậm. Người già kể rằng trước đây, khi tổ chức nhảy nhiều người, cả bản sẽ kéo nhau đi xem không thiếu một ai từ người già đến trẻ nhỏ và cả người từ vùng khác cũng rủ nhau đến.Ban đầu, đội nhảy hàng trăm người trong trang phục truyền thống của người Tày sẽ xếp thành một đội ở chính giữa, sau khi thầy cúng kết thúc phần lễ khấn, tiếng nhạc, tiếng hát nổi lên, cả trăm người này sẽ cùng nhau Dậm Thuông. Trong Dậm, nhiều người thường sử dụng điệu Dậm Quạt, Dậm Khăn và Dậm Téo Kéo. Lúc đầu là dậm theo từng nhóm nhỏ, các nhóm nhỏ làm thành những vòng tròn nhỏ rồi các vòng tròn nhỏ hợp thành vòng tròn lớn và đến điệu Dậm Téo Kéo thì vòng tròn cứ mở rộng mãi ra cho đến lúc tất cả mọi người lúc đầu chỉ đứng xem cũng đều say theo từng bước nhảy. Việc này biểu hiện cho sự hòa hợp, chung sống lẫn nhau trong cộng đồng người Tày ở Tây Bắc. Vẫn những động tác cần sự chính xác, khéo léo, phối hợp giữa tay chân nhịp nhàng, một điều mà không phải ai mới bắt đầu cũng làm được. Nhưng không hiểu bằng cách nào đó, Dậm Thuông mặc dù có rất nhiều động tác phức tạp, nhịp điệu lúc nhanh lúc chậm nhưng nó vẫn thu hút được tất cả mọi người cùng tham gia, cùng nhảy cho đến khi tất cả cứ thế quay tròn trở thành một khối thống nhất. Lúc này, người nhảy sẽ trở nên say như bị thôi miên, cảm thấy tiếng đàn tính tẩu, tiếng then réo rắt như từ cõi nào đó vọng về.Bà Luật giải thích: Với nhiều điệu nhảy phức tạp như thế, nhiều dân tộc chỉ nhảy một người hoặc nhiều lắm là năm đến mười người như như múa khèn của người Mông, múa sạp của người Mường. Để trở thành một điệu nhảy cộng đồng, nhiều người có thể nhảy được thì xòe Thái từ đầu đến cuối, chỉ có duy nhất một điệu nhún, mọi người chỉ cần nắm tay nối vào vòng là có thể tham gia. Dậm Thuông có thể nhảy tập thể bởi nó là bài nhảy có kết cấu chặt chẽ, được kể tuần tự như một câu chuyện. Các động tác được cách điệu hóa cao, đẹp mắt nhưng vẫn nhận ra là các động tác lao động, làm việc trong cuộc sống hàng ngày. Với tiếng then có nhịp nên mặc dù nhiều động tác phức tạp, điệu nhảy này vẫn nhanh chóng được tất cả người dân nhận ra quy luật, đặc biệt khi dồn lên đỉnh điểm ở Dậm Téo Kéo, người tham gia nhảy cảm nhận được sự say mê, hào hứng nên điệu nhảy rất hòa nhịp, rất đều nhau như thể họ đã từng tập luyện lâu ngày trước đó.Được biết, qua hai cuộc chiến tranh ác liệt và những năm đời sống khó khăn, tục Dậm Thuông và lễ hội Caau Loog Tong của người dân tộc Tày đã bị mai một. Thời gian gần đây, do xã hội phát triển, đời sống người dân được nâng cao nên ý thức về cội nguồn văn hóa dân tộc đã chuyển biến rõ rệt. Người ta đã nhận thấy, đó là nét đẹp văn hóa cần gìn giữ và phát triển. Năm 2008 chính quyền và nhân dân xã Thượng Bằng La đã khôi phục lại lễ hội Caau Loog Toog và điệu nhảy Dậm Thuông. Từ đó đến nay cứ hai năm lễ hội được tổ chức một lần, thu hút đông đảo bà con nhiều thế hệ, nhiều thành phần dân tộc tham gia.
Phương Thảo (Nguoiduatin)

sứa
16-03-2013, 10:01 AM
Sơn nữ với nhịp chiêng Jhô và vòng xoang cổTrong khi ở nhiều nơi đang có hiện tượng lớp trẻ phai nhạt với văn hóa truyền thống thì ở những buôn làng người Êđê, M’nông trên cao nguyên Dak Lak, nhịp chiêng Jhô và vòng xoang cổ mà nhiều cô gái tuổi còn rất trẻ ở Buôn Trấp và Ea Tul tiếp tục kế thừa, nắm giữ đã nối dài những ước mơ, khát vọng bao đời của dân tộc họ…Tiếp tục thăng hoaMỗi khi được xem họ diễn tấu, tôi đều cảm nhận được một điều: những giá trị âm nhạc ấy đích thực là những “viên ngọc” được những cô gái xinh đẹp bên dòng sông Krông Ana này lưu giữ và không ngừng làm sáng lên vốn văn hóa độc đáo của tổ tiên, ông bà họ để lại. Cũng như các Amí ngày xưa, sáu cái chiêng trong tay sáu cô gái trẻ bây giờ vẫn thế, vẫn đang ngân lên trong không gian bình dị để chào đón người đi xa trở về, mừng và tiễn người nơi khác đến, hoặc để làm lễ thổi tai và đặt tên cho con… Vậy mà sao có sức lôi cuốn đến lạ kỳ!

http://langvietonline.vn/ImageHandler.ashx?ThumbnailID=113498


Truyền dạy chiêng Jhô cho thiếu nữ buôn Trấp (Krông Ana).


Sáu đôi chân nhún nhảy cùng những đôi tay đầy ma mị đã hợp lại thành đội chiêng trẻ diễn tấu những cung bậc tình cảm sâu lắng và đầy tha thiết, dẫn dụ người nghe bằng một thứ âm thanh vô cùng huyền hoặc. “Tờng proòng-tờng proòng/ tờng prênh - tờng proòng…”- điệu chiêng phải hòa hợp mới hay, nhịp trống đánh làm nền cho đúng mới khiến người nghe nhận ra cái độc đáo của dàn chiêng Jhô-Buôn Trấp - bà H’Riu - mẹ của cô gái H’Dhao diễn giải cho cả nhóm hiểu ra sau mỗi lần tập luyện. Đến nay, sau mấy năm được các bà, các mí truyền thụ và chỉ bảo tận tình, cả nhóm đã diễn tấu nhuần nhuyễn không thua kém gì thế hệ trước. Cũng từ niềm đam mê ấy, những cô gái trẻ ở đây đã thuộc nằm lòng những bài chiêng cổ và những điệu chiêng truyền thống của người Êđê Bing sinh sống dọc dài bên dòng sông Mẹ. Vừa diễn tấu, H’Rút và H’Liu vừa giới thiệu cho tôi nghe về những bài chiêng rất đổi thân thuộc và gần gũi của dân tộc mình: Này là bài “Drôk tue-Đón khách”, “Hohoh-Mừng sức khỏe”, “Wăk weih-Mừng lúa mới”… mà họ đã học thuộc làu từ lúc tuổi mười hai, mười ba. Những cô gái này nói rằng dàn chiêng nữ ở đây không giống với tiếng chiêng của những người đàn ông bản xứ: dũng mãnh và trầm hùng, rộn ràng và khoáng đạt, còn nhịp chiêng Jhô có không gian riêng của nó - là mái ấm gia đình gắn với những buồn vui trong đời sống sinh hoạt của mọi nhà. Sự độc đáo của dàn chiêng Jhô - Buôn Trấp là rất ít khi tham gia nghi lễ cộng đồng, thường chỉ diễn tấu trong không gian gia đình bình dị, ấm cúng. Phiên chế của dàn chiêng nữ được chia ra thành ba cặp và cứ hai cái có cùng một cái tên, lần lượt là: Amí (mẹ), Ama (cha) và Anắc (con) - tương ứng với một mô hình gia đình sum vầy, đoàn tụ. Và cũng chính nhờ đặc điểm khác biệt đó nên việc học tập và truyền thụ lại cho các thành viên (là con gái) trong các gia đình người Êđê Bing ở đây trở nên thân thuộc, dễ dàng hơn. Cô H’Dhao, tâm sự: vốn âm nhạc quí báu này không bao giờ mất, từ đời này sang đời khác, bà dạy cho mẹ, mẹ truyền cho con và cứ thế nhịp chiêng Jhô ở đây thấm sâu và ngân dài qua bao thế hệ. Con gái phải biết đánh chiêng để bày tỏ, gửi gắm tình cảm của mình với mọi người; và cũng vì lẽ đó mà tiếng chiêng Jhô luôn gắn bó với mỗi phận đời-từ lúc còn là thiếu nữ, cho đến khi làm mẹ, làm bà...rồi trở về với đất.Đánh thức ký ứcTrong ký ức của người già ở Ea Tul dưới chân Núi Hoa, huyện Cư M’gar vẫn còn nhớ những vòng xoang cổ của ông bà. Ấy là xoang T’lang (chim Grứ bay lên), xoang Khớt H’gơr (hát múa trong nghi lễ bọc trống) và Mặp mọ T’rai (mời rượu thác đổ)… từ lâu đã trở thành niềm tự hào của người Êđê M’thun bản địa. Vậy mà bây giờ không ai nhớ nữa. Bà H’Duôn, H’Nhé có lần tâm sự như vậy với chị H’Hoa-Phó phòng VH-TT huyện Cư M’gar. Một bận về đây công tác, nữ cán bộ văn hóa người dân tộc tại chỗ này đem những tâm sự trên kể cho tôi nghe, tôi khuyên chị: sao không làm một việc gì đó (đại loại như xây dựng đề án) sưu tầm, bảo tồn và phát huy những điệu múa cổ truyền thống chẳng hạn? H’Hoa nghe ra, mừng lắm và nói sẽ bàn bạc cùng anh chị em trong ngành văn hóa đưa ý tưởng này vào chương trình hành động trong năm 2012.

http://langvietonline.vn/ImageHandler.ashx?ThumbnailID=113497


Vừa rồi trở lại Cư M’gar, tôi gặp lại H’Hoa và chị tỏ ra rất phấn chấn: đến nay đã có ít nhất tám buôn ở các xã Ea Tul, Ea Đinh và Cư D’lei M’nông đã có đội văn nghệ trẻ hát múa dân gian. Các điệu xoang cổ truyền thống đã được sưu tầm và phục dựng trở lại dưới sự giúp đỡ, hướng dẫn của các nghệ nhân lớn tuổi như bà H’Duôn, H’Nhé, chị H’Nen, H’Bhướt… Rồi, H’Hoa dẫn tôi vào buôn Phơng-Ea Tul để gặp gỡ và xem đội múa nữ ở đây biểu diễn. Thật đẹp và kiêu hãnh với vũ điệu cổ T’lang, những cô gái tuổi mười tám, đôi mươi nhịp nhàng-lúc nhón chân vươn lên trong tư thế như muốn bay lên, khi dịu dàng nghiêng người nhuốm vẻ mơ màng, say đắm. Sinh động và tinh tế hơn là đôi cánh tay của những cô sơn nữ, cứ xòe ra rồi khép lại tựa con chim Grứ sải cánh bay lên, hạ xuống cùng bạn tình giữa không gian núi rừng khoáng đạt. Chị H’Nen diễn giải rằng: điệu xoang này chỉ dành cho con gái vào độ xuân sắc, đẹp như con chim Grứ, là biểu tượng của khát vọng và đam mê. Điệu xoang Khớt H’gơ và Mặp mọ T’rai có khác về không gian diễn xướng, điệu múa phải theo cùng nghi lễ (bọc trống và mời rượu) nên sự tung tẩy của các vũ nữ có phần hạn chế. Nhưng không vì thế mà “ngôn ngữ” của các vũ điệu này không mang một sức nặng thông điệp tình cảm của cộng đồng gửi đến mọi người - cả khách lẫn chủ có mặt trong nghi lễ thông qua sự cách điệu và ước lệ hết sức nghệ thuật. Mí H’Duôn đúc kết: nhìn vào phần múa thì biết nghi lễ đó ở tầm mức nào, long trọng và đông vui thì những cánh tay mời rượu càng nhiều, những cái lắc vai càng nối dài để dòng nước xuống ghè rượu miên man như dòng thác… Thật độc đáo, chiều sâu văn hóa của tộc người miền cao này được “mã hóa” trong đó và cố nhiên đã nói thay cho con người nhiều điều thi vị và thầm kín.Rõ ràng, sự khơi gợi về ý thức cội nguồn cho lóp trẻ hôm nay đồng nghĩa với việc tìm lại và phát huy sức mạnh nội sinh tiềm tàng cho mỗi cộng đồng dân tộc tồn tại và phát triển. Trong hành trình ấy, chắc chắn không thể thiếu đi lòng đam mê, vốn hiểu biết sâu sắc của mỗi người nhằm tiếp nối và khơi nguồn dòng chảy văn hóa của các tộc người bản địa trên cao nguyên Dak Lak này chảy mãi-từ ngàn xưa đến mai sau.
HTSN (Theo Báo Đăk Lăk điện tử)

thocon
21-03-2013, 10:51 AM
Đặc sắc múa náp

Cùng với hò bả trạo, hát giao duyên thì múa náp là loại hình văn hóa dân gian mang tinh thần thượng võ có giá trị bền vững trong đời sống cư dân làng biển.
Múa náp là một trong những loại hình văn hóa dân gian đặc sắc của cư dân miền biển tỉnh ta. Trải qua hơn ba trăm năm khai hoang lập ấp, múa náp đã đồng hành với đời sống tinh thần của ngư dân Mỹ Tân. Mỗi đường siêu, thế võ trong múa náp thể hiện tinh thần đấu tranh bất khuất của cha ông thời mở cõi, nhằm bảo vệ cuộc sống thôn xóm bình yên.

http://images.baoninhthuan.com.vn/CMSImage/Resources/Uploaded/sonngoc/Mua Nap 1 NTO.jpgNghi thức cúng nghinh Ông Nam Hải tại làng biển Mỹ Tân.

Nằm cách Tp. Phan Rang- Tháp Chàm khoảng 20 cây số về hướng Đông-Bắc, làng biển Mỹ Tân thuộc xã Thanh Hải, nổi tiếng với nghề đánh cá phát triển thịnh vượng vào bậc nhất của huyện Ninh Hải. Cảng Mỹ Tân tấp nập tàu thuyền trong và ngoài tỉnh đến neo đậu mua bán hải sản và tiếp tế nhiên liệu. Mỹ Tân còn bảo tồn nhiều giá trị văn hóa đặc trưng của làng biển Nam Trung Bộ. Tương truyền cư dân Mỹ Tân ngày nay có nguồn gốc từ Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên đến sinh cơ lập nghiệp từ hơn 300 năm trước. Cùng với việc di dân, cha ông mang theo phong tục, tập quán đến vùng đất mới lưu truyền cho con cháu. Những người thuở khai hoang mở cõi được dân làng tôn làm thần hoàng bổn cảnh thờ phụng tại đình làng. Cùng với hát hò bả trạo, hát giao duyên thì múa náp là loại hình văn hóa dân gian mang tinh thần thượng võ có giá trị bền vững trong đời sống cư dân làng biển.
Ông Phạm Ngọc Huề, năm nay 93 tuổi là bậc kỳ cựu ở Mỹ Tân. Ông được mời làm “cố vấn” của làng trong các kỳ lễ hội, cúng tế. Ông Huề cho biết, từ khi ông còn nhỏ đã thấy trong làng có múa náp. Các kỳ cúng đình, cúng lăng Ông Nam Hải đều có múa náp. Đội múa náp thường có từ 8 đến 10 người được tuyển chọn từ các trai đinh có đạo đức, sức khỏe tốt. Ông thủ chỉ hướng dẫn trai đinh rèn luyện việc múa náp theo đúng bài bản. Đội múa chia làm hai hàng chịu sự chỉ huy của đội trưởng theo tiếng gõ ra hiệu cặp sênh được làm bằng gỗ dài chừng 30 cm. Người múa náp đầu chít khăn, mặc quần áo rộng, lưng cuốn đai, chân cuốn xà cạp đi giày vải bó như những đội thủy binh thời xưa. Chiếc náp dài khoảng 100 cm, phần lưỡi dài khoảng 40 cm, hình thức như một thanh đao. Người học múa náp phải mất 3-5 tháng chuyên tâm rèn luyện mới có thể thành thạo thế đánh. Các bài múa náp được truyền dạy với tên gọi dân dã cho dễ nhớ: Bái tổ, ba thoi, đá đầu, đánh cán, đánh lưỡi, nhảy ngựa, tạ hàng ngang, tạ hàng xuôi, sắp mặt, sắp lưng, ra lưng, nhảy trái…

http://images.baoninhthuan.com.vn/CMSImage/Resources/Uploaded/sonngoc/Mua nap 2 NTO.jpgĐội múa náp Mỹ Tân luyện tập tham gia Liên hoan Làng biển Việt Nam năm 2011.

Tại lễ cúng nghinh Ông Nam Hải thôn Mỹ Tân hàng năm thường biểu diện múa náp là những thế võ với cách đánh nhanh, mạnh mẽ, dứt khoát thể hiện sức chiến đấu bền bỉ của cư dân thời khẩn hoang lập ấp. Lực lượng ngư dân trẻ khỏe sẵn sàng chiến đấu chống giặc giã, thú dữ để bảo vệ cuộc sống bình yên cho dân làng.

Thái Sơn Ngọc (Báo Ninh Thuận)

tomhe
24-04-2013, 11:09 AM
Giữ câu hát ống cổ xưa

Đôi nam nữ đứng cách nhau hàng chục mét, nhưng nhờ có dụng cụ đặc biệt nên họ vẫn nghe rõ mồn một tiếng hát của nhau. Nghệ thuật hát ống độc đáo này đã được khôi phục ở thôn Hậu (Tân Yên, Bắc Giang).

Kết nối đam mê
Đường về thôn Hậu, xã Liên Chung (Tân Yên, Bắc Giang) nằm sâu trong những con ngõ nhỏ góc làng, chúng tôi tìm đến câu lạc bộ (CLB) hát ống, hát ví của xã vào đúng dịp làng có hội, mọi người kéo nhau đi nghe hát trong không khí náo nức. Tiếp chuyện chúng tôi, ông Nguyễn Văn Đài (72 tuổi ở thôn Hậu) người đã tham gia hát ví, hát ống khi còn ở tuổi thiếu thời cũng là một trong những người có công sưu tầm, khôi phục vốn văn hoá quý giá này.Ông nói: “Không nhớ rõ hát ống hát ví có tự bao giờ, nhưng chỉ nhớ rằng khi tôi còn rất nhỏ đã được nghe các cụ cao niên trong làng hát vào mỗi dịp hội làng. Khi tôi lên 16 tuổi, tôi được ông nội truyền dạy và còn nhớ cho đến ngày nay”.
<tbody>
http://images.danviet.vn/CMSImage/Resources/Uploaded/baogiay2/96_8_hat.jpg



Hình thức hát ống giao duyên của đôi nam nữ.


</tbody>


Nghệ thuật hát ống, hát ví khá xa lạ với nhiều người, đặc biệt là giới trẻ bởi loại hình sinh hoạt này đã vắng bóng từ lâu. Mãi cho đến tháng 4.2012, môn nghệ thuật này mới được phục dựng và ngân vang trở lại. Ông Ngô Văn Nguyên – Chủ nhiệm CLB Hát ống, hát ví Liên Chung phấn khởi nói: Quá trình phục dựng điệu hát này cũng vất vả. Ban đầu vài ba thành viên lớn tuổi tập hợp nhau lại, sau dần kết nối thêm nhiều người đam mê ca hát. Cho đến nay CLB hát ví, hát ống đã có 31 thành viên. Thời điểm nhộn nhịp nhất vào tháng 3 âm lịch, sau khi đón tết, các lễ hội được tổ chức, có các đơn vị mời chúng tôi đến để giao lưu, khi thì tổ chức hội thi… Bên cạnh đó, CLB đã không ngừng sưu tầm những bài hát cổ, phân loại và truyền dạy cho hội viên”.Ông Nguyên vui vẻ “khoe” thành tích: Sau 1 năm phục dựng, CLB đã đi diễn khắp nơi, đặc biệt các hội thi văn hóa các dân tộc miền bắc đều có giải, dù không cao nhưng đó là sự động viên tinh thần, niềm tự hào cho bà con xã Liên Chung.
Dụng cụ độc đáo
Nói đến nghệ thuật độc đáo này, ông Đài cho biết: Hát ống về hình thức vẫn là hát ví nhưng hai bên hát thông qua một dụng cụ là hai chiếc ống bằng tre có đường kính từ 7-10cm, dài chừng 15-20cm thông hai đầu, một đầu được bịt bằng da ếch, liên kết hai ống với nhau bởi một sợi dây tơ tằm buộc vào hai chiếc kim khâu. Tuỳ thuộc vào cự ly hát mà sợi dây dài hay ngắn, thường là từ 60 - 70 sải tay. Khi hát, âm thanh làm các màng da ếch rung lên, tín hiệu âm thanh truyền qua sợi dây tới đầu ống bên kia, người nghe dù đứng xa hàng chục mét vẫn nghe rõ tựa như phát ra từ loa nhỏ.

Lý giải cho sự ra đời của nghệ thuật này, ông Đài cho rằng: Ngày trước, thời các cụ “nam nữ thụ thụ bất thân”, dù có thương nhớ nhau cũng chỉ bày tỏ qua lời ca, câu hát. Do vậy, các cụ đã sáng tạo ra môn nghệ thuật hát ống để có thể truyền nhau những tiếng hát giao duyên, hát đối nam – nữ… gửi gắm tâm tư, tình cảm yêu thương.Người con trai hỏi: “Hỏi cô thắt cái bao xanh/Có về làng Hậu quê anh thì về/Làng Hậu có gốc cây đề/Có sông tắm mát có nghề làm ăn”. Người con gái đáp: “Thương anh em cũng muốn về/Chỉ e vụng dại bạn chê, người cười/Thương nhau chín bỏ làm mười/Thế gian cứ nhại ai cười mặc ai”.Chị Nguyễn Thị Lộc - thành viên CLB Hát ống, hát ví xã Liên Chung háo hức nói: “Tôi là người làng bên, năm 18 tuổi về nhà chồng thì được chính cụ Nguyễn Thị Lược- mẹ chồng tôi truyền dạy. Khi biết xã có chính sách khôi phục lại nét văn hóa cổ xưa này tôi tham gia ngay, cho đến nay CLB đã đi diễn khắp nơi. Đi hát thế này chúng tôi không có kinh phí, nhưng chị em ai cũng phấn khởi. Giao lưu với bạn nghề, học hỏi thêm kinh nghiệm cũng như văn hóa của các đội bạn giúp chúng tôi hiểu hơn về văn hóa truyền thống của quê hương”.Ông Dương Minh Hiểu - Phó Chủ tịch UBND xã Liên Chung cho biết: "Khó khăn lớn nhất là hình thức nghệ thuật này đã bị mai một cách đây khoảng hai chục năm, những nghệ nhân có tâm huyết hiện nay không còn nhiều, kinh phí hoạt động của CLB hạn hẹp. Tới đây, chúng tôi dự định sẽ đưa hát ví, hát ống vào các trường học trong xã để giới thiệu cho thế hệ trẻ biết và trân trọng một giá trị văn hóa, tinh thần của quê hương".
Ngô Xuân

tomhe
26-04-2013, 11:03 AM
Hát đúm Hà Nam: Lối đối đáp dân gian tình tứHát đúm ở Hà Nam (TX Quảng Yên) là một di sản văn hoá phi vật thể cần được bảo tồn và phát huy trong kho tàng dân ca vùng biển Quảng Ninh. Giống như một số loại hình dân ca khác, hát đúm là lối đối đáp rất tình tứ...

Hội hát đúm là nơi tập trung các trai thanh gái lịch. Bây giờ, hát đúm chủ yếu được thấy ở sân đình, trong những lễ hội, chứ trước kia, không gian diễn xướng của hát đúm có thể là đường đi, ngoài cánh đồng, bến sông v.v.. Họ nắm tay nhau say sưa đối đáp thể hiện khát vọng về tình yêu đôi lứa. Ngày ấy, cái thời mà “yêu nhau đứng ở đằng xa”, trai gái chỉ có thể đợi các đám hội để được hát đúm, được cầm tay và tìm hiểu nhau. Cầm cổ tay cô gái đến bao giờ cô ấy hát đối đáp lại thật hay thì chàng trai mới chịu buông tay. Vì thế mới có những câu hát mở đầu kiểu như: “Thấy em vừa đẹp, vừa xinh/ Anh thuận nhân tình, anh nắm cổ tay/ Nắm rồi, anh hỏi cổ tay/ Ai nặn nên trắng, ai day nên tròn?”. Sau khi tan hội, chàng trai kia mới nhờ mẹ qua nhà cô gái kiếm cớ mua tre, mua gà v.v.. để xem mặt cô gái và tìm người mai mối… Thế nên đám hội hát đúm cũng là chỗ tụ tập để tìm bạn đời. Nguyễn Như Ý trong Đại từ điển Tiếng Việt, giải thích: “Hát đúm là lối hát dân gian dịp hội hè đầu xuân ở miền Bắc Việt Nam, do nhiều thanh niên trai gái cùng tham gia, thường ở dạng đối đáp…”.
<tbody>
http://www.baoquangninh.com.vn/dataimages/201304/original/images671219_a3_t6_7.jpg


Hát đúm trong Lễ hội Tiên công. Ảnh: tư liệu

</tbody>
Về mặt nội dung, lời hát đúm Hà Nam phải trong sáng và có hàm lượng tri thức nhất định. Mỗi người đi hát phải “thủ” cả “một bụng” những câu hát như vậy để mong đối lại phía bên kia. Vì thế có khi cuộc hát kéo dài rất lâu. Đầu và giữa các canh hát, người ta mời nhau ăn trầu; cuối canh hát lại tặng nhau những vật phẩm làm tin. Thế nên rốt cuộc cũng chẳng ai sợ chuyện được thua trong canh hát. Bởi vì đôi khi thua đấy nhưng cũng chính là được: “Thua thì trao lại nón ô/ Được thì ta muốn cả ô lẫn người”. Nhiều đôi nam thanh nữ tú đã thành vợ thành chồng nhờ những canh hát được - thua ấy.

Thực chất hát đúm Hà Nam bắt nguồn từ những câu nói hàng ngày được biến tấu sao cho có vần, có điệu. Lời hát thường được đặt theo thể lục bát, lục bát biến thể, hay song thất lục bát. Mỗi một lời hát thường bắt đầu và kết thúc bằng một câu đưa đẩy. Câu ấy cũng chính là tín hiệu cho bên kia biết để chuẩn bị mà đối đáp lại. Ví dụ: “Rằng duyên kết bạn mình ơi! /… Nhà em chèo mũi cũng ngoan/ Hai tay em dẻo như đàn năm cung/ Chồng chưa? Thú thật anh cùng/ Để anh khấn nguyện tơ hồng kíp se… Rằng duyên kết bạn mình ơi!”. Cũng chính cái câu đưa đẩy “Rằng duyên kết bạn mình ơi” hay như: “Duyên kết bạn mình ơi” cùng với nhóm từ xưng hô “mình - bạn”, “anh - em” đã thể hiện tính chất hô ứng qua lại trong lời hát. Người ta phân chia các kiểu hát đúm dựa vào thời điểm hát và nội dung câu hát. Với mỗi hoàn cảnh cụ thể sẽ có một dạng hát đúm khác nhau, như: hát chào, hát hỏi, hát gặp, hát hoạ, hát đố, hát lính, hát thư, hát ra về v.v.. Khi mới gặp làm quen người ta thường hát chào để dần kết thân, ví dụ: “Duyên kết bạn mình ơi! ... Thoạt vào anh chào hội xuân/ Anh chào quý khách xa gần ngồi chơi”. Hát hỏi đôi khi chẳng phải để lấy thông tin, mà chỉ là một cách để thử tài đối phương, có khi để tìm ra người tài sắc, ý hợp tâm đầu: “Duyên kết bạn mình ơi!... / Rằng anh đã vợ con chưa/ Mà anh ăn nói gió đưa ngọt ngào/ Mẹ già anh ở nơi nào/ Để em tìm vào hầu hạ thay anh…”. Hát đúm tình tứ nhất phải là lúc giã bạn. Người ta hát những lời từ cõi lòng sâu kín nhất của mình. Trong lời hát có những nhớ thương, bịn rịn, có chờ mong, ước hẹn v.v.. Giống như dân ca Quan họ, lời giã bạn trong hát đúm cũng là lời lưu luyến nhất trong mỗi cuộc hát: “Ra về kẻ biệt lời thề/ Kẻ thương người nhớ, kẻ tơ tưởng tình/ Ra về bỏ bạn một mình/ Lấy ai làm kẻ chung tình có đôi/... Duyên kết bạn mình ơi!”.

Về giọng điệu, hát đúm Hà Nam sử dụng giọng thổ, ngọt ngào, trầm ấm. Theo nghệ sĩ Vùng mỏ Thanh Quyết, người đã nhiều năm cất công sưu tầm loại hình diễn xướng dân gian này, thì hát đúm Quảng Yên khác với hát đúm hay hò biển Vân Đồn, Trà Cổ ở chỗ hát đúm các vùng ấy ưa sử dụng giọng kim với âm sắc cao vang, người Hà Nam, Quảng Yên lại ưa hát giọng thổ trầm ấm và chan chứa nghĩa tình. Hát đúm ở Hà Nam, Quảng Yên thường sử dụng lời cổ, trong khi đó hát đúm Thuỷ Nguyên (Hải Phòng) lại sử dụng cả lời mới. Một căn cứ nữa để bà Quyết có thể khẳng định hát đúm Hà Nam ít bị lai tạp là bởi trong những câu hát ấy có rất nhiều tên đất, tên làng của vùng quê Hà Nam được đưa vào một cách nhuần nhị. Đây cũng là chỗ thể hiện tính nguyên bản của hát đúm Hà Nam so với hát đúm ở những vùng khác.

Có thể nói rằng, hát đúm là tiếng lòng của những người bình dân, kèm miếng trầu xanh, bên sân đình, luỹ tre, bến nước. Hay nói như NSVM Thanh Quyết, hát đúm như hoa đồng cỏ nội; dịu dàng, giản dị nhưng thắm thiết như bản tình ca người dân quê nơi thôn dã. Những bài hát ấy mang đậm chất trữ tình, phản ánh tình cảm thương yêu của lứa đôi. Nhiều bài hát có lời lẽ mộc mạc, thậm chí thất vận, thất luật nhưng nội dung vẫn đậm đà, lãng mạn.
Huỳnh Đăng (báo Quảng Ninh)

tomhe
01-06-2013, 10:19 AM
Hát chèo Tàu bị lãng quên

Hội hát chèo Tàu 25 năm mới được tổ chức một lần. Cũng chính cái tên rất lạ-chèo Tàu đã thôi thúc tôi tìm về vùng đất Tổng Gối xưa (nay là xã Tân Hội, huyện Đan Phượng, Hà Nội) để tìm hiểu về loại hình văn hóa này.



http://www.baohaiquan.vn/images/2013/5/tranhieu/Hat cheo tau (1)_800x503.jpg


Một buổi học hát chèo Tàu tại miếu Voi Phục thờ đức thánh Văn Dĩ Thành. Ảnh: Quang Tấn


Vang bóng một thời
Cách trung tâm Hà Nội hơn 15km, vùng đất Tổng Gối xưa, trải qua nhiều thế kỷ vẫn còn lưu giữ được nhiều nét kiến trúc cổ kính như những cổng làng phủ đầy rêu phong và cả những ngôi nhà xây bằng đá ong, nằm san sát. Hỏi thăm người dân nơi đây về người am hiểu chèo Tàu, may mắn tôi được một thành viên trong CLB hát chèo Tàu của xã Tân Hội chỉ đến nhà nghệ nhân Ngô Thị Thu ở làng Thượng Hội, một trong bốn ngôi làng nổi tiếng với các bài hát chèo Tàu.Nghệ nhân Ngô Thị Thu vui vẻ cho biết: “Hát chèo Tàu, hay còn gọi là hát Tàu Tượng, đây không phải xuất phát từ Trung Quốc mà là điệu hát chèo thuyền chở quân đi đánh giặc, do người dân Tổng Gối xưa sáng tạo. Theo các bậc cao niên kể lại, hội hát chèo Tàu ở Tân Hội được tổ chức nhằm tưởng nhớ vị tướng Văn Dĩ Thành, người đã có công đánh đuổi quân Minh xâm lược bảo vệ quê hương. Sau khi cụ Văn Dĩ Thành mất năm 1416 và được tôn vinh là thành hoàng Tổng Gối, nhân dân đã kết hợp những truyền thống ca hát vốn có của vùng đất này, để tạo ra một lễ hội đặc biệt tưởng nhớ cụ. Nội dung của tất cả các bài hát đều là ca ngợi hoặc kể lại những chiến công, những trận đánh xưa của cụ. Lễ hội đầu tiên được tổ chức vào năm 1683.Nhưng do lễ hội đòi hỏi không gian lớn, thời gian kéo dài, lại tốn nhiều chi phí nên xưa cứ 25 năm hội hát chèo Tàu mới được tổ chức một lần vào những lúc mưa thuận gió hòa, đời sống người dân khấm khá. Lần gần đây nhất được tổ chức là vào năm 1998, sau hơn 70 năm kể từ năm 1922 mới được tái hiện. Từ đó đến nay cứ vào hội làng người ta lại hát chèo Tàu nhưng chưa có lần nào quy mô lớn đến vậy”.Để tổ chức lễ hội, người dân bốn làng Thúy Hội, Thượng Hội, Vĩnh Kỳ, Phan Long thuộc xã Tân Hội sẽ cùng nhau làm thuyền rồng dài từ 4-5 mét, rộng 2 mét; hai “ông” voi bằng gỗ cao 2,5 mét vòi dài 3 mét và đặc biệt là cần gần 200 người tập luyện chuẩn bị.Bên cạnh đó, bốn làng phải chọn ra được một chúa Tàu là người từ 50-60 tuổi có uy tín và đức hạnh; mỗi làng chuẩn bị hai cái Tàu và mười ca nhi (con Tàu) tuổi từ 12-16 là những cô gái có nhan sắc, giọng hát và đặc biệt là phải còn trinh tiết. Ngoài ra, tất cả những người tham gia hội hát đều phải là con gái, kể cả người quản tượng cũng là nữ giả nam. Sau sáu tháng khổ luyện (từ rằm tháng 8 đến tháng giêng âm lịch), các ca nhi phải thuộc lòng ba phần của chèo Tàu là hát trình (thánh ca), hát trên thuyền (trạo ca) và sau cùng là hát giao duyên (bỏ bộ) và sẽ hát liên tục trong 7 ngày 7 đêm của lễ hội.
<tbody>
http://www.baohaiquan.vn/images/2013/5/tranhieu/Hat cheo tau (2)_800x520.jpg


Lễ hội hát chèo Tàu tại Tổng Gối (xã Tân Hội, huyện Đan Phượng, Hà Nội). Ảnh: S.T

</tbody>

Gìn giữ từ những… cá nhân

“Ngày trước khi những bậc cao niên, những cây đa cây đề thuộc nhiều bài hát chèo Tàu như cụ Tiến Thị Lục, Kim Thị Ba còn sống thường hay truyền dạy chúng tôi các bài hát và cách hát, nhưng từ khi các cụ mất, việc phục dựng lại các làn điệu rất khó khăn. Theo lời kể của các cụ có đến 360 làn điệu nhưng hiện nay chúng tôi chỉ lưu giữ chính xác về ngôn ngữ và cách hát khoảng hơn 15 làn điệu. Sở dĩ tồn tại thực trạng này vì đa số việc học hát chèo Tàu xưa kia là qua hình thức truyền miệng” – Cô Thu tâm sự.Với mong muốn lưu giữ, phát huy giá trị văn hóa dân gian xưa những bậc cao niên, người đam mê với hát chèo Tàu đã thành lập câu lạc bộ hát chèo Tàu, với số lượng duy trì ở mức 50 thành viên. Đáng mừng hiện nay, tại một số trường học trong xã, chèo Tàu đã được đưa vào giảng dạy. Nhưng để lựa chọn những em có đủ tố chất và hát hay là rất khó.“Kinh phí để tổ chức các lớp học hiện nay cũng rất hạn chế, đa số đều do các thành viên trong câu lạc bộ tự bỏ ra, thỉnh thoảng mới có tài trợ của một số tổ chức, DN, địa phương. Ngoài ra, để tổ chức một lớp học trung bình cũng phải bỏ ra hơn 20 triệu, chính vì vậy một năm cũng chỉ tổ chức được 1-2 lớp, mỗi lớp vài chục em” – cô Thu trăn trở.Và cũng vì luật tục “Tứ dân vui vẻ chan hòa/ 25 năm lại mở hội ta Chèo Tàu” nên những ca nhi tuyệt nhiên không có cơ hội lần thứ hai trong đời được tham gia hát hội. Chính vì điều này phải là người thực sự đam mê chèo Tàu mới theo đuổi loại hình nghệ thuật chỉ có trên đất Tổng Gối này.
Quang Tấn

sứa
05-06-2013, 12:22 PM
Leng keng tàu điện vọng hồn xẩm xưa

Người hát xẩm giấu dưới bộ dạng tả tơi, nghèo khó một trái tim nghệ sĩ đích thực, một tài năng kể chuyện thiên phú. Với khả năng ứng khẩu tuyệt vời, xẩm không dừng lại ở một nghề mưu sinh mà đã trở thành một loại hình nghệ thuật diễn xướng độc nhất vô nhị trong nền văn hóa dân tộc.

Xẩm tàu điện, niềm vui ca hát của phố hội Thăng Long
Ngắm những bức ảnh hai màu đen trắng về một Thăng Long - Hà Nội xưa, người ta không thể nào quên những chuyến tàu điện đông đúc, nhộn nhịp xuôi ngược băm sáu phố phường. Những chuyến tàu hành trình ngắn, đến rồi đi, leng keng rộn rã trong thập niên chín mươi đã trở thành không gian diễn xướng, khởi sinh, nuôi dưỡng và phát triển một loại hình nghệ thuật đường phố mới vô cùng độc đáo: Xẩm tàu điện. Những gánh xẩm từ các vùng quê xa vì mùa màng thất bát, chiến tranh loạn lạc đưa đẩy trôi dạt về nơi thị thành. Họ những muốn tìm một không gian sinh tồn mới để sống và hát. Người hát xẩm xuôi theo những chuyến tàu điện đi từ phố nọ đến phố kia, mưu sinh bằng cách bán tiếng đàn, tiếng hát kiếm chút tiền của khách thập phương.
<tbody>
http://images.danviet.vn/CMSImage/Resources/Uploaded/dinhhuong/040613_Que-nha_Xam-tau-dien_Dan-viet.jpg





</tbody>


Bến xe điện Bờ Hồ nằm ngay đầu đại lộ Francis Garnier ngày ấy (ngày nay là phố Đinh Tiên Hoàng), đều đều chở khách ngược xuôi quanh Hà Nội, đã trở thành địa chỉ quen thuộc đặc trưng văn hóa của người dân Hà thành. Trong cái náo động của đời sống chốn nội đô, một tiếng xẩm vang lên như chạm vào cõi lặng tâm hồn người Hà Nội. Cái tên "xẩm tàu điện" bắt đầu từ chính môi trường nó sống và phát triển như vậy…Người hát xẩm giấu dưới bộ dạng tả tơi, nghèo khó một trái tim nghệ sĩ đích thực, một tài năng kể chuyện thiên phú. Đa phần trong số họ đều là những người mù. Dù không thể nhìn thấy nhưng họ có khả năng ứng khẩu vô cùng tuyệt vời. Chỉ nghe thấy câu chuyện của đôi trai gái qua đường, người hát xẩm có thể ngẫu hứng sáng tạo nên một khúc nhạc bình dị mà rung động lòng người. Xẩm không dừng lại ở một nghề mưu sinh mà đã trở thành một loại hình nghệ thuật diễn xướng độc nhất vô nhị trong nền văn hóa dân tộc.Xẩm có rất nhiều làn điệu, xẩm chợ, xẩm thập ân, xẩm tàu điện… Cái độc đáo, nét riêng biệt giữa xẩm tàu điện và các thể loại xẩm khác có lẽ là mối duyên nợ của nó với chốn phố hội Thăng Long xưa. Những bài xẩm như "Ba sáu phố phường", "Vui nhất Hà thành" dẫn lối cho người ta tìm vế với bóng hình một Hà Nội của những năm tháng không thể nào quên.

Liệu có thể đưa xẩm xưa trở về từ cõi nhớ?
Trước sự chuyển giao của hai thời đại, hát xẩm cũng rơi vào hoàn cảnh chung của sân khấu truyền thống, đang dần bị mai một và đi vào quên lãng. Nhưng không phải vì vậy mà sức sống của xẩm bị dập tắt. Nó vẫn có thể cháy lên nếu xã hội chung tay mang nó trở về từ quá khứ.Năm 2005, Trung tâm Phát triển nghệ thuật Việt Nam thành lập, với tiêu chí đầu tiên là khôi phục, tìm lại vị trí cho xẩm trong nền văn hóa - nghệ thuật đương đại. Cuộc hành trình ấy bắt đầu bằng việc tập hợp những nghệ nhân hát xẩm của những thập kỉ trước.Họ là thầy Thao Giang, thầy Khang, Xuân Hoạch, Thanh Ngoan, Mai Tuyết Hoa, Quang Long, Hạnh Nhân, những con người nắm giữ linh hồn của bộ môn nghệ thuật diễn xướng dân gian độc nhất vô nhị này. Đoàn nghệ sĩ tìm về các chiếu xẩm ở Hà Nội, Hưng Yên, Ninh Bình, Thanh Hóa, những nơi đã từng là cái nôi nuôi dưỡng và phát triển loại hình hát xẩm. Các buổi biểu diễn xẩm cổ thu hút rất nhiều người thưởng thức, và không chỉ thế các băng đĩa về xẩm cũng được đông đảo quần chúng đón nhận và hưởng ứng nhiệt tình.Nghệ sĩ nhân dân Thanh Ngoan tâm sự, chị cảm thấy hạnh phúc và vững lòng khi những buổi diễn ở sân xẩm chợ Đồng Xuân hay khu phố cổ Hà Nội có đông khán giả đến xem, trong đó có không ít khán giả trẻ cũng như khách du lịch nước ngoài.
Theo Đời sống gia đình

sứa
06-07-2013, 09:43 AM
Đến Mường So – vui đêm hội xòe

<tbody>

<tbody>
Nếu một lần đến với mảnh đất nơi ven trời Tây Bắc, bạn hãy một lần ghé thăm Mường So để được chiêm ngưỡng, thả hồn mình cùng điệu xòe thương nhớ.

<tbody>

http://quehuongonline.vn/Uploads/LibraryImages/(1051)1.jpg

Đêm hội xòe tại bản Vàng Pheo, Phong Thổ, Lai Châu

</tbody>

Xe chúng tôi bắt đầu lăn bánh rời Thị xã Lai Châu vào một buổi chiều nắng đẹp, để tiếp tục chuyến hành trình trên “Cung đường Tây Bắc” và điểm đến tiếp theo trong chuyến hành trình là “Bản Văn hóa du lịch Vàng Pheo” thuộc địa phận xã Mường So, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu. Khi xe dừng bánh cũng là lúc mọi thành viên trong đoàn đều cảm thấy thấm mệt sau một chuyến hành trình dài, nhưng đáp lại sự mệt mỏi đó là sự đón tiếp ân cần cùng tấm lòng mến khách của cán bộ và bà con nơi mảnh đất Mường So. Chính những điều đó đã phần nào xua tan đi sự mệt mỏi còn đọng lại trên nét mặt của những người tham gia đoàn khảo sát.“Vàng Pheo” là một điểm du lịch cộng đồng được nhắc nhiều trên bản đồ Du lịch Lai Châu không chỉ bởi cảnh sắc thiên nhiên tươi đẹp, thơ mộng với vị trí đẹp tựa mình vào núi Phú Nhọ Kho - nơi giao thoa giữa hai dòng suối Nậm So và Nậm Lùm, là bản cổ xưa nhất của người Thái trắng mà còn bởi những giá trị văn hóa đặc trưng không thể hòa lẫn vào với bất kỳ một nền văn hóa nào của đồng bào Thái xứ Mường So như các lễ hội: Nàng Han (rằm tháng 2 âm lịch), Then Kin Pang (mùng 10/3 âm lịch), Kin Lẩu Khẩu Mẩu hay lễ hội Cơm Mới (rằm tháng 9 âm lịch) và đây còn là nơi lưu giữ 36 điệu xòe… Điều để lại ấn tượng sâu sắc trong tôi khi tới với mảnh đất Mường So là được cùng bà con và cán bộ nơi đây thưởng thức một đêm hội xòe đầy màu sắc với hình ảnh thân thương rất đỗi quen thuộc của những cô gái Thái duyên dáng trong bộ trang phục truyền thống mời khách nếm thử men rượu bên ánh lửa bập bùng và cách họ mời khách bước vào điệu xòe cũng mang đậm nét văn hóa đặc trưng của miền Tây Bắc. Tất cả đều tạo nên những cung bậc cảm xúc khác nhau đan xen trong suy nghĩ của riêng tôi.
Một đêm hội xòe đầy thú vị và lôi cuốn đã được diễn ra trước khoảng sân Nhà Văn hóa Vàng Pheo với “Cây lửa hồng” bập bùng cháy ở khoảng giữa sân, chính ngọn lửa ấy đã làm tăng thêm sự huyền ảo, sức hấp dẫn của đêm hội xòe nơi đây. Và khi khúc nhạc “Điệu xòe có tự bao giờ mà vẫn mê say như thuở nào... đêm nay với rượu xòe rộn ràng trong tiếng hát, trao nhau giữa vòng xòe nụ cười và ánh mắt, thương nhau nắm tay nhau để lòng thôi không nói, ngân lên khúc nhạc xòe tưng bừng như suối hát...” ngân lên cũng là lúc chúng tôi tay trong tay bước vào vòng xòe, cùng nhìn nhau qua ánh lửa mờ ảo, thấy đôi má ai ai cũng ửng hồng và cả những giọt mồ hôi lăn đều trên nét mặt của những người tham gia vào vòng tròn xòe đêm ấy. Có lẽ đây là lần đầu tiên một người miền xuôi như tôi cảm nhận một cách đầy đủ về một đêm hội xòe của mảnh đất nơi ven trời Tây Bắc - Lai Châu.
Qua điệu xòe, tôi còn có dịp tìm hiểu thêm những điều thú vị về câu ca dao mời khách tham gia vào vòng xòe làm tôi nhớ mãi: “Không xòe không vui, không xòe cây lúa không trổ bông, không xòe cây ngô không ra bắp, không xòe trai gái không thành đôi”, chính tôi phải thừa nhận rằng mình đã bị cuốn vào vòng xòe bởi lời mời đậm tình người Tây Bắc đó. Tôi hiểu rằng, chính những điều bình dị ấy mà cuộc vui ngày hôm nay không thể thiếu đi điệu xòe và không biết tự bao giờ điệu xòe cũng là một trong những điệu múa tập thể xuất hiện thường xuyên trong những ngày vui của người Thái nơi đây.
Điểm nổi bật trong vòng tròn xòe là những cô gái Thái trong bộ áo cóm bó sát người với hàng cúc bạc lấp lánh, váy lĩnh đen tuyền cầm trên tay chén rượu giữa vòng tròn của đêm hội xòe để mời khách và họ cùng nhau uyển chuyển trong tiếng nhạc, nhìn thấy nét mặt ai cũng tươi vui. Có một điều đặc biệt từ điệu xòe mà ai cũng cảm nhận được đó là: Tất cả mọi người từ khách đến người dân nơi đây khi cùng nắm tay nhau tham gia điệu xòe đã làm cho những người lạ chưa bao giờ gặp nhau trở thành thân quen tự bao giờ chẳng hay, mọi người trao nhau những cái nắm tay trìu mến bên đống lửa, cùng trao cho nhau chén rượu mang đậm hương vị của mảnh đất Lai Châu.
Vòng xòe có sức hút mãnh liệt không phân biệt già trẻ, gái trai... tất cả đều tay trong tay thành một đại gia đình sum họp đầm ấm quây quần bên đống lửa của hội xòe, càng về khuya vòng xòe càng được mở rộng. Qua mỗi bước xòe, mọi người như gần gũi, chan hòa với nhau hơn. Mỗi điệu xòe là một động tác, một dáng đi, dáng đứng, cách chuyển động đều là những cung bậc sắc thái khác nhau mà điệu xòe mang lại, khi ta lẫn vào điệu xòe thì ta mới có thể cảm nhận được sự quyến rũ khó lường của nó. Cuộc vui nào cũng có lúc tan, điệu xòe kết thúc khi đống lửa dần tàn, khi đêm đã về khuya. Để rồi khi ra về ai ai cũng cảm thấy nuối tiếc bởi dư âm của “điệu xòe” với tiếng hát, ánh lửa bập bùng, đâu đó vẫn còn phảng phất tiếng cười giòn tan của những người tham gia vào vòng xòe đêm ấy

Thoa Đồng (LangVietOnline)


</tbody>





</tbody>

sứa
16-07-2013, 11:19 AM
Rối nước Hồng Phong dân dã và bí ẩnMỗi một con rối nước không chỉ là tác phẩm nghệ thuật về mặt tạo hình mà còn là sản phẩm kỹ thuật tinh tế của nghệ nhân.




Thôn Bồ Dương (xã Hồng Phong, huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương) nằm giữa vùng đồng bằng trù phú, rất đặc trưng cho nông thôn đồng bằng Bắc Bộ, và cũng là nơi nuôi dưỡng loại hình nghệ thuật dân gian đặc trưng của nền văn minh lúa nước: nghệ thuật múa rối nước.Những người cao tuổi nhất của thôn Bồ Dương cũng không biết rối nước có ở đây từ bao giờ, chỉ ước đoán khoảng từ thế kỷ 17 vì trong hệ thống kèo cột của đình làng có lưu hình chạm khắc về loại hình nghệ thuật này như: sóc leo cây, múa cô tiên…Điểm đặc sắc của rối nước Hồng Phong nằm ở cách điều khiển con rối. Trong khi nhiều phường rối khác điều khiển con rối bằng hệ thống sào hoặc sào kết hợp với dây thì các nghệ nhân ở đây có cách điều khiển con rối hoàn toàn bằng hệ thống dây. Sự phức tạp và bí quyết nằm ở cách bố trí hệ thống dây sao cho có thể điều khiển được con rối có những cử động rất phức tạp, sinh động và có thể chạy ra rất xa.Các nghệ nhân của phường rối Hồng Phong vẫn tự tay làm ra những con rối dùng biểu diễn. Quá trình chế tạo một con rối khá cầu kỳ, phức tạp. Từ khâu chọn gỗ, cắt gỗ, tạo hình nhân vật, đẽo thô, phơi khô cho đến chạm khắc tinh xảo, “tô màu” rồi lắp ráp hệ thống dây vào các tay, chân của con rối.Mỗi một con rối nước không chỉ là tác phẩm nghệ thuật về mặt tạo hình mà còn là sản phẩm kỹ thuật có độ chính xác cao. Nghệ nhân chế tạo rối giỏi là người vừa có tay nghề của thợ thủ công, có con mắt nhìn của người nghệ sỹ lại vừa phải am hiểu về các yếu tố kỹ thuật giúp cho con rối nổi được trên mặt nước, cử động linh hoạt, chính xác nhờ hệ thống dây./.


<tbody style="margin: 0px; padding: 0px; border: 0px; font-family: inherit; font-size: inherit; font-style: inherit; font-variant: inherit; line-height: inherit; vertical-align: baseline;">
http://vov.vn/Uploaded/phamthanh/2013_06_28/roi1.jpg


Đình làng Bồ Dương - Di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia - là nơi lưu hình chạm khắc là hình ảnh của rối nước như: múa cô tiên, sóc leo cây… Đình làng được xây dựng từ thế kỷ XVII


</tbody>

<tbody style="margin: 0px; padding: 0px; border: 0px; font-family: inherit; font-size: inherit; font-style: inherit; font-variant: inherit; line-height: inherit; vertical-align: baseline;">
http://vov.vn/Uploaded/phamthanh/2013_06_28/roi2.jpg


Thủy đình – nơi biểu diễn rối nước của phường rối Hồng Phong trước giờ biểu diễn


</tbody>

<tbody style="margin: 0px; padding: 0px; border: 0px; font-family: inherit; font-size: inherit; font-style: inherit; font-variant: inherit; line-height: inherit; vertical-align: baseline;">
http://vov.vn/Uploaded/phamthanh/2013_06_28/roi3.jpg


Từ khi được tái lập năm 1990, phường rối Hồng Phong thường xuyên được mời đi biểu diễn ở các Festival văn hóa – nghệ thuật, Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, lễ hội các địa phương. Năm 1994, tham dự Hội diễn múa rối nước toàn quốc đạt Huy chương vàng về bộ môn rối dây độc đáo.


</tbody>

<tbody style="margin: 0px; padding: 0px; border: 0px; font-family: inherit; font-size: inherit; font-style: inherit; font-variant: inherit; line-height: inherit; vertical-align: baseline;">
http://vov.vn/Uploaded/phamthanh/2013_06_28/roi4.jpg


Hiện nay phường rối Hồng Phong chủ yếu biểu diễn phục vụ khách du lịch do các công ty du lịch ở Hà Nội đưa về. Những tháng cao điểm phường rối biểu diễn khoảng 40-45 suất, còn bình thường khoảng 25 suất mỗi tháng. Mật độ biểu diễn không thua kém các đoàn nghệ thuật chuyên nghiệp.


</tbody>

<tbody style="margin: 0px; padding: 0px; border: 0px; font-family: inherit; font-size: inherit; font-style: inherit; font-variant: inherit; line-height: inherit; vertical-align: baseline;">
http://vov.vn/Uploaded/phamthanh/2013_06_28/roi4a.jpg


Khi biểu diễn các nghệ nhân điều khiển rối phải ngâm mình dưới nước. Trước kia, việc biểu diễn vào mùa đông rất cực nhọc vì nước lạnh, mỗi buổi diễn xong các nghệ nhân tím tái vì rét buốt. Bây giờ các nghệ nhân đều mặc bộ quần áo chống thấm nước như thế này nên cũng bớt vất vả.


</tbody>

<tbody style="margin: 0px; padding: 0px; border: 0px; font-family: inherit; font-size: inherit; font-style: inherit; font-variant: inherit; line-height: inherit; vertical-align: baseline;">
http://vov.vn/Uploaded/phamthanh/2013_06_28/roi5.jpg


Chuẩn bị đưa rối ra biểu diễn

</tbody>

<tbody style="margin: 0px; padding: 0px; border: 0px; font-family: inherit; font-size: inherit; font-style: inherit; font-variant: inherit; line-height: inherit; vertical-align: baseline;">
http://vov.vn/Uploaded/phamthanh/2013_06_28/roi6.jpg


Rối nước là loại hình nghệ thuật tổng hợp. Ngoài điều khiển các con rối còn cần đội ngũ nhạc công, người dẫn chương trình biết dẫn chuyện, ca hát.


</tbody>

<tbody style="margin: 0px; padding: 0px; border: 0px; font-family: inherit; font-size: inherit; font-style: inherit; font-variant: inherit; line-height: inherit; vertical-align: baseline;">
http://vov.vn/Uploaded/phamthanh/2013_06_28/roi7.jpg


Ông Vũ Văn Doãn, nghệ nhân cao tuổi nhất của phường rối Hồng Phong. Ông Doãn cũng là 1 trong 5 người trong phường biết chế tạo con rối. Phường rối Hồng Phong hiện có 18 nghệ nhân, người ít tuổi nhất cũng vào độ tuổi 50. Những người trẻ tuổi trong làng không thích theo nghề rối vì thu nhập thấp, mỗi buổi biểu diễn chỉ được khoảng 50.000 đồng. Các nghệ nhân đều lo lắng sẽ khó có đội ngũ kế nghiệp sau này


</tbody>

<tbody style="margin: 0px; padding: 0px; border: 0px; font-family: inherit; font-size: inherit; font-style: inherit; font-variant: inherit; line-height: inherit; vertical-align: baseline;">
http://vov.vn/Uploaded/phamthanh/2013_06_28/roi8.jpg


Chú Tễu, hình ảnh quen thuộc của rối nước. Đây là các con rối được bày trong Nhà trưng bày múa rối nước của phường rối Hồng Phong. Các con rối đều do nghệ nhân Vũ Văn Doãn chế tác.


</tbody>

<tbody style="margin: 0px; padding: 0px; border: 0px; font-family: inherit; font-size: inherit; font-style: inherit; font-variant: inherit; line-height: inherit; vertical-align: baseline;">
http://vov.vn/Uploaded/phamthanh/2013_06_28/roi9.jpg


Con rối trong tích trò “Nhi đồng hí thủy”

</tbody>

<tbody style="margin: 0px; padding: 0px; border: 0px; font-family: inherit; font-size: inherit; font-style: inherit; font-variant: inherit; line-height: inherit; vertical-align: baseline;">
http://vov.vn/Uploaded/phamthanh/2013_06_28/roi10.jpg


Con rối trong trò “Múa tiên bàn”


</tbody>

<tbody style="margin: 0px; padding: 0px; border: 0px; font-family: inherit; font-size: inherit; font-style: inherit; font-variant: inherit; line-height: inherit; vertical-align: baseline;">
http://vov.vn/Uploaded/phamthanh/2013_06_28/roi11.jpg


“Vinh quy bái tổ” là tích trò đặc sắc của phường rối Hồng Phong khi các nghệ nhân có thể điều khiển hệ thống con rối chạy cách xa hàng chục mét


</tbody>

<tbody style="margin: 0px; padding: 0px; border: 0px; font-family: inherit; font-size: inherit; font-style: inherit; font-variant: inherit; line-height: inherit; vertical-align: baseline;">
http://vov.vn/Uploaded/phamthanh/2013_06_28/roi12.jpg


Con rối trong trò “Sản xuất nông nghiệp”


</tbody>

<tbody style="margin: 0px; padding: 0px; border: 0px; font-family: inherit; font-size: inherit; font-style: inherit; font-variant: inherit; line-height: inherit; vertical-align: baseline;">
http://vov.vn/Uploaded/phamthanh/2013_06_28/roi13.jpg


Con rối trong trò “Tiên mời trầu”


</tbody>

<tbody style="margin: 0px; padding: 0px; border: 0px; font-family: inherit; font-size: inherit; font-style: inherit; font-variant: inherit; line-height: inherit; vertical-align: baseline;">
http://vov.vn/Uploaded/phamthanh/2013_06_28/roi14.jpg


“Bảo vệ môi trường” là trò rối mới do phường rối Hồng Phong sáng tác gần đây


</tbody>

<tbody style="margin: 0px; padding: 0px; border: 0px; font-family: inherit; font-size: inherit; font-style: inherit; font-variant: inherit; line-height: inherit; vertical-align: baseline;">
http://vov.vn/Uploaded/phamthanh/2013_06_28/roi15.jpg


Đồ lưu niệm được đẽo theo hình con rối được bày bán trong Nhà trưng bày múa rối nước với hy vọng làm phong phú thêm sản phẩm du lịch ở đây


</tbody>

<tbody style="margin: 0px; padding: 0px; border: 0px; font-family: inherit; font-size: inherit; font-style: inherit; font-variant: inherit; line-height: inherit; vertical-align: baseline;">
http://vov.vn/Uploaded/phamthanh/2013_06_28/roi16.jpg


Nhà trưng bày múa rối nước Hồng Phong do tổ chức JICA của Nhật Bản tài trợ vừa được bàn giao cho phường rối Hồng Phong trong tháng 6 này. Đây là điểm tham quan lý thú cho du khách tới xem biểu diễn múa rối nước


</tbody>

<tbody style="margin: 0px; padding: 0px; border: 0px; font-family: inherit; font-size: inherit; font-style: inherit; font-variant: inherit; line-height: inherit; vertical-align: baseline;">
http://vov.vn/Uploaded/phamthanh/2013_06_28/roi17.jpg


Du khách nước ngoài thử điểu khiển con rối trong Nhà trưng bày múa rối nước Hồng Phong
Việt Hoà


</tbody>

sứa
06-08-2013, 11:13 AM
Hát Xoan, thông điệp văn hoá, tâm linh và vui hội

Hát Xoan là loại hình dân ca nghi lễ gắn với tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương và đời sống sinh hoạt của cư dân trồng lúa nước vùng trung du, tập trung chủ yếu trên vùng đất Phú Thọ. Hát Xoan còn được gọi là hát Cửa đình, hát Lãi Lèn, hát Đúm, hát Thờ.

Gốc của Hát Xoan chỉ có ở một số địa phương thuộc Phú Thọ, tương truyền có từ thời các vua Hùng dựng nước. Hát Xoan được tổ chức theo phường Xoan, bao gồm 2-6 nam (kép) trong đó ít nhất phải có 1 kép trẻ, tuổi từ 10-15 và 6-12 nữ (đào). Đứng đầu phường Xoan là một người đàn ông trung niên, thuộc nhiều bài hát Xoan, rành về tục hát Xoan (gọi là ông trùm), để vừa là người hướng dẫn đào kép hát, múa, vừa là người quản lý và giao dịch với các làng mà phường Xoan đến hát.
Bốn phường Xoan cổ là Phù Đức, Kim Đới, Thét (Xã Kim Đức) và An Thái (Xã Phượng Lâu) từ xưa được cộng đồng nhiều làng, xã của tỉnh Phú Thọ, Vĩnh Phúc mời đến biểu diễn vào mỗi dịp hội đình, do đó hát Xoan còn được ghi dấu tại nhiều làng quê khác thuộc tỉnh Phú Thọ và Vĩnh Phúc. Đối với người dân Phú Thọ, không có nghệ thuật hát thờ nào linh thiêng và quyến rũ bằng nghệ thuật hát Xoan.

<tbody>
http://images.danviet.vn/Images/Uploaded/Share/2013/08/05/Hat-Xoan-thong-diep-van-hoa-tam-linh-va-vui-hoi_1.jpg

</tbody>

Các yếu tố của nghệ thuật hát XoanHát Xoan là loại hình nghệ thuật tổng hợp, bao gồm nhiều yếu tố: thơ, nhạc, múa, hát... trong đó hát và múa luôn đi cùng và hỗ trợ nhau, dùng điệu múa minh hoạ nội dung cho lời ca, kết hợp với việc sử dụng các đạo cụ như quạt, phách tre, nậm rượu... Bên cạnh đó, hát Xoan còn có sự gắn bó mật thiết giữa thơ ca và âm nhạc, nhịp điệu thơ và nhịp điệu nhạc, ý thơ và ý nhạc đều có sự thống nhất.
Hát Xoan có 3 kiểu hát (hát nói, hát ngâm ngợi, hát xướng), mỗi kiểu hát có một số nét đặc trưng về giai điệu. Đặc điểm của giai điệu hát nói là sự đồng nhất giữa dấu giọng của lời ca với giai điệu (lời ca của kiểu hát nói thường là thơ 4 hoặc 5 chữ), các quãng trong kiểu hát nói thường là từ quãng 2 đến quãng 5, không bao giờ vượt quá quãng 8. Giai điệu của hát nói không sử dụng nhiều nốt luyến láy mà mộc mạc, giản đơn nhưng dõng dạc, khoẻ khoắn. Trong kiểu hát ngâm ngợi, giai điệu thường mềm mại, uyển chuyển, nhịp tự do, thể hiện tình cảm trữ tình, sâu lắng, có nhiều nốt luyến láy hơn giai điệu hát nói. Còn đối với hát xướng - giai điệu tổng hợp những đặc tính của hát nói và hát ngâm ngợi. Kiểu hát này có nhiều thủ pháp sáng tác được ứng dụng như: nhắc lại, biến tấu, mô phỏng... để phát triển tác phẩm.
Lời ca trong hát Xoan phản ánh khá rõ tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, thờ thần. Cùng với nội dung về thần linh, thần quyền, lời ca trong hát Xoan còn đề cập đến vương quyền và một số chủ đề khác như: nghề nông, các tầng lớp sĩ, nông, công, thương và tình yêu đôi lứa... Lời ca trong hát Xoan được cấu trúc theo nhiều thể thơ (4 chữ, 5 chữ, lục bát, song thất lục bát, thất ngôn, tự do...), bao gồm cả thơ dân gian và thơ bác học. Bên cạnh đó, trong hát Xoan còn có hàng loạt những tiếng đưa hơi và tiếng đệm vào câu hát, tạo nên nét đặc trưng riêng biệt cho loại hình nghệ thuật này.

http://images.danviet.vn/Images/Uploaded/Share/2013/08/05/hatsoan.jpg

Hát Xoan khi diễn xướng chịu sự chi phối của ngữ điệu tiếng Việt gồm 6 thanh: huyền, sắc, hỏi, ngã, nặng và thanh không. Hầu hết các bài hát trong hát Xoan đều là thang 5 âm, bên cạnh đó còn có thang 4 âm và 3 âm.
Hát Xoan chứa đựng nhiều giá trị nổi bật
Ngày 24.11.2011, tại Hội nghị lần thứ 6 của Ủy ban liên chính phủ về Bảo tồn Di sản văn hóa phi vật thể diễn ra tại Bali - Indonesia, Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa UNESCO đã chính thức ghi danh Hát Xoan vào danh mục "Di sản văn hóa phi vật thể nhân loại cần được bảo vệ khẩn cấp".
Theo đánh giá của Hội đồng UNESCO, hát Xoan là loại hình nghệ thuật truyền thống độc đáo bởi tính cổ xưa, chứa đựng nhiều giá trị văn hoá và được cộng đồng gìn giữ qua nhiều thế kỷ, không bị biến mất trong đời sống hiện đại.
Hát Xoan ra đời từ rất sớm, với hình thức ban đầu là nghi lễ thờ vua, cầu mong vua giáng phúc, ban cho mưa thuận gió hoà, mùa màng tốt tươi, đem lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho muôn dân trăm họ. Hát Xoan chứa đựng hai thông điệp về văn hoá, đó là tâm linh (thờ lễ, cầu chúc, khẩn nguyện) và vui hội (trữ tình, giao duyên).
Về mặt nghi lễ, hát Xoan là điệu hát tín ngưỡng thờ Quốc tổ Hùng Vương, cũng là biểu hiện cho tín ngưỡng thờ tổ tiên của người Việt. Lời ca hát Xoan nghi lễ thể hiện rất rõ đạo lý Vua - Tôi.
Ngoài phần nghi lễ, hát Xoan còn là tập hợp những điệu hát trữ tình giao duyên, vừa nôm na lại vừa sâu sắc. Trong lễ hội của làng Xoan, sau phần lễ đều có phần vui chơi mà người phường Xoan gọi là "hát chơi bời" (hát đúm, hát đố, hát đối đáp trai gái...) mang dáng dấp của các bài hát dân ca, ví giao duyên... Lời ca của những bài Xoan này thể hiện tình nghĩa vợ chồng, cha con, đồng thời là tiếng nói thể hiện tâm tư, tình cảm, ước vọng, là cầu nối cho sự đoàn kết trong cộng đồng.
Các làn điệu Xoan cổ đều bắt nguồn từ những làng cổ nằm ở vị trí có địa hình bán sơn địa thuộc địa bàn trung tâm của bộ Văn Lang (thời các vua Hùng dựng nước) - Đây là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng và tác động trực tiếp đến sự ra đời và tồn tại của các làn điệu và cách thể hiện của hát Xoan. Bên cạnh đó, một số truyền thuyết về hát Xoan hiện còn được bảo lưu chính là ánh xạ về sự hình thành và tồn tại của hát Xoan trong tiến trình lịch sử dựng nước và giữ nước của các thế hệ cư dân đất Tổ Hùng Vương.

Hát Xoan được sáng tạo, có bề dày của lịch sử văn hoá và đến nay vẫn còn sức sống trong cộng đồng. Đó là sản phẩm tinh thần của quần chúng nhân dân lao động, được bắt nguồn từ cuộc sống lao động của người nông dân và gắn liền với phong tục, tập quán của cư dân nông nghiệp trồng lúa nước. Sức sống của hát Xoan chính là tổng hợp của loại hình hát lễ nghi và hát giao duyên, tồn tại lâu dài và được nhiều thế hệ ưa thích, trân trọng, gìn giữ và bảo tồn. Đây cũng chính là một trong những tiêu chí quan trọng để loại hình nghệ thuật dân gian độc đáo này được UNESCO đánh giá và vinh danh.
Theo Dân Việt

sứa
14-08-2013, 11:45 AM
<tbody>
Về nghe quan họ Bắc Ninh


Chắc hẳn ai trong chúng ta đã một lần được nghe quan họ Bắc Ninh đều không quên được hình ảnh các liền anh, liền chị lúng liếng hát giao duyên. Những giai điệu sâu lắng trữ tình, ca từ dạt dào tha thiết dễ đi vào lòng người. Và trên tất cả, tính nhân văn đằng sau mỗi câu hát là cử chỉ, cách ứng xử thật khéo léo, tế nhị, kín đáo và mang đầy ý nghĩa như các làn điệu mời nước, mời trầu thật chân tình, nồng thắm mỗi khi có khách đến chơi nhà…




Có lẽ đó chính là lý do để quan họ trở thành biểu tượng của vùng Kinh Bắc và là món ăn tinh thần của biết bao người dân Việt Nam. Ngay cả kiều bào xa quê hương đã nhiều năm vẫn giữ trong mình tình yêu với dân ca quan họ. Chẳng thế mà bạn tôi bảo cứ chiều thứ ba và chủ nhật hàng tuần, tại khu nhà văn phòng Trung tâm thương mại Đồng Xuân ở thủ đô Béclin lại vang lên những làn điệu quan họ Bắc Ninh. Đó là Đội quan họ của Hội đồng hương Kinh Bắc tại Đức luyện tập cho những buổi giao lưu, biểu diễn.
http://baobacninh.com.vn/resources/upload/anh%2015-11-2012/anh%2018-6-2013/a12.jpg
Nhắc đến quan họ người ta nhớ đến những làn điệu dân ca của vùng đồng bằng Bắc Bộ, tập trung chủ yếu ở vùng Kinh Bắc (Bắc Ninh và Bắc Giang). Đây là môn nghệ thuật được hợp thành bởi nhiều yếu tố như âm nhạc, lời ca, phục trang, lễ hội … với một lối hát giao duyên dân dã, thể hiện mối quan hệ gắn bó tình nghĩa giữa những liền anh, liền chị hát quan họ và là nét văn hóa tiêu biểu của người dân vùng Kinh Bắc.


Quan họ là thể loại dân ca phong phú nhất về mặt giai điệu trong kho tàng dân ca Việt Nam. Với 213 giọng khác nhau và hơn 400 bài ca. Lời một bài ca có hai phần: lời chính và lời phụ. Lời chính là thể thơ và ca dao của Việt Nam, phần lớn là thể lục bát, lục bát biến thể, bốn từ hoặc bốn từ hỗn hợp với từ ngữ giàu tính ẩn dụ, trong sáng, mẫu mực. Đây là phần cốt lõi, phản ánh nội dung của bài ca là thể hiện tình yêu lứa đôi. Lời phụ gồm tất cả những tiếng nằm ngoài lời ca chính, là tiếng đệm, tiếng đưa hơi.


Trang phục của liền anh là áo dài 5 thân, cổ đứng, có lá sen, viền tà, gấu to dài tới quá đầu gối. Còn các liền chị đằm thắm hơn trong áo mớ ba mớ bảy, yếm lụa, nón quai thao lúng liếng mắt môi. Những câu dân ca quan họ mang đến cho làng quê Kinh Bắc một nét đẹp văn hóa nhiều ý nghĩa. Cùng với hát ca trù, nhã nhạc cung đình Huế, không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, thì quan họ đã được UNESCO công nhận là di sản phi vật thể của thế giới cần được bảo tồn và phát huy giá trị.



Vũ Thị Huyền Trang


</tbody>

tomhe
24-03-2014, 01:25 PM
<tbody>
Hát trống quân Dạ Trạch - làn điệu cổ hồi sinh


"Tháng Bảy anh cắm cành đa/ Hẹn nàng tháng Tám nàng ra chốn này/ Bây giờ không thấy nàng đâu /Hay là nàng bỏ chốn này nàng đi”… Câu hát gọi cất lên hòa với nhịp trống quân âm vang như một lời mời tình tứ mà ý nhị. Trong không khí tưng bừng của ngày hội Tiên Dung- Chử Đồng Tử, chúng tôi có dịp thưởng thức làn điệu trống quân xã Dạ Trạch (huyện Khoái Châu, Tỉnh Hưng Yên).






http://daidoanket.vn/Pictures/bao%20tuan/_2013/85/2013_85_8_A8.jpg



Hát Trống quân rộn ràng mỗi dịp
hội làng và những khi Tết đến, Xuân về



Dung dị làn điệu cổ


Hát trống quân ở Dạ Trạch không biết có từ bao giờ. Nhưng theo truyền thuyết kể lại rằng: Vào đời vua Hùng thứ 3, công chúa Tiên Dung trong một chuyến du ngoạn dọc theo sông Hồng đã có mối duyên kì ngộ với chàng trai nghèo Chử Đồng Tử. Đôi vợ chồng không môn đăng hộ đối ấy đã cùng người cải tạo cả một vùng lau sậy bạt ngàn và những bãi cát hoang sơ thành làng quê trù phú. Công chúa Tiên Dung đã dạy nhân dân cách trồng lúa, ươm tơ, dệt vải và dạy cả điệu hát trống quân. Tương truyền thì điệu hát trống quân ra đời từ đó. Nhưng chắc chắn đây là làn điệu dân ca của người dân đồng bằng Bắc Bộ, một điệu hát giao duyên ứng tác còn tồn tại trên mảnh đất Dạ Trạch.


Khác với trống quân Đức Bác (Vĩnh Phúc) là cuộc diễu hành nghệ thuật trao duyên mà không gian diễu hành bằng lời hát đối ứng giữa nam (kép) và nữ (đào) diễn ra suốt từ bến quán đến làng xóm và về đến cửa đình của làng mới mãn cuộc đối đáp đôi bên, hát trống quân ở Dạ Trạch dựa trên nền thơ lục bát dung dị, dễ nhớ cùng với nhạc điệu là chiếc trống quân độc đáo, mang tính đặc trưng của khu vực đồng bằng sông Hồng. Chia sẻ với chúng tôi, nghệ nhân Nguyễn Hữu Bổn- Chủ nhiệm CLB hát Trống quân Dạ Trạch dí dỏm: "Trống quân Dạ Trạch có những nét đặc sắc mà theo tôi không thể tìm thấy ở bất kỳ đâu. Sự đặc sắc đó thể hiện trong những lời hát giao duyên cổ có từ ngàn đời mang nhiều ý nghĩa. Đồng thời hát trống quân nơi đây được biểu diễn với một loại nhạc cũ rất đặc biệt, đó là chiếc trống thùng”.


Thật vậy, trống quân không giống với bất kỳ loại trống nào khác, chiếc trống thực chất là một chiếc thùng gỗ, kèm theo một đoạn dây mây, một cái chạc để kê dây, hai cọc để buộc dây và dùi trống để người hát vừa hát vừa gõ nhịp. Hai người ngồi đối diện nhau vừa hát vừa cầm dùi gõ nhịp lên dây mây, tiếng khoan tiếng nhặt, đều đặn hòa với lời hát đối đáp của trai gái, đôi này hát xong lại chuyển cho đôi khác hát tiếp cho đến khi tàn hội, hát chào, hát giã bạn mọi người mới dần ra về.


Điểm đặc sắc nữa của hát trống quân là không có lời bài hát cố định, đòi hỏi khả năng ứng tác nhanh. Ông Bổn kể lại: Trước đây, mỗi lần vào đám hát trống quân, nam nữ trong làng tụ hội lại, khi người nữ hoặc người nam ngồi xuống xướng lên lời chào, trong đám có đối đáp được thì vào hát, hoàn toàn ngẫu hứng. Bài hát ấy là do hai người hát hợp nhau tạo thành, hát hay đối giỏi thì được khen, được thưởng, hát dở mà đối chệch thì bị chúng bạn, người xem chê cười, lại khó mà kết được bạn.


Thăng trầm lịch sử


Trải qua bao thăng trầm, rồi qua cả một thời gian dài bị chìm lắng tưởng chừng như không còn ai nhớ đến tiếng hát trống quân dìu dặt ấy nữa, thì đến năm 1994, hát trống quân ở Dạ Trạch đã có dịp được hồi sinh.


Ông Bổn cho biết: Để có được những canh hát trống quân cổ với gần 2000 câu giao duyên, đối đáp đằm thắm, ông đã phải mất nhiều năm đi khắp nơi sưu tầm lại. Nhớ lại những ngày tháng ấy, ông tâm sự: "Mấy chục năm trước, tôi cùng anh Nguyễn Duy Phí, nguyên Giám đốc nhà hát tuồng Hải Phòng đạp xe lặn lội khắp trong vùng để tìm lại những canh hát trống quân cổ. Chúng tôi đã tìm gặp những cụ cao niên trong vùng một thời hát trống quân để ghi lại từng câu, từng chữ một”. Năm 1994, CLB hát trống quân Dạ Trạch với 8 thành viên do ông đứng đầu đã chính thức ra đời và có những buổi sinh hoạt đều đặn. "Thành lập một hội hát trống quân giữa thời điểm mà ít ai còn nhớ đến, chúng tôi cũng biết là rất khó khăn, nhưng vẫn tin rằng, nếu thực sự làm sống lại được những làn điệu ấy, chắc chắn sẽ có nhiều người cùng yêu thích, hát trống quân sẽ được lưu giữ và phát triển”, ông Bổn tâm sự.


Từ năm 1994 đến nay, với 19 thành viên, CLB hát trống quân Dạ Trạch vẫn được tổ chức sinh hoạt đều đặn và tham gia nhiều buổi biểu diễn, các chương trình văn hóa- văn nghệ trong và ngoài tỉnh, đem về những tấm huy chương danh giá cho làn điệu trống quân. Điều đặc biệt là hát trống quân đã được đưa vào Khoa sáng tác- Học viện Âm nhạc quốc gia Việt Nam như một môn học chính.



http://daidoanket.vn/Pictures/bao%20tuan/_2013/85/2013_85_8_A10.jpg



Nghệ nhân Nguyễn Hữu Bổn
say mê sáng tạo những lời ca mới



Nỗ lực gìn giữ một di sản


Trải qua gần 20 năm, lớp thành viên đầu tiên của CLB trống quân Dạ Trạch nay đã già, và cũng không còn thường xuyên đi hát nữa. Cái khó nhất là các nghệ nhân đã cao tuổi vẫn phải ăn vận áo mớ ba, mớ bảy, khăn đứng áo dài, phải thanh xuân hóa như trai thanh, gái lịch, phải quên đi mình đã là các cụ, ông, bà để đắm say cùng lời ca tiếng hát thuở 18, đôi mươi. Đứng trước nguy cơ trống quân quê mình lại bị thất truyền, mai một, ông Bổn quyết định liên hệ với trường Tiểu học và THCS Dạ Trạch để đưa trống quân vào trường học và ông đã nhận được sự hưởng ứng nhiệt tình của thầy và trò. Có được sự hưởng ứng và niềm yêu thích của những người trẻ với làn điệu quê hương, từ đầu năm 2011 đến nay, cứ một tuần 2 buổi, ông lại đạp xe đi ra trường dạy những học trò của mình hát trống quân. Hiện ông đang dạy cho hơn 100 cháu và hứa hẹn sẽ có nhiều hơn thế nữa. Bên cạnh đó, ngày ngày ông vẫn cần mẫn ghi chép lại các bài hát, sáng tác thêm những lời ca mới cho phù hợp.


Việc truyền dạy lại để bảo tồn những canh hát trống quân không phải là khó. Nhưng theo nhà nghiên cứu Bùi Trọng Hiền thì việc lưu truyền hình thức hát trống quân Dạ Trạch trong thời đại mới lại là việc cực kỳ khó. Mong rằng, ngoài tình yêu và những cố gắng của CLB hát trống quân Dạ Trạch, lãnh đạo địa phương nên sớm có sự quan tâm đúng mức để lưu giữ, bảo tồn điệu hát trống quân cũng như phát triển nét văn hóa đặc sắc này một cách bền vững, để nó không chỉ là niềm tự hào của vùng đất Hưng Yên.

Lưu Nhung/Đại đoàn kết


</tbody>

tomhe
27-03-2014, 10:45 AM
Rối nước Hồng Phong bền vững cùng năm tháng

<tbody>

<tbody>
Rối nước Hồng Phong được biết đến với những con rối có hình thù ngộ nghĩnh cùng những vở diễn khá hài hước, mang đậm dấu ấn làng quê. Nhiều vở diễn chỉ đơn giản là diễn lại các hoạt động thường ngày của người nông dân, quanh năm chân lấm tay bùn, nhưng để lại cho người xem một ấn tượng khá đặc biệt…

Tồn tại sau 5 thế kỷ, Phường Rối nước Hồng Phong (thôn Bồ Dương, xã Hồng Phong, huyện Ninh Giang, Hải Dương) vẫn luôn khẳng định được tên tuổi của mình, không chỉ trong nước mà còn vươn mình ra thế giới, tiếp tục lan truyền và phát triển ngày càng mạnh mẽ.

Theo các cụ bô lão trong làng, nghệ thuật rối nước có từ khoảng thế kỷ 17. Trải qua nhiều thăng trầm và biến cố của lịch sử, Phường Rối cũng có lúc tưởng chừng như bị mai một, nhưng với sự đam mê con rối của những nghệ nhân nơi đây nên rối nước đã được khôi phục lại. Phường Rối nước Hồng Phong đang hoạt động thực chất được lập ra năm 1989, và cho tới năm 1992 mới được Sở Văn hóa huyện Ninh Giang (lúc bấy giờ là huyện Ninh Thanh) chính thức công nhận. Năm 1995, Hiệp hội Múa rối nước Việt Nam (UNIMA Việt Nam) ký quyết định công nhận Phường Rối nước Hồng Phong là hội viên chính thức của Hiệp hội.

Trải qua hơn hai mươi năm hoạt động chính thức, khôi phục và phát triển, Phường Rối nước Hồng Phong đã có những bước đi vững chắc, khẳng định được mình trong sự phát triển chung của loại hình văn hóa nghệ thuật dân gian của cả nước. Gần đây nhất vào cuối năm 2013, Phường Rối nước Hồng Phong đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chứng nhận là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.
Không chỉ diễn trong các ngày lễ hội của làng, Phường Rối nước Hồng Phong còn mở rộng tham gia biểu diễn nhiều nơi trên cả nước và đã đạt nhiều thành tích đáng kể. Năm 1994, Phường tham gia Hội diễn múa rối nước toàn quốc đoạt Huy chương vàng, nhận nhiều bằng khen, giấy khen của Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh Hải Dương, UBND huyện Ninh Giang. Năm 2004, Phường tham dự Festival Huế và nhiều lần biểu diễn tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, được nhiều nhà nghiên cứu về văn hóa đánh giá cao. Tham gia Hội diễn múa rối nước tỉnh Hải Dương, Phường Rối nước Hồng Phong đạt thành tích xuất sắc, nhận nhiều bằng khen và huy chương. Từ đó, số bằng khen, giấy khen, huy chương mà Phường Rối đạt được cũng tăng lên. Xong phần thưởng cao quý nhất mà Phường Rối nước Hồng Phong có được đó sự mến mộ của nhân dân ở những miền quê mà Phường đến biểu diễn.



<tbody>

http://quehuongonline.vn/Uploads/LibraryImages/bs_Roi-nuoc-Hong-Phong-(1).jpg

Nghệ nhân Phạm Văn Tòng bên cạnh những con rối

</tbody>

Ngoài sự mến mộ của nhân dân trong nước, Phường cũng nhận được sự yêu mến và đón nhận môn nghệ thuật này một cách hăng say từ những du khách nước ngoài như Pháp, Đức, Hàn Quốc… Không chỉ có thế, với sự đam mê và hăng say nghệ thuật rối nước của Việt Nam, Đoàn rối của Pháp cũng đã sang Việt Nam và tới Phường Rối Hồng Phong để học cách múa rối nước. Quả thực, nghệ thuật rối nước Hồng Phong có sức lan tỏa mạnh mẽ. Hàng năm, Phường đón khoảng hơn 4.000 lượt khách nước ngoài tới xem biểu diễn.

Có nhiều người hỏi rối nước có gì thú vị? Những ai đã từng được xem múa rối nước mới biết được cái thú vị và sức hút của nó.
Ông Phạm Văn Tòng, Trưởng Phường Rối nước Hồng Phong, người đã có hơn hai mươi năm gắn bó với nghề, chia sẻ về nghệ thuật tạo hình con rối: “Những con rối vô tri nhưng lại được những bàn tay khéo léo của nghệ nhân “thổi hồn” vào, khiến chúng trở nên sống động, nhất là khi ở dưới nước. Trước tiên để có những con rối phục vụ cho hoạt động múa rối thì các nghệ nhân trong làng phải tạo ra các nhân vật rối trước. Để những con rối có thể dễ dàng nổi trên mặt nước và để cho các nghệ nhân dễ dàng điều khiển, thì loại gỗ được chọn phải là gỗ sung, kích cỡ tùy thuộc vào nhân vật rối. Các nghệ nhân cũng phải tìm hiểu xem kích thước con rối là bao nhiêu cho phù hợp để khi cho rối xuống nước thì con rối chỉ chìm 1/3 còn 2/3 sẽ nổi trên mặt nước. Để có một nhân vật rối hoàn chỉnh thì quy trình làm khá phức tạp và cầu kỳ. Phải có sự liên tưởng để tạo hình thù cho con rối, từ đẽo thô cho tới phơi khô rồi đến chạm khắc, tô màu và cuối cùng là lắp ráp các hệ thống dây vào chân tay cho con rối. Từ đó, nghệ nhân điều khiển qua hệ thống dây nối thì con rối có thể cử động được”.


<tbody>

http://quehuongonline.vn/Uploads/LibraryImages/bs_Roi-nuoc-Hong-Phong-(2).jpg

Những con rối của Phường Rối nước Hồng Phong được trưng bày tại nhà triển lãm

</tbody>

Những con rối được tạo ra có hình thù đơn giản, chủ yếu dựa trên những tích trò của những nghệ nhân nghĩ ra để chơi trong các ngày lễ hội. Lúc đầu, những tích trò cũng đơn giản như tái hiện lại các trò chơi hay những việc làm thường ngày của người nông dân như: chăn vịt, úp nơm, đi cấy hay là sóc leo cây, Tễu vuốt râu rồng, đô vật, múa tiên… Sau là những tích trò như: vinh quy bái tổ, rước Trạng về làng… Những tích trò này lúc trước chỉ để diễn trong các dịp lễ hội, nhưng những năm trở lại đây được diễn phổ biến hơn do có khách du lịch từ nước ngoài tới và muốn được xem Phường biểu diễn. Ông Tòng cho biết, ngày nào phường Rối cũng có buổi diễn phục vụ khách du lịch và chủ yếu là khách du lịch đến từ Pháp.

Để tạo nên sự thành công của một vở diễn thì giữa nhạc, lời thuật của nghệ nhân xướng lời và hành động của con rối dưới nước phải ăn khớp với nhau. Cả ba yếu tố kết hợp lại tạo nên một vở diễn hoàn chỉnh hài hòa, làm cho người xem có cảm giác như các nhân vật rối đang làm những công việc giống như thật, mang tới sự say mê, hào hứng.

Khi được hỏi về múa rối nước, cụ Bính, một người cao tuổi trong làng, hào hứng: “Tôi là người trong làng, xem múa rối cũng nhiều nhưng tôi chẳng bao giờ thấy chán. Càng xem tôi càng thấy hào hứng, nhất là đoạn mở đầu mỗi vở diễn rùa vàng ngậm khói lặn sâu trong nước rồi bất ngờ nhô lên phun ra khói xanh, đỏ, tím, vàng, đôi ngựa sóc thì phi ra giao đấu múa tít quay cuồng không phân thắng bại, rồi bất ngờ cờ lọng từ dưới nước tung lên bay phần phật trong gió… Ngày nào tôi cũng ngồi ngoài đình làng cùng mấy ông bạn để đợi có ca biểu diễn là xem vì ở đây hầu như ngày nào cũng có ít nhất một ca diễn. Tôi ít khi bỏ lỡ buổi diễn nào trừ khi có công chuyện”.

Rối nước là một môn nghệ thuật có vai trò quan trọng trong đời sống của người dân Hồng Phong, nó vừa là một trò giải trí lành mạnh, vừa là món ăn tinh thần không thể thiếu của nhân dân. Đồng thời, với những vở diễn đi vào cuộc sống, rối nước còn có khả năng thông tin hiệu quả, cổ vũ toàn dân thực hiện một cách nhanh chóng và nghiêm chỉnh các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước.

Nghệ thuật Rối nước Hồng Phong mang đậm dấu ấn bản sắc dân tộc cần được bảo tồn và phát triển hơn nữa. Hiện chính quyền sở tại và các cấp chính quyền huyện, tỉnh đã có những đề án nhằm bảo tồn và phát triển bền vững môn nghệ thuật này.
Hoàng Hiền/theo quehuongonline




</tbody>





</tbody>

thocon
05-04-2014, 11:02 AM
Đờn ca tài tử - tình người, tình đất phương Nam
Đờn ca tài tử thể hiện cái hồn, tình người, tình đất phương Nam, khi nào hồn không còn thì Đờn ca tài tử mới có thể mất đi. Hiện nay, Đờn ca tài tử ngày càng được phát triển rộng khắp các tỉnh Nam Bộ và lan tỏa đến nhiều tỉnh trong cả nước.

Tài tử hội tụ

Nghệ thuật Đờn ca tài tử vốn đã có sức sống mạnh mẽ trong đời sống văn hóa, tinh thần của người dân Nam Bộ nên lo bị mai một. Điều quan trọng là làm thế nào để phát huy giá trị và quảng bá nghệ thuật Đờn ca tài tử đến đông đảo người dân trong nước và quốc tế. Sau sự kiện vinh danh Đờn ca tài tử Nam Bộ, một Liên hoan hội tụ đủ các tài tử đờn, tài tử ca của 21 tỉnh/thành phố Nam Bộ tại Bạc Liêu, một bữa tiệc của những người yêu mến loại hình nghệ thuật truyền thống, của cộng đồng người dân phương Nam bày tỏ niềm tự hào, vinh dự với những “ngón đờn” mùi nhất, hay nhất.Một hoạt động góp phần bảo tồn, tôn vinh, quảng bá và phát huy giá trị di sản trong đời sống không chỉ trong nước mà ra cả quốc tế. Qua đó định hướng bảo tồn, phát triển nghệ thuật Đờn ca tài tử trong đời sống hiện đại. Liên hoan cũng sẽ giới thiệu đất nước, con người Bạc Liêu nói riêng và đặc biệt là tính cách phóng khoáng, trọng nghĩa tình, nhân hậu, thủy chung của người Nam Bộ nói chung đến bạn bè trong nước và quốc tế, thu hút du khách đến với vùng đất Nam Bộ - quê hương của di sản.
<tbody>
http://langvietonline.vn/ImageHandler.ashx?ThumbnailID=122467


Các nghệ nhân biểu diễn Đờn ca tài tử trong Lễ đón nhận bằng UNESCO vào ngày 11/02/2014. Ảnh: Anh Tuấn.

</tbody>

Không lo mai một…

Có lẽ hồ sơ về nghệ thuật Đờn ca tài tử gây ấn tượng với UNESCO bởi sức sống, sức lan tỏa đậm đặc của di sản trong đời sống người dân Nam Bộ. Ở nông thôn, các câu lạc bộ Đờn ca tài tử do người nông dân tự thành lập và sinh hoạt thường xuyên lúc thảnh thơi, xong vụ mùa hay sau phiên chợ nổi. Ở nhiều gia đình truyền thống vẫn có 3 - 4 thế hệ sinh hoạt Đờn ca tài tử, những điểm du lịch luôn có Đờn ca tài tử để biểu diễn cho khách xem.Bà Lê Thị Ái Nam, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Bạc Liêu cho biết: Riêng Bạc Liêu hiện có hơn 300 CLB Đờn ca tài tử với hơn 2.000 thành viên. Ngoài ra, tỉnh còn xây dựng thêm các CLB Đờn ca tài tử gắn với các khu, điểm du lịch để phục vụ du khách, tăng cường giao lưu, quảng bá. Mặt khác, khi sinh ra, người dân Nam Bộ đã được ru bằng những điệu lý hoặc những câu vọng cổ, nghệ thuật Đờn ca tài tử như gắn trong máu thịt của họ. Do đó, một lần nữa khẳng định, Đờn ca tài tử không thể nào mai một trong đời sống văn hóa, tinh thần của người dân Nam Bộ.…

Chỉ lo phát triển

Để phát huy giá trị và bảo tồn di sản một cách bền vững, sau Liên hoan cần nhiều hành động thiết thực hơn nữa. Theo bà Lê Thị Ái Nam thì điều cần thiết hiện nay là định hướng bảo tồn gắn với phong trào Đờn ca tài tử từ ở cơ sở với phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa. Đơn cử như, việc công nhận một ấp, xóm văn hóa sẽ gắn với xây dựng câu lạc bộ Đờn ca tài tử, trao tặng cho CLB các nhạc cụ, hệ thống âm thanh. Kể cả tại một số điểm du lịch cũng hỗ trợ nhạc cụ, hệ thống âm thanh và các trang phục biểu diễn phục vụ du khách. Đó là những việc làm cụ thể để giao lưu, phát triển nghệ thuật Đờn ca tài tử.Ngoài ra, xu hướng không chỉ nông thôn mà ở thành thị, giới trẻ rất yêu thích nghệ thuật Đờn ca tài tử. Trong các trường đại học, trung cấp chuyên nghiệp đã có hướng bảo tồn bằng cách xây dựng các CLB Đờn ca tài tử. Ví như, CLB Nghệ thuật Đờn ca tài tử của Đại học Bạc Liêu hoạt động tích cực. Trường Trung cấp Văn hóa nghệ thuật còn biên soạn giáo trình để đưa bộ môn vào trường giảng dạy. Sắp tới, tỉnh sẽ đưa bộ môn nghệ thuật Đờn ca tài tử vào các trường phổ thông qua giáo viên dạy nhạc. Sẽ tập huấn cho giáo viên dạy nhạc và các trung tâm văn hóa tổ chức các lớp để dạy nghệ thuật Đờn ca tài tử cho người dân, đặc biệt là giới trẻ… Điều này sẽ góp phần bảo tồn nghệ thuật Đờn ca tài tử lâu dài hơn, bền vững hơn, quảng bá di sản được rộng hơn như kế hoạch và chương trình hành động mà chúng ta cam kết với UNESCO.
Huỳnh Trường Sơn - Ngô Xuân Trường/theo langvietonline

tomhe
15-04-2014, 11:33 AM
Độc đáo hát Dậm Quyển Sơn Hà Nam là một trong những cái nôi của nền nghệ thuật truyền thống, tiêu biểu như: hát chèo, dân ca ngã ba sông Móng và đặc biệt là múa hát Dậm Quyển Sơn.

Hát mừng chiến thắng

Hát Dậm là hình thức ca nhạc phục vụ trong lễ hội đền Trúc, ở thôn Quyển Sơn, xã Thi Sơn, huyện Kim Bảng, Hà Nam được tổ chức mỗi năm một lần vào dịp đầu xuân. Loại hình dân ca diễn ra ở cửa đình, cửa đền với nội dung ca ngợi công đức của Thành Hoàng làng, cầu chúc cho quốc thái dân an, trồng trọt chăn nuôi phát triển.
<tbody>
http://langvietonline.vn/ImageHandler.ashx?ThumbnailID=122477

</tbody>

Theo truyền thuyết kể lại, múa hát Dậm ra đời từ thời nhà Lý. Tương truyền khi xưa Lý Thường Kiệt nhận chỉ vua Lý Thánh Tông bình định Chiêm Thành. Khi qua Quyển Sơn gặp bão có dừng lại nghỉ chân. Trong đêm, Ngài nằm mộng thấy mẹ con bà bán hàng nước xin đi theo phù giúp đánh giặc. Quả nhiên trận đó Lý Thường Kiệt thắng lớn, trên đường trở về kinh đô ông hạ lệnh dừng lại Quyển Sơn làm lễ tạ ơn mẹ con bà bán hàng nước. Tại đây Ngài đã lựa chọn những cô gái trinh nguyên dạy cho họ những làn điệu, những câu hát mừng vui chiến thắng. Khi ông mất, nhân dân lập đền thờ và phong ông là Thành Hoàng làng, hàng năm dân làng mở hội tưởng nhớ công lao của Ngài vừa tổ chức múa hát Dậm vui chơi.Trong ngày hội đền Trúc, ngoài nghi lễ dâng hương rước kiệu, rước võng thể hiện lòng thành kính ghi tạc công đức người anh hùng Lý Thường Kiệt, múa hát Dậm trở thành món ăn tinh thần không thể thiếu của nhân dân Quyển Sơn: Người về xem hội làng tôi/ Tháng hai ngày sáu xin mời về xem/ Xem phong cảnh đẹp đất trời/ Nghe câu hát Dậm mượt mà làng tôi.Tuyển tập hát Dậm được lưu giữ hiện nay có khoảng 38 làn điệu gồm: Múa chèo, chảy quân, chèo quỳ, múa hương, giáo vọng, quỳ thực quỳ hoa, phong pháo, phong ống... Các nội dung chủ yếu của hát Dậm xoay quanh việc ca ngợi công đức của Lý Thường Kiệt - người có công trong việc đặt tên làng và dạy nhân dân những lời ca điệu múa Dậm. Những bài hát phản ánh không khí đấu tranh một thời hào hùng của dân tộc trong cuộc chiến tranh bình định Chiêm Thành. Với cảnh đóng quân lập ấp, làm súng đạn, làm pháo, chèo thuyền. Bên cạnh đó, múa hát Dậm phản ánh cuộc sống sản xuất nông nghiệp của cư dân Quyển Sơn thời bấy giờ đó là nền sản xuất nông nghiệp trồng lúa nước, trồng dâu, nuôi tằm. Một nội dung không thể thiếu trong múa hát Dậm là tình cảm gia đình và hạnh phúc lứa đôi. Đó là tình yêu thuỷ chung son sắt của người phụ nữ ngóng trông chờ chồng đi đánh giặc, là lời nhờ cậy của người chồng đối với vợ thay mình chăm sóc mẹ già đầy xúc động, là cảnh chia tay bịn rịn người yêu đi lính của chàng trai.

Điểm khác biệt của hát Dậm

Đứng đầu đội Dậm là bà Trùm. Bà là người thuộc tất cả các bài hát, điệu múa và trực tiếp tham gia tuyển chọn các con Dậm. Tính đến đời bà Trùm Trịnh Thị Phẩm, đội múa hát Dậm Quyển Sơn đã trải qua năm đời Trùm. Các bà Trùm là người hát hay múa dẻo và thuộc tất cả các làn điệu múa Dậm. Ngoài việc dạy múa hát bà Trùm còn là người phát hiện đào tạo thế hệ kế cận nhằm bảo lưu, gìn giữ loại hình dân ca truyền thống này. Đội múa hát Dậm có khoảng 12 con Dậm, với độ tuổi từ 14 đến 18 là những cô gái trinh nguyên chưa lập gia đình. Đội Dậm thường được tuyển chọn hàng năm vì theo bà Trùm Trịnh Thị Phẩm có em đi học cao đẳng, đại học xa nhà, có em nghỉ học thì lập gia đình không tham gia được.Trong những ngày diễn ra lễ hội, trước bàn thờ Thánh khi diễn xướng bà Trùm mặc áo lụa vàng, đội khăn vàng đứng giữa. Dọc hai bên là mười đến mười hai thiếu nữ xinh tươi, duyên dáng trong tà áo dài trắng, đầu đội khăn vấn màu đỏ, thắt lưng màu đỏ, đứng thẳng hàng quay mặt vào ban thờ và cùng hát xướng. Đây là điểm khác biệt của hát Dậm với các loại hình dân ca khác, nếu như hát Xoan (Phú Thọ), hát Quan họ (Bắc Ninh) vận động theo hình thức đối đáp nam nữ thì hát Dậm Quyển Sơn lại vận động trên cơ sở đồng xướng. Thông thường trước mỗi làn điệu bà Trùm bao giờ cũng hát mấy câu dạo đầu theo kiểu lĩnh xướng và làm một số động tác múa mẫu để con Dậm hát và múa theo.Nhạc cụ của hát Dậm khá đơn giản không có đàn, sáo, nhị, trống mà chỉ dùng đôi sênh (làm bằng gỗ trắc và tre gõ vào nhau) do bà Trùm gõ nhịp lúc khoan, lúc nhặt, tạo ra nhịp điệu đều đều các cô gái đồng trinh sẽ vừa múa vừa hát theo nhịp gõ. Điều đặc biệt của hát Dậm Quyển Sơn là không thể hiện rõ tính nghề nghiệp và không có phường, hội như các loại hình dân ca khác. Nếu như hát Ví (Nghệ Tĩnh) có ví phường vải, ví phường nón, ví phường buôn. Hát Xoan Phú Thọ có phường Xoan thì hát Dậm Quyển Sơn chỉ có một đội duy nhất. Trải qua bao thăng trầm, sinh hoạt hát Dậm vẫn hiện diện ở làng Quyển Sơn. Trong sâu thẳm tâm linh cùng với nhận thức rõ giá trị của hát Dậm, dân làng Quyển Sơn đã và đang duy trì sinh hoạt văn hóa phi vật thể này, mong muốn và hy vọng hát múa Dậm sẽ ngày càng được lưu truyền và phát triển.
<tbody>
Lễ hội đền Trúc ở thôn Quyển Sơn diễn ra từ ngày mùng 1 đến mùng 6 tháng 2 âm lịch hàng năm, nhằm tưởng nhớ, ca ngợi công đức Thành Hoàng làng - Lý Thường Kiệt, đồng thời giáo dục tinh thần uống nước nhớ nguồn đối với thế hệ con cháu. Trong lễ hội không thể thiếu phần múa hát Dậm thể hiện không khí trang nghiêm, thành kính với người đã có công dựng lên làng và để làm phần hội thêm đông vui, hấp dẫn thu hút khách thập phương.

</tbody>


Đinh Hà Phương/langvietonline

tomhe
21-04-2014, 02:24 PM
Đặc trưng điệu Mơi xứ Mường
Những bậc cao niên ở bản Ao Luông II (xã Sơn A, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái) đều bảo rằng, múa Mơi là điệu múa đặc trưng nhất cho cộng đồng người Mường nơi đây và được xếp vào hàng những điệu múa “thiêng”...
... Bởi múa Mơi có sự kết hợp rất chặt chẽ với các hình thức lễ nghi do ông mo của bản chủ trì.

Về gốc tích, chẳng ai nhớ nổi, múa Mơi có tự bao giờ, chỉ biết rằng từ đời cha ông truyền lại thì cứ độ cuối Xuân đầu Hạ hàng năm, bà con trong bản lại tập trung tại nhà của ông mo uy tín nhất để múa mời tổ tiên, các vị thần linh hạ trần cùng vui chơi với con cháu.

Ý nghĩa của điệu múa chính là để tạ ơn các đấng bề trên một năm qua đã phù hộ, che chở cho bản mường làm ăn phát đạt, gặp nhiều may mắn, mưa thuận gió hoà, mùa màng tốt tươi, thóc lúa đầy bồ, con cháu mạnh khoẻ...

Ngày diễn ra lễ múa Mơi, sân trước nhà ông mo bao giờ cũng được dựng một cây nêu trang trí bằng nhiều họa tiết có ý nghĩa tâm linh. Mâm lễ vật (pán cạo) được chuẩn bị để thỉnh cầu thần linh hạ giới gồm: 01 thủ lợn, bánh chay (pèng chay), bánh trưng (pèng chưng), bánh ống (pẻng ống), cơm, xôi, rau chay, măng, lá đu đủ, 1 nải chuối, rượu.
<tbody>

http://images.danviet.vn/Images/Uploaded/Share/2014/04/21/mua-moi.jpgLễ hội chính thức được diễn ra ở nhà ông Mo lớn. (Ảnh: Báo Yên Bái)






</tbody>



Và một lễ vật có ý nghĩa rất quan trọng trong lễ hội này là cây bông (tiếng Mường là “cần boồng”). Chọn đúng giờ lành, thầy mo trong trang phục truyền thống, đầu cuốn khăn Mơi, tay cầm quạt giấy ngồi trên chiếc chiếu trải trước gian thờ để khấn xin thần linh. Sau đó, thầy mo sẽ múa điệu múa mời các nàng tiên trên trời xuống để dự lễ hội múa vui cùng bà con dân bản.

Múa chừng 15 - 20 phút, theo hiệu lệnh của thầy mo, mọi người sẽ chuyển sang điệu “Mùa Cuổi” (múa Cuội) tức là thần tiên đã hạ phàm. Đây là màn múa cao trào nhất, điệu múa mang ý nghĩa rằng thần tiên ở trên trời đã nghe thấy lời cúng khấn của con cháu, xuống trần gian cùng vui chơi.

Ở điệu “Mùa Cuổi”, còn có một phần rất đặc biệt đó là phần “phán bông” của thầy mo, các sơn nữ trẻ rất náo nức đón đợi phần này bởi qua lời phán của thầy mo một trong số các sơn nữ xinh đẹp, đảm đang, khéo léo tham gia và công việc chuẩn bị cây bông sẽ được thầy chọn và phán là người khéo tay nhất đã làm ra bông hoa đẹp nhất.

Sau một hồi múa vui, thầy mo sẽ ra hiệu cho mọi người chuyển sang điệu múa mô tả những trò chơi thể thao, các trò chơi ở đây chủ yếu là ném còn, đánh đu, kéo co… Kết thúc lễ hội múa Mơi, tất cả bà con trong bản sẽ quây quần bên nhau, chúc nhau chén rượu và hẹn năm sau thần tiên sẽ quay trở lại vui cùng bản mường.

“Điệu Mơi của dân tộc Mường chúng tôi đã có từ rất lâu đời. Bước vào điệu Mơi, mọi lo toan đời thường tiêu tan hết, mỗi người cảm thấy yêu bản làng, gắn bó với cuộc sống, hăng say lao động hơn. Tôi tin rằng dù trải qua tháng năm thì điệu Mơi vẫn sẽ sống mãi cùng bản mường...” - cụ Lò Văn Puấn, người cao tuổi nhất bản Ao Luông II tự hào chia sẻ.

Vĩnh Minh/theo Dân việt

tomhe
29-04-2014, 11:52 AM
Bí quyết "nghề Xoan"Men theo triền đồi xã Kim Đức, TP Việt Trì, hỏi nhà của trùm phường Xoan Thét Nguyễn Ngọc Bảo, từ người già đến con trẻ đều vui vẻ chỉ đường. Trùm Bảo đã ngoài tuổi bát thập, song giọng nói vẫn hào sảng. Trở về miền ký ức suốt hành trình hát Xoan, ông đã tiết lộ các kỹ nghệ làm cho câu Xoan cổ say đắm lòng người.Trùm Nguyễn Ngọc Bảo (thứ 3, từ phải sang) nhận hoa trong Ngày hội các di sản. Ảnh: Việt Thắng"Thích nghề vui chơi"Trùm Bảo vốn là nam tử của trùm chèo Nguyễn Văn Chương vang danh đất Kim Đức một thuở. Cơ duyên với nghệ thuật đã dẫn lối ông thích "toàn nghề chơi" từ hát chèo, múa sư tử rồi bất giác yêu Xoan tự lúc nào. Mắt ánh lên với nụ cười chất phác, trùm Bảo quả quyết: "Tôi thích nghề vui chơi lắm!". Vùng cuội nguồn Đất Tổ lại có nhiều trò chơi tập thể lôi cuốn như: Phết, đánh đu, bơi chải, đánh cờ người... càng cuốn ông vào mạch nguồn văn hóa dân gian. Giữa nửa chặng đường vui chơi ấy, ông Bảo đã kết nối tâm hồn với trầm tích văn hóa hát Xoan.Ông Bảo lý giải nguyên do "thích nghề vui chơi", đặc biệt là hát Xoan, bởi được giao lưu với bà con xóm giềng, nam thanh nữ tú các làng sở tại dưới gốc đa đại thụ, bên giếng nước, sân đình. Người làm "nghề vui chơi" còn được tung tẩy đi lưu diễn trên xuôi dưới ngược. Với lại, hát Xoan hấp dẫn bởi nét thiêng liêng, thành kính trong chặng hát thờ và gần gũi, trữ tình ở chặng hát hội. Hồi mới làm kép trẻ ở phường Xoan, Nguyễn Ngọc Bảo được các đào chị, đào em quý mến bởi khá "tốt hơi, chất giọng cao, khuôn mặt sáng láng". Trong các lần diễn tập, ông trổ tài vừa đánh trống, vừa hát nhịp nhàng đúng phách 13 Quả Cách (Quả Cách thứ 14 bị thất lạc mới được tìm lại) nên nhanh chóng lọt vào mắt xanh của trùm phường để trở thành kép chính. Trải qua nhiều thử thách về tài năng và phẩm chất, ông Bảo mới được tin tưởng giao trách nhiệm làm trùm phường Xoan Thét. Ông rất tự hào với phường Xoan mình, bởi Thét cùng với An Thái, Phù Đức, Kim Đới là nơi phát tích Xoan gốc. Chốn này đã lưu giữ trọn 13 Quả Cách, phong thái diễn xuất mang đậm nét xưa. Điều thú vị nữa là không chỉ đào, kép trong phường Xoan mà dân làng sở tại cũng rất tôn thờ và mến trọng hát Xoan.Trầm ngâm một lúc, mắt nhìn xa xăm, ông Bảo cho rằng, sở dĩ mình được bầu làm trùm phường Xoan vì đã học được đầy đủ các Quả Cách, làn điệu, có giọng hát hay. Ông còn điêu luyện trong việc kết hợp giữa tay đánh trống, miệng hát Xoan, điều mà đến nay chỉ vài người có thể làm được như vậy. Trùm phường còn giữ vai trò chỉ huy các hoạt động của phường Xoan. Ngoài việc chỉ đạo diễn xuất cho đào, kép thì trùm phường còn lo đối ngoại với các phường Xoan khác và mời các phường Xoan đến biểu diễn. Kép Nguyễn Văn Toàn trong phường Xoan Thét cho biết: "Để chọn được trùm phường khá công phu. Cả phường Xoan phải họp lại để bình chọn người vừa đánh trống, vừa biết hát, có khả năng truyền dạy cho thế hệ kế cận và nhận được sự tín nhiệm của tất cả các đào, kép trong phường".Nhâm nhi chén trà xanh, ông Bảo tâm sự những lời tri ân: Hát Xoan là một thú chơi. Khi biết sẽ thích, thích rồi lại thêm say. Cuộc dạo chơi của Xoan, cứ thế, làm con người trẻ và xuân hơn. Chẳng thế mà "nghề vui chơi" hát Xoan đã sánh bước cùng ông suốt hơn 40 năm ròng.Từ kỹ nghệ hát Xoan…Nếu như Quan họ chiếm trọn tình cảm mọi người ở sự trữ tình, luyến láy, ngân nga trong từng giai điệu thì hát Xoan quyến luyến người nghe bởi lượng âm ít, giai điệu đơn giản, sử dụng ít nốt luyến láy, dễ hát. Để xử lý bài Xoan cho tinh, nghệ nhân Nguyễn Ngọc Bảo đã "ém" nhiều "kỹ nghệ" khá độc đáo. Theo ông, mỗi thành viên trong phường Xoan cần đủ các yếu tố: "Trổ hết tài tay múa, miệng hát, chân đưa, luôn nghiêm túc trong thái độ, song vẫn có điệu bộ vui vẻ, tươi cười". Khi lên sân khấu phải tự tin mới giữ được giọng trong. Lúc vào nhịp hát dẫn cần thanh to, âm chắc. Ông cất giọng minh chứng với tôi bằng câu hát Xoan lưu luyến: "Đất này tốt, làng này an. Chắc chắn cao bằng núi Thái San". Chà! Tôi tròn mắt lắng nghe câu Xoan bay bổng. Mà ngay đến việc tươi cười thôi cũng phải làm sao cho đúng cách. "Chỉ cười nửa răng, mỉm cười, "cười mìm" tạo nét duyên với người xem" - Trùm Bảo bật mí thêm.Trùm Bảo còn đưa tôi đi hết bất ngờ này đến ngạc nhiên khác. "Nghề vui chơi" hát Xoan quả cũng lắm công phu. "Con nhà son phấn" phải trang điểm sao cho đúng chất Xoan. Các đào không được kẻ mi mắt, lông mày đánh đường mảnh, dài. Tô má hồng gần khắp bờ má khiến khuôn mặt giàu sức sống, không được bôi theo kiểu "trôn niêu" dễ cứng nhắc, giả tạo. Các kép cần đội khăn xếp cao hở vầng trán cho khuôn mặt sáng sủa. Lông mày kẻ đậm hơn đào. Kép trẻ phải đánh phấn cho đúng điệu bộ bài hát Xoan. Tuyệt! Kỹ nghệ hát Xoan quả tài tình. Sự công phu sau hậu trường của đào, kép làm Xoan mang bản sắc riêng có.Trùm Nguyễn Ngọc Bảo đang đánh trống để diễn Quả Cách. Ảnh: Đỗ Hà… đến tuyệt chiêu truyền nghềTrùm Bảo đã truyền nghề cho khá nhiều học trò để câu Xoan vang mãi từ thế hệ này sang thế hệ khác. Làm thầy, ông có tuyệt chiêu riêng trong cách truyền dạy hát Xoan.Theo trùm Bảo, hát Xoan dùng tới ba loại hơi chính là cao, trung bình và thấp. Lúc hát dẫn kép phải bắt hơi cao, thanh, chứ hát thấp là đào cứng, chựng lại ngay bởi không bắt được nhịp. Ông cất giọng ví dụ từng loại hơi với cùng một câu hát để học trò hiểu được sự tinh tế trong việc xử lý nhịp điệu. Khi trò chép lời hát Xoan nên viết thưa, cách chữ. Thầy sẽ hát minh họa có những nốt đệm, nhấn, luyến, láy. Trò chỉ cần ghi lại nhịp điệu đó bên cạnh phần lời thì chẳng mấy chốc sẽ thành thục. Trùm Bảo tươi cười nói: "Chỉ chép lời thông thường phải mất chừng một năm mới thuộc hết. Nhưng dùng chiêu này của tôi thì chỉ cần thuộc lời là đã hát được, không cần phải học lại âm "la, hỡi, ê, a...". Thật vậy, đào Lê Thị Nhàn trong phường Xoan Thét đã thành thục được khá nhiều Quả Cách khi theo học trùm Bảo. Chị chia sẻ: "Đào phải bắt theo đúng nhịp cách, trống. Khi kết hợp ăn nhau thì mới đem lại giai điệu Xoan hấp dẫn. Vì thế mà cách truyền dạy của trùm Bảo giúp nhận thức nhanh, dễ hiểu, dễ thực hiện, tránh sự lệch pha, nhầm lẫn". Còn đào Bùi Thị Kiều Nga lại đưa ra ý kiến: "Trùm Bảo truyền dạy rất nhiệt tình, tận tâm các Quả Cách. Trùm luôn hát trước minh họa rồi hát theo để đẩy hơi. Chúng tôi luôn được học hát Xoan trong không khí vui vẻ, sôi nổi nên nắm bắt khá nhanh".Đỗ Hà/theo báo Biên phòng

tomhe
23-05-2014, 11:54 AM
Ngôn ngữ trong vũ đạo tuồng Huế
Dù từng chiếm địa vị độc tôn kéo dài nhiều thế kỷ, nhưng ngày nay tuồng Huế đang dần bị mai một bởi nhiều lẽ. Xét cho cùng, loại hình nghệ thuật độc đáo hội tụ những cái hay, cái đẹp của: kẻ mặt nạ, trang phục, ca từ, vũ đạo… vẫn còn ẩn chứa nhiều điều mới lạ đối với người xem trong thế giới hiện đại hôm nay. Điều này được thể hiện thông qua ngôn ngữ của vũ đạo- một thứ ngôn ngữ múa giúp người xem có thể cảm nhận được nội dung biểu cảm của nhân vật trên sân khấu.

<tbody>
http://www.hue.vnn.vn/media/images/minhnga/van%20hoa%20hue/dien-vien-tuong-Hue-TTH_large.jpg
Diễn viên thể hiện một động tác trên sân khấu


</tbody>

Vũ đạo tuồng là những động tác hình thể, được biểu diễn một cách nhịp nhàng cân đối với sự kích thích giàu tính tiết tấu và giai điệu. Đạo diễn La Hùng (con trai cố nghệ nhân La Cháu- nghệ nhân tuồng cung đình cuối cùng của triều Nguyễn) cho biết, trong kịch bản sân khấu tuồng, tác giả có thể mô tả nội tâm nhân vật bằng những đoạn độc thoại. Nhưng nếu nhân vật chỉ hát mà không có biểu hiện động tác vũ đạo, thì sự chuyển tải nội dung biểu đạt đến người xem sẽ yếu đi. Do đó, vũ đạo tuồng là một thứ ngôn ngữ độc đáo, nó có khả năng bổ trợ cho lời nói, điều này giúp khán giả vừa nghe, vừa xem. Đặc biệt, vũ đạo tuồng có thể phơi bày phần nội tâm của nhân vật mà lời hát chưa lột tả được.Trong vở tuồng “Giáp thập điều”, Hoàng Phi Hổ khi bỏ vua Trụ dâm dật, tàn ác ra đi, đồng thời cũng lìa quê cha đất tổ, nỗi lòng “đi cũng dở, ở cũng không đành” ấy được mô tả: Lụy san san nửa đi nữa ở…Mấy chữ nửa đi nửa ở thực chưa nói hết được sự ray rứt của Hoàng Phi Hổ, nếu nhân vật không sử dụng vũ đạo để biểu hiện sự đấu tranh giằng co trong lòng khi sắp vượt qua biên giới quê hương. Như vậy có thể thấy, vũ đạo tuồng chẳng những góp phần làm cho việc biểu hiện nội tâm của nhân vật được sâu sắc đầy đủ hơn, góp phần làm cho sân khấu tác động vào người xem mạnh hơn, mà còn làm cho sân khấu càng trở nên sinh động đối với người xem.Theo nghệ nhân Hồ Hữu Có- nguyên là giáo viên dạy vũ đạo tuồng thuộc Trường Trung học Văn hóa Nghệ thuật Thừa Thiên- Huế, nghệ thuật diễn viên sân khấu đều có hai bộ phận chính: bộ phận “động tác lời” và bộ phận động tác hình thể. Hai bộ phận này có mối quan hệ hữu cơ. Trong đó, động tác hình thể lấy lời ca làm cơ sở, mặt khác nó dựa vào những động tác có thật của con người trong đời sống hàng ngày.Trong sân khấu tuồng Huế, khi người diễn viên vừa hát, vừa múa thì vũ đạo tuồng phải tuân thủ nguyên tắc “tứ tương” cổ truyền:Nội ngoại tương quanTả hữu tương ứngThượng hạ tương phùPhì sấu tương chế(Nghĩa là: Trong ngoài quan hệ gắn bó nhau, bên trái bên phải ứng tiếp nhau, phía trên phía dưới phù hợp nhau, gầy béo bù sớt cho nhau).Ngoài ra, người diễn viên khi thực hiện các động tác của vũ đạo tuồng, luôn tuân thủ: “phải có âm có dương, có vay có trả, chân nọ tay kia”. Như vậy, nếu hệ thống làn điệu tuồng là phương tiện giúp diễn viên làm cho tình cảm của nhân vật, của tác giả và của bản thân anh ta trở thành “cái có thể nghe được”, thì hệ thống động tác vũ đạo lại làm cho tình cảm trở thành “cái thấy được”. Không những thế, nó còn làm cho không gian trừu tượng trên sân khấu trở thành không gian hình tượng trong tâm trí khán giả. Và các học giả sân khấu khi nghiên cứu về loại hình nghệ thuật này đều cho rằng, nếu hát tuồng là một tổng thể gồm ngữ điệu, ngữ khí, ngữ phong, thanh nhạc, thì vũ đạo tuồng cũng là một tổng thể gồm: động tác tự nhiên, động tác kịch câm, múa.

<tbody>
http://www.hue.vnn.vn/media/images/minhnga/festival_hue2012/festival-hue2012_matnatuong.jpg
Mặt nạ tuồng Huế được triển lãm tại Festival Huế 2012


</tbody>

NSƯT Thanh Long (người được các bạn nghề chọn là diễn viên hát tuồng hay nhất Việt Nam) cho rằng, khi thể hiện vai diễn, diễn viên dù có giọng hát hay đến đâu, nhưng vũ đạo không thuần thục, không đẹp thì khó chuyển tải nội dung biểu hiện của nhân vật đến khán giả một cách chân thật nhất. Bởi vì, ngôn ngữ của vũ đạo tuồng luôn có một nội dung riêng của nó, ví dụ: khi nói đến Lưu Bị là nói đến điệu bộ vuốt râu, nói đến Trương Phi là nói đến bộ khai giáo, nói đến yêu tinh, quỷ sứ, cọp… là nói đến những điệu bộ riêng mô tả từng loài cụ thể.Ngôn ngữ vũ đạo tuồng Huế là một phương tiện của nghệ thuật diễn viên chứ không phải là một ngôn ngữ độc lập. Nó là một kiểu múa của sân khấu, một kiểu “múa tạo hình”. Do đó, người diễn viên khi biểu diễn trên sân khấu không thể hát múa tùy tiện, mà phải trải qua rèn luyện, học tập cả một hệ thống cơ bản về vũ đạo cũng như về hát. Đó là điều tất yếu của mọi loại hình nghệ thuận, nhất là nghệ thuật biểu hiện. Điều này chính là cái cốt lõi, cái tất yếu, khi người nghệ sỹ muốn chuyển tải những giá trị nhân bản của nhân vật, của tác phẩm đến với người xem.
Theo Trọng Bình (TTH.VN)

tomhe
30-06-2014, 11:40 AM
<tbody>

<tbody>
Pâng Loóng - điệu múa vui nhộn của người Cao Lan
Múa Pâng Loóng (hay còn gọi là múa gõ muống) - một điệu múa đơn giản, âm thanh vui nhộn nhưng có ý nghĩa quan trọng trong đời sống đồng bào là nét văn hóa đặc trưng hấp dẫn trong Lễ mừng cơm mới của người Cao Lan (Yên Bái).
Điệu múa này ra đời từ rất lâu và đến nay vẫn được lưu truyền trong đồng bào dân tộc Cao Lan. Điệu múa Pâng Loóng mang tính ước lệ cao, miêu tả lại quá trình làm nương của người Cao Lan, từ lúc tra hạt cho đến lúc thu hoạch mang về giã thành gạo. Lúa nếp được lấy về để làm đồ cúng lễ phải là những bông nếp to, đều. Thóc nếp được rang qua lửa rồi đưa vào giã trong một chiếc muống được làm từ thân cây gỗ rừng mang hình thuyền độc mộc.

<tbody>

http://quehuongonline.vn/Uploads/LibraryImages/mua-11.jpg

Người Cao Lan (Yên Bái) múa Pâng loóng trong lễ cúng cơm mới.

</tbody>
Nhạc cụ sử dụng cho điệu múa này chủ yếu là bộ gõ bao gồm trống và các ống tre. Loại nhạc cụ này tạo nên ấn tượng sôi động và khó quên trong lòng người xem.
Pâng Loóng là sự kết hợp khéo léo giữa người nam, người nữ và những thanh âm phát ra từ bộ gõ mà ai cũng có thể tham gia được. Là điệu múa không hạn chế về số lượng, tuổi tác và giới tính nên mỗi dịp tổ chức múa Pâng Loóng đã tạo sự vui tươi, phấn khởi cho những người già.
Còn đối với nam thanh nữ tú thì đây là cơ hội để các bạn tâm sự hẹn hò. Khi múa, các “diễn viên” không chuyên sẽ cầm các ống tre đứng xung quanh muống rồi gõ vào muống với tiết tấu nhanh và mạnh mẽ. Cứ đều đặn như thế, họ say sưa cùng nhịp gõ, có khi họ gõ đến nửa đêm, trong ánh lửa bập bùng rồi mọi người thay nhau gõ muống, người thì nấu cháo, người thì làm bánh cùng nhau ăn và vui chơi, tạo không khí phấn khởi sau một mùa bội thu cho cả làng, cả bản.
Tiếng gõ muống, tiếng nhạc đệm từ những nhạc cụ truyền thống chính là một phần quan trọng tạo nên sự khác lạ, thu hút trong điệu múa Pâng Loóng. Người dân hò reo theo giai điệu rộn ràng của tiếng chày, tiếng muống làm cho không khí thêm náo nhiệt.
Múa Pâng Loóng được người Cao Lan lưu truyền và gìn giữ từ bao đời nay. Sau một mùa bội thu, người dân Cao Lan lại tụ họp với nhau múa điệu Pâng Loóng để tạ ơn trời đất, thần linh đã cho người dân một năm mưa thuận, gió hòa, mùa màng tốt tươi và cũng là để chúc phúc cho vụ mùa tới.
Pâng Loóng là một cuộc vui, một nét đẹp trong sinh hoạt văn hóa đã thấm sâu vào đời sống văn hóa, văn nghệ, nghi thức trong cộng đồng người Cao Lan bao đời nay. Điệu múa này đã trở thành cầu nối tâm linh giữa đất trời và lòng người, thể hiện khát vọng chinh phục thiên nhiên của những người dân lao động hiền lành, chất phác.

(Theo vov.vn)


</tbody>





</tbody>

tomhe
27-09-2014, 10:06 AM
Độc đáo sắc bùa Bến Tre


Hát sắc bùa là một hình thức diễn xướng dân gian “huyền ảo”, bởi có sự pha trộn giữa tính lễ nghi nông nghiệp với lễ nghi tôn giáo.
Nghi lễ dân dã

“Tiệc bày duyên đã mãn rồi/Trình trong gia chủ ở đây thái bình/Năm nay tòng - bá hiệp tùng/Phụ tùng phu xướng cửa nhà bình yên…”- ông Nguyễn Văn Chấn, 59 tuổi, vừa ca vừa gõ vào hai mặt trống cơm. Hòa vào là tiếng sênh tiền của anh Hòa, sênh cái của chị Thu Hiền và đờn cò của chính ông Lư Hội - Giám đốc Bảo tàng Bến Tre. “Tay đờn cò kẹt chuyện nên tôi thế chỗ. Đây là đội hát sắc bùa của xã Phú Nẫm - Giồng Trôm” - ông Hội giới thiệu. Một đội hát sắc bùa cần ít nhất 4 người, đủ là 6, có khi lên đến 8 hoặc 12 người (chỉ lấy số chẵn) nhưng nhạc cụ chỉ cần 4 dụng cụ. Cũng theo ông Hội, sắc bùa được hát theo lối “cái kể con xô”, người cầm cái là đội trưởng mang trống cơm; mỗi nhạc công là diễn viên hát đệm luôn; trang phục người hát “có gì mặc nấy”, nhiều khi chỉ áo bà ba…
Khó nhất là ông đờn cò. Không có ông này thì không ra sắc bùa. Trống cơm là đội trưởng, là cái nhưng giai điệu khá giống nhau, đơn giản hơn. “Người chơi sênh tiền phải tinh để theo đờn cò đừng để đâm hơi, chênh nhịp”- chị Thu Hiền mới tập hát sắc bùa mấy tháng nay, cũng chính là Phó chủ nhiệm CLB Đờn ca tài tử (Bảo tàng Bến Tre), cho biết.



http://www.sggp.org.vn/dataimages/original/2014/08/images516142_6b.jpg

Biểu diễn hát sắc bùa



Hát sắc bùa có nguồn gốc từ miệt ngoài, do ông Trần Văn Hậu “thấy điệu hát sắc bùa ở Bình Định hay hay mới đem về truyền lại cho dân Phú Lễ; lúc đó vào khoảng giữa thế kỷ XVIII. Hát sắc bùa Phú Lễ ra đời, vang danh một thời luôn”- ông Hội hào hứng.
Đây là hình thức diễn xướng dân gian “huyền ảo”, pha trộn giữa lễ nghi nông nghiệp (cầu mùa màng tươi tốt, quốc thái dân an, gia tộc an lành, hạnh phúc…) với lễ nghi tôn giáo (viết bùa, dán bùa yểm trừ tà ma, xui xẻo trước ngõ, cửa nhà…).
“Chúc xuân mà tôi hát ơ sắc bùa tháng giêng”. Hát sắc bùa thường diễn ra vào dịp Tết Nguyên đán, từ giữa đêm trừ tịch 30 tháng Chạp đến hết tháng Giêng nhằm chúc tết, đón mừng năm mới tại các gia đình có nhu cầu, tạo không khí vui chơi giải trí cộng đồng. Đội hát có thể hát thâu đêm suốt sáng nếu chủ nhà yêu cầu. Một buổi hát sắc bùa thường có hai phần (nghi lễ và hát giúp vui). “Ngõ này ngõ ai/Trên thời xây gạch/Dưới tợ rồng bay”… nằm trong những bài mở ngõ, khai môn rồi theo trình tự là các bài Rước xuân, Chơi xuân, Trừ tà, Dán bùa, Giã từ...
“Cái hay của sắc bùa Phú Lễ là tuy mang âm hưởng bài chòi Khu 5 nhưng lời ca được sáng tạo, có khi lấy ngay từ những bài hò, lý, vè, nói thơ… của đất Bến Tre để “vận” vào, chúc mừng năm mới bất kỳ ngành nghề, lĩnh vực nào như nông gia, mộc, dệt vải, chăn tằm…” - ông Nguyễn Văn Chấn nhận xét. Thạc sĩ Tăng Tấn Lộc, giảng viên văn hóa (Đại học Tây Đô), phân tích sâu hơn về kỹ thuật độc đáo của loại hình này: Phải ca đúng hơi mới ra sắc bùa. Sắc bùa có nói lối của cải lương nhưng không phải tung tẩy, phóng khoáng như đờn ca tài tử. Người ca phải giữ nhịp đôi liên tục; con xô phải “xô bè”, không được hụt hơi, lạc nhịp.
Nghệ thuật hát sắc bùa từng đoạt giải A tại Liên hoan Tiếng hát dân ca Việt Nam lần thứ I (Hà Nội - 2005); được chọn biểu diễn trong Festival Dừa Bến Tre, trong Hội nghị tổng kết 15 năm Nghị quyết TƯ 5 về bảo vệ bản sắc văn hóa mới đây.
Bảo tồn văn hóa

“Phú Lễ là cái nôi hát sắc bùa của cả miền Tây, nhưng Phú Lễ hiện cũng không còn nhiều người hát nữa”, ông Lư Hội cho biết. Cả một thời gian dài Bến Tre trống vắng sắc bùa. Và đến năm 2011 sắc bùa được nhen nhóm lại ở xã Phú Nẫm (Giồng Trôm). “Chúng tôi lập nhóm 4 - 5 người, học lại từ các bản ghi âm vào những năm 80 thế kỷ trước khi ông Lư Hội đi Ba Tri gặp gỡ, sưu tầm nghệ thuật này từ những nghệ nhân đã trên 70-80 tuổi như ông Nguyễn Văn Võ, Nguyễn Văn Dũng, Thái Văn Cần… trước khi các cụ ra đi”- anh Nguyễn Văn Chấn, đội trưởng, tâm sự. Mỗi năm nhóm của ông biểu diễn 5-7 lần vào dịp lễ, tết hoặc các lễ hội trong tỉnh, chủ yếu là đam mê và muốn gìn giữ tài sản cha ông để lại. Hát sắc bùa có hàng trăm bài, đến nay nhóm Phong Nẫm mới “nằm lòng” được gần 20 bài.
Nhịp sống mới hối hả, dồn dập liệu có bảo tồn được loại hình dân gian này? Những người đang tham gia hầu hết đã cao tuổi, còn giới trẻ ít thiết tha. Sắc bùa là một trong sáu loại hình diễn xướng dân gian Bến Tre và là làn điệu đặc trưng nhất. Thế nhưng, cái khó nhất là gầy dựng, tạo lại môi trường cho hát sắc bùa tồn tại, phát huy trong cộng đồng. Phải tổ chức lại lực lượng truyền dạy, biểu diễn; đưa vô học đường; giới thiệu tính đặc sắc của nghệ thuật này rộng rãi hơn ra nhân dân và du khách… Muốn vậy phải có đòn bẩy. Đó là sự nhiệt thành, quan tâm hơn nữa của chính quyền, các cơ quan chức năng, nhất là ngành văn hóa. Được như vậy loại hình này mới mong không rơi vào cảnh “sách vở thì còn nhưng cộng đồng đã mất” - anh Chấn mong mỏi.
Bảo tàng Bến Tre đang đưa hát sắc bùa vào trong chương trình bảo tồn văn hóa phi vật thể. “Chúng tôi đang tiến hành làm lý lịch khoa học, kiểm kê diễn xướng sắc bùa, cam kết của địa phương, lập bản đồ bảo tồn gồm các điểm Phú Lễ, Phong Nẫm và có thể cả Bảo tàng Bến Tre…”- ông Lữ Hội thông báo. Thạc sĩ Tăng Tấn Lộc có vẻ hứng thú với loại hình này, bám riết anh Chấn học từng lời ca, nhịp trống… “Chúc thanh chúc thọ/Làm tuổi ông bà/Năm mới giàu sang/Gia quan tấn lộc…”. Hy vọng sẽ có nhiều nghệ nhân quay lại với sắc bùa xưa!

VŨ THỐNG NHẤT/SGGP

mavachrt
29-09-2014, 12:21 AM
Sao mình cũng ở Bến Tre mà không biết cái Độc đáo sắc bùa Bến Tre ​:(

tomhe
15-07-2015, 10:52 AM
Còn mãi âm điệu múa trống đôi
Cho đến nay, nghệ thuật múa trống đôi của dân tộc Chăm H'roi, Ba Nah ở huyện Đồng Xuân (Phú Yên) cũng như một số loại hình nghệ thuật văn hóa dân gian khác, vẫn chưa xác định được ai là người sáng tạo và hình thành từ bao giờ. Song, trong tiềm thức của mỗi người dân ở đây, múa trống đôi đã trở thành báu vật, hồn trống ăn sâu vào máu thịt của dân làng, đặc biệt, trống đôi là món ăn tinh thần không thể thiếu vào mỗi dịp lễ hội.



<tbody>
http://images.bienphong.com.vn/upload//Article/nguyenthuy/2015/7/8/8a-1.jpg


Múa trống đôi trong ngày hội văn hóa các dân tộc miền núi Phú Yên. Ảnh: Minh Tâm

</tbody>


Say nhịp trống đôi

Dân tộc Chăm H'roi, Ba Nah có ít lễ hội, lễ hội thường gặp là: Lễ cúng mừng sức khỏe, lễ bỏ mả, lễ hội cầu mùa, mừng cơm mới... trong đó, lễ hội Đâm trâu (xoay cột) được coi là lễ hội có quy mô nhất, cộng đồng dân cư tham gia đông vui nhất, bởi nó không cấm cứ hay cự tuyệt các cộng đồng làng xã khác tới dự, mà còn mở cửa cho khách thập phương cùng vui chơi với niềm phấn khích, hoan hỉ. Những ai là công chúng phố thị, may mắn được một lần dự lễ hội này, sẽ thật sự phấn khích khi vào hội xem trống đôi biểu diễn.

Với tư cách làm nhạc nền cả tiết tấu và giai điệu cho phần hội: Trống đôi, cồng 3, chinh 5 là một bộ hòa thanh trứ danh làm cho cuộc hội đông vui đến nức lòng, trong đó, vai trò và tác dụng của múa trống đôi thường gây ấn tượng mạnh nhất. Mỗi loại nhạc cụ có điệu thức riêng: Chinh 5 giữ giai điệu khoan nhặt, thanh thoát âm vang ngân xa; cồng 3 giữ bè trầm, sâu lắng, mượt mà, nhưng nghe lâu sẽ đơn điệu dễ bị nhàm chán; cho nên, sự có mặt của trống đôi luôn làm rạo rực lòng người, khiến người ta say hội; làm cho cuộc hòa thanh tìm được sự đồng điệu, chảy rót vào nhau, tạo cho cuộc hội đạt tới cao trào của sự hứng khởi. "Còn tiếng trống đôi hội chưa giã bạn" là vậy!

Sự hấp dẫn của múa trống đôi thật khó tưởng tượng và diễn tả một cách tách bạch. Bởi nó có tiết tấu, âm điệu không như trống tuồng, trống trận, trống chèo... Tuy nhiên, qua một đôi lần quan sát có thể nhận thấy được những nét cơ bản về tính độc đáo của loại nhạc cụ này, dưới góc độ thưởng thức cảm nhận.

Trước hết, điệu thức của trống đôi là một tập hợp những chuỗi tiết tấu đầy ngẫu hứng, không được giới hạn trong một trường độ, cao độ nhất định. Đôi nam nghệ nhân ra biểu diễn, mỗi người một trống mang vào vai và múa theo nhịp trống từ chính đôi tay của họ tạo ra; tiết tấu thưa nhặt, dồn dập, âm điệu ngẫu biến chồng lên nhau, biến hóa sắc màu, gợi lên trong trí nhớ người nghe sự tưởng tượng - âm điệu róc rách của suối, bập bùng của lửa và mưa nguồn thác đổ của đại ngàn. Múa trống đôi còn có một ngữ điệu rất riêng, đó là thông qua tiếng trống, điệu múa của hai nghệ nhân biểu diễn, họ có thể truyền cho nhau những ký hiệu biểu cảm như một cuộc giao tiếp chuyện trò.

Âm điệu soi thấu tâm hồn

Người Chăm H'roi, Ba Nah ở huyện miền núi Đồng Xuân cho rằng, múa trống đôi là một cách nói chuyện sâu lắng nhất. Khi hai người song diễn luôn luôn có một người nêu câu hỏi và buộc người cùng chơi phải đối đáp; tiếng trống thay cho lời, điệu múa nói lên cách ứng xử. Đồng điệu, thích nhau thì âm trống, điệu múa hòa quyện nghe rất "sướng tai, lạ mắt". Còn ví như không ưa nhau thì tiếng trống nghe đốp chát, nghỉnh ngảng, tức giận, biểu hiện coi thường bạn chơi. Do đó, nghệ nhân múa trống đôi phải là một cặp "ngang sức ngang tài" người tung, kẻ hứng hiểu ý nhau mới giữ cho cuộc chơi trọn vẹn.

Già làng kể rằng, có một bận, hai làng cử đại diện giao lưu, thử sức tài nghệ múa trống đôi; cuộc chơi giữa chừng, nghệ nhân làng bên cởi trống đôi vung quẩy bỏ về, khán giả ngạc nhiên, hỏi tại sao? Anh ta nói rằng "nó coi thường, chơi xỏ tao". Đối với công chúng, ai mà biết nghệ nhân kia đã chơi xỏ cái gì? Điều đó, chỉ có hai nghệ nhân mới rõ. Già làng khẳng định: "Ai không thạo trống đôi, không nghe được lời của nó".

Trống đôi còn có một nét độc đáo nữa, đó là nghệ thuật biểu diễn, trống không gọi là đánh trống mà gọi là múa trống đôi. Chơi trống còn "bập bẹ" thì có nhiều người biết, nhưng để đạt trình độ nghệ nhân, thể hiện được đặc tính nói trên thì mỗi làng chỉ có vài người. Biểu diễn trống đôi rất khó, đây là một cuộc chơi tổn hao trí lực. Một nghệ nhân chưa tập luyện trước, phục vụ một đêm lễ hội, cơ thể mỏi nhừ hơn một ngày vung dao phát rẫy.

Cứ tưởng tượng mà xem, mang một cái trống nặng 4-5 ki-lô-gam, đôi tay thường xuyên múa máy va đập chặt xuống, vuốt lên hai bên mặt trống, tang trống để tạo nên âm thanh toóc, toóc, bụp bùm bum, chát... toàn thân lại phải tung bật, nhảy múa liên hồi; những lúc tiết tấu dồn dập, sướng lên còn xoáy hai mũi bàn chân vào nền đất, tóe bụi thì mới đã... Cách chơi như vậy, người có đủ trí lực múa trống đôi chỉ là những nam thanh niên khỏe mạnh, nét người sáng láng...

Với đặc tính độc đáo, đạt trình độ cao của nghệ thuật biểu diễn, trống đôi là một nhạc cụ thuộc loại quý hiếm của đồng bào các dân tộc miền núi tỉnh Phú Yên đáng được trân trọng, gìn giữ và phát huy...


<tbody>
Nhạc sỹ Ngọc Quang, Chủ tịch Hội Văn học nghệ thuật Phú Yên là người nhiều năm để tâm nghiên cứu, gắn bó với nhiều loại nhạc cụ dân tộc thiểu số trong tỉnh đã có nhận xét: "Múa trống đôi là một sự phối hợp đầy ngẫu hứng và sáng tạo, rất độc đáo của người Chăm, Ba Nah. Điều kỳ diệu là, nhiều nghệ nhân ở đây chưa hề biết một nốt nhạc nhưng khi biểu diễn, họ ứng biến tài tình như một nhạc công đạt trình độ "cao siêu". Từ ngẫu hứng dâng trào dẫn đến tự do phá thể, nghệ thuật múa trống đôi có nét ngẫu hứng giống như nhạc công chơi nhạc Jazz. Tôi có trạng thái vô cùng hứng khởi khi nhắm chút rượu cần, nghe trống giục giã là không thể ngồi yên, như về đây để say nhịp trống đôi...".

</tbody>



Minh Tâm - Phương Oanh
http://www.bienphong.com.vn/con-mai-am-dieu-mua-trong-doi/32409.bbp

tomhe
19-11-2015, 08:42 AM
Nói lý, hát lý của người Cơ Tu ở huyện Tây Giang
Nói lý, hát lý là một trong những hình thức tự sự dân gian đặc sắc và độc đáo, không thể thiếu trong đời sống tinh thần của người Cơ Tu. Nó gắn liền với lời ăn tiếng nói của đồng bào, thể hiện lối giao tiếp, ứng xử, biểu lộ tâm tư, tình cảm của mỗi người và cả cộng đồng.
Ngồi trong Gươl truyền thống của thôn Voòng, già làng Cơlâu Bh'lao(77 tuổi), dân tộc Cơ Tu, hiện sinh sống tại thôn Voòng, xã Tr'Hy (Tây Giang) cho chúng tôi biết: Hát lý, nói lý là hình thức dùng để giãi bày tâm tư tình cảm với nhau. Tiếng Cơ Tu là: P'rá pr'ma, têng bh'noóch, tr'a. Trong cuộc sống khi gặp khó khăn thì mọi người phải biết thông cảm cho nhau. Người lớn trong gia đình phải có nhiệm vụ nói lý, hát lý cho con cái hiểu.

Hay trong trường hợp hai vợ chồng trẻ mới cưới muốn bỏ nhau, người Cơ Tu sẽ nói lý, hát lý với nội dung đề cập đến chuyện bố mẹ già không làm được việc, nếu họ bỏ nhau, nương rẫy sẽ không ai chăm nom. Nếu vẫn không hiểu, vấn đề chưa được giải quyết, họ sẽ đi sang làng khác nhờ nghệ nhân, già làng giỏi về nói lý, hát lý là chuyện đổ vỡ trong gia đình được hóa giải ổn thỏa.


<tbody style="margin: 0px; padding: 0px;">
http://images.bienphong.com.vn/upload//Article/nguyenthuy/2015/10/30/537x363_8a-1.JPG


Người Cơ Tu thôn Bh'Hôồng 1, xã Sông Kôn, huyện Đông Giang, trong một đêm nói lý, hát lý. Ảnh: Sơn Gia Phúc

</tbody>


Theo tìm hiểu của chúng tôi, cái hay nhất của nói lý, hát lý chính là dùng một hình tượng để chỉ một sự việc, nhằm giải quyết mâu thuẫn, xích mích trong các mối quan hệ giữa gia đình, bạn bè, xã hội, công việc hay vấn đề nào đó khó dùng lời để nói thì người Cơ Tu nói lý, hát lý để thấu hiểu nhau hơn. Khởi đầu nói lý, hát lý, thường là những câu nói về đạo lý, về truyền thống của người Cơ Tu với những hình ảnh ví von độc đáo.

Đồng thời, người nói lý, hát lý giỏi phải am hiểu bản chất vấn đề mình nêu ra và cả phong tục tập quán để có khả năng đối đáp nhanh. Nói lý, hát lý là loại hình ứng khẩu của người Cơ Tu. Khi nói lý, hát lý, người Cơ Tu bao giờ cũng dùng những hình tượng ẩn dụ, nhân cách hóa giúp người nghe hiểu sâu vấn đề một cách cặn kẽ, chí tình, đạt ý. Khi khen người con gái đẹp, họ thường nhắc đến hoa, nói đến con trâu mộng sẽ nói về hình ảnh cây cổ thụ to lớn... Với người Cơ Tu, ở họ luôn có cách hình dung để mô tả về sự vật, hiện tượng nào đó theo cách của mình mà không theo bài có sẵn.

Thông thường, nói lý, hát lý được thể hiện qua lễ ăn mừng lúa mới hay lễ kết nghĩa anh em, vào những dịp có khách quý tới thăm khi làng đang có lễ hội hoặc đám cưới hay trong lễ hỏi cưới vợ cho con... Ngoài ra, nói lý, hát lý còn được đồng bào Cơ Tu dùng để giải quyết các mâu thuẫn, xích mích trong các mối quan hệ giữa gia đình, bạn bè, xã hội, công việc mà có khi dùng lời lẽ, thậm chí pháp luật khó có thể hóa giải được.

Từ năm 2012, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Quảng Nam đã hoàn thành hồ sơ nói lý, hát lý của dân tộc Cơ Tu để trình Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa vào danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Từ năm 2013, nhằm khôi phục và bảo tồn nói lý, hát lý, Câu lạc bộ (CLB) nói lý, hát lý ở thôn Bh'Hôồng 1, xã Sông Kôn, huyện Đông Giang được thành lập. Các xã Tà Lu, Zơngây, Mà Cooih, Za Hung thuộc huyện Đông Giang, Atiêng, Bh'ha Lê, A Nông, Lăng... thuộc huyện Tây Giang bước đầu có CLB nói lý, hát lý. Việc thành lập các CLB này nhằm bảo tồn và phát huy giá trị của nói lý, hát lý và những làn điệu dân ca của dân tộc Cơ Tu trên địa bàn.

Được biết, đến nay, hình thức truyền dạy nói lý, hát lý của người Cơ Tu vẫn mang tính truyền miệng do gia đình giáo dục là chủ yếu. Trước nguy cơ mai một và thất truyền các điệu nói lý, hát lý của đồng bào dân tộc Cơ Tu, nhiều già làng ở trong xã Tr'Hy, Ch'Om (Tây Giang), đã bỏ công sưu tầm, gìn giữ rồi mở lớp truyền dạy các điệu hát cổ cho thế hệ trẻ.

Một tin vui với cộng đồng tộc người Cơ Tu Quảng Nam, ngày 13-10-2015, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã ban hành Quyết định số 3465/QĐ-BVHTTDL về việc công bố Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, trong đó có nghệ thuật nói lý, hát lý của đồng bào dân tộc Cơ Tu ở 3 huyện: Nam Giang, Đông Giang và Tây Giang.

Cũng như hầu hết các nghệ thuật truyền thống khác, nói lý, hát lý ngày nay đang đứng trước nguy cơ mai một trong đời sống hiện đại, trong xã hội bùng nổ thông tin, trong cơn bão truyền hình và công nghệ số đã tràn về tới tận các làng bản, tràn vào mỗi gia đình. Vì thế, việc bảo tồn nói lý, hát lý của dân tộc Cơ Tu là nhiệm vụ quan trọng trong giai đoạn hiện nay.

Thiết nghĩ, để loại hình nghệ thuật này bảo tồn và phát triển, ngành chức năng ở 3 huyện: Nam Giang, Đông Giang và Tây Giang cần kết hợp hài hòa giữa dân gian và yếu tố chuyên nghiệp. Việc tổ chức các liên hoan nói lý, hát lý là một mô hình hay. Qua những giai điệu nói lý, hát lý, dân ca, thế hệ trẻ của dân tộc Cơ Tu hiểu được truyền thống đấu tranh hào hùng của dân tộc mình và học cách ứng xử văn hóa lan tỏa tình làng, tình người ấm áp.

Bên cạnh đó, cần thông qua lớp truyền dạy nói lý, hát lý nhằm tuyên truyền sâu rộng đến người dân về bảo tồn, giữ gìn và phát huy hơn nữa các giá trị văn hóa nghệ thuật truyền thống, bản sắc của đồng bào dân tộc Cơ Tu; nâng cao tinh thần trách nhiệm trong việc lưu truyền và kế thừa để các thế hệ người dân tộc Cơ Tu biết sử dụng, phát huy giá trị của hát lý, nói lý trong đời sống.

Theo ông Alăng Arấy, Giám đốc Trung tâm Văn hóa Thông tin huyện Tây Giang, việc mở lớp truyền và giảng dạy hát lý, nói lý cho đồng bào Cơ Tu được xem là một biện pháp hữu hiệu để truyền dạy vốn cổ của dân tộc, cần phải được đưa vào áp dụng sớm nhằm góp phần gìn giữ các làn điệu hát cổ của đồng bào Cơ Tu có từ xa xưa đang dần bị thất truyền theo năm tháng.

Để bảo tồn sinh hoạt văn hóa nói lý, hát lý truyền thống cần chú ý tới sự hiện diện và phát triển nói lý, hát lý. Mặc khác, phải có chế độ chính sách thỏa đáng chăm lo cho nghệ nhân, người thực hành và cả thế hệ trẻ đang ngày đêm giữ lửa, cũng như kế thừa nghệ thuật truyền thống nói lý, hát lý; khuyến khích những gia đình có truyền thống nói lý, hát lý truyền dạy, tham gia sinh hoạt văn hóa cộng đồng.


Sơn Gia Phúc
http://www.bienphong.com.vn/noi-ly-hat-ly-cua-nguoi-co-tu-o-huyen-tay-giang/34681.bbp