PDA

View Full Version : Tự vị tiếng lóng



emcungyeukhoahoc
11-09-2012, 03:29 PM
Chúng ta biết rằng, tiếng lóng là một hình thức phương ngữ xã hội không chính thức của một ngôn ngữ, thường được sử dụng trong giao tiếp thường ngày, bởi một nhóm người. Tiếng lóng ban đầu xuất hiện nhằm mục đích che giấu ý nghĩa diễn đạt theo quy ước chỉ những người nhất định mới hiểu. Tiếng lóng thường không mang ý nghĩa trực tiếp, nghĩa đen của từ phát ra mà mang ý nghĩa tượng trưng, nghĩa bóng.

Đa số các từ lóng có nguồn gốc và được sử dụng tại một địa phương nhất định, đặc biệt là giữa các miền Bắc, Trung, Nam. Nhiều từ có từ rất lâu đời. Một số từ mới bắt đầu xuất hiện trong vài chục năm trở lại, thậm chí chỉ vài năm.

Từ lóng trong Việt ngữ được sử dụng bởi nhiều thành phần xã hội. Những từ mang nghĩa tục tĩu được học sinh, sinh viên, dân chợ búa, nông thôn, xóm lao động nghèo dùng nhiều nhất. Những từ nhẹ nhàng thay thế cho các vấn đề tế nhị thì được dùng ở ngữ cảnh lịch sự, hoặc trong cộng đồng tri thức. Những từ còn lại dùng trong các ngữ cảnh như trong gia đình, giữa bạn bè, đồng nghiệp, ở hàng quán, v.v. (theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia)

Chủ đề này sưu tầm một số từ lóng hiện đang được sử dụng.

Lưu ý: chúng ta không nên lạm dụng tiếng lóng, thứ ngôn ngữ không chính thức, đặc biệt là các bạn trẻ. Ở đây chỉ là tìm hiểu để biết chứ không muốn các bạn tìm hiểu để sử dụng thay cho tiếng Việt trong sáng!

emcungyeukhoahoc
11-09-2012, 03:31 PM
DÀY: Tính toán, khó chơi. Dùng để ám chỉ những kẻ chỉ biết nghĩ đến quyền lợi của mình hơn người khác (VD: Thằng đó “dày” lắm, đừng chơi với nó nữa!)

XÙ: Có nhiều nghĩa: Xa, quên, ăn giựt, không chơi với nhau nữa. (VD: Hai đứa tụi nó “xù” nhau rồi. Hoặc: Ê! Thua rồi tính “xù” hả mậy?)


LÊ ĐÌNH MOÓC
(Tiền Giang)


ĐUA: Chẳng phải là chạy, nhảy, hay thi thố tài năng gì cả, mà ý ở đây muốn nói lên một hành động lấy cắp của người khác trong lúc họ sơ hở, không cảnh giác. (VD: Hôm qua có người bị “đua” chiếc xe đạp mới toanh tại chỗ này đó ông ơi! Hoặc: Chà! Mày để cái xe trước nhà mà không khóa, coi chừng ở đây tụi nó “đua” đó!)


HUỲNH TIẾN ĐẠT
(Phan Thiết)

theo TTC

emcungyeukhoahoc
11-09-2012, 03:33 PM
ĐÁNH BẮT XA BỜ: Ám chỉ những người không lịch sự trong khi ăn nhậu. Ví dụ: - Ăn hết đĩa mồi trước mặt chưa đã mà còn thò đũa sang bên này để “đánh bắt xa bờ”!

NU: Thuật ngữ dùng trong bóng đá nhưng đã được các thợ xây dùng trao đổi với nhau khi muốn lãn công. Ví dụ: - Ông chủ đi rồi, “nu” đi các bạn.
NGUYỄN VĂN HỌC (Đà Nẵng)


ĐI ĐÊM: Ám chỉ hành động thỏa thuận với nhau để làm việc mờ ám. Ví dụ: - Nhờ biết “đi đêm” mà anh ta đã nhận thầu được công trình rất béo bở.

VƯỢT RÀO: Ám chỉ việc làm vượt quá phạm vi quyền hạn của mình. Ví dụ: - Hành động “vượt rào” của cơ quan anh ta đã qua mặt được đoàn thanh tra nhờ khôn khéo.


HỌC VĂN (Đà Nẵng)

theo TTC

emcungyeukhoahoc
11-09-2012, 03:40 PM
Đứng hình: Không phải tivi bị trục trặc, mà "đứng hình" được dùng để chỉ sự ngạc nhiên, bất ngờ đột ngột.

Ví dụ: - Chắc nó đang nói xấu tui nên khi tui xuất hiện, nó "đứng hình" liền!


Hoặc: - Gặp tao móc "dế khủng" ra là nó "đứng hình" à!

Bói: "Bói" ở đây không chỉ sự mê tín, cầu gia đạo cạo da đầu, mà chỉ sự khó khăn, bất lực trong việc tìm kiếm cái gì đó.


Ví dụ: - Bây giờ biết "bói" ở đâu ra tiền đây?!

Hoặc: - "Bói" một người có tài như hắn, hiếm lắm!

ĐẶNG MINH TÂM
(TP.HCM)


Hạ cánh an toàn: Ngầm chỉ sự "lọt lưới trời" của các quan tham.

Ví dụ: - Ông ấy về hưu lúc này là biết cách "hạ cánh an toàn".

Sờ gáy: Ám chỉ ai đó đang bị cơ quan có trách nhiệm mời đi "mần việc".

Ví dụ: - Vì vụ tổ chức đánh bạc vừa rồi nên cậu ta đã bị công an "sờ gáy".
HỌC VĂN (Đà Nẵng)

theo TTC

emcungyeukhoahoc
11-09-2012, 03:44 PM
Bánh mì kẹp thịt: Cụm từ sặc mùi ẩm thực này đang được dùng trong bệnh viện công. "Bánh mì" chỉ bệnh nhân mổ theo lịch sắp xếp của khoa (mổ công - ít tiền), còn "thịt" chỉ bệnh nhân mổ theo dịch vụ (nhiều tiền). Đây là hình thức bác sĩ tận dụng giờ công, cơ sở vật chất nhà nước (dành mổ "bánh mì") để mổ dịch vụ (kèm "thịt").

SU (TP.HCM)


Tan trường: Để chỉ mối quan hệ rạn nứt, chia tay. Chẳng hạn: Tao và nhỏ đó "tan trường" rồi. hoặc Thằng đó cà chớn quá, tao cho "tan trường" luôn rồi!


Bẻ cò: Chỉ việc thực hiện không đúng như cam kết. Ngoài ra, thường được các bợm nhậu dùng. Chẳng hạn: Nó đi ra ngoài nói chuyện điện thoại rồi, "bẻ cò" cho nó đi.


SƯ PHỤ RÙA (Vĩnh Long)

theo TTC

emcungyeukhoahoc
11-09-2012, 03:46 PM
Cấy: Không liên quan gì đến cây lúa và miếng ruộng cả. Đây là tiếng trong nghề dạy học, khi hết học kỳ hoặc hết năm học mà sổ điểm chưa đủ các cột điểm cho học sinh, giáo viên phải điền vội vào cho đủ cột.

Ví dụ: - Tối nay chắc tui phải thức cả đêm để “cấy” điểm quá! Kẻo mai bị thanh tra sờ gáy thì tiêu!


THÀNH DƯƠNG
(Nha Trang)


Tút: Cách nói khác của từ make-up, trang điểm trong giới ca sĩ, người mẫu.

Ví dụ: - Cô nàng “tút’’ lại dung nhan lần cuối rồi mới ra sân khấu.
Tút còn có nghĩa là sửa sang, chỉnh đốn, làm đẹp lại những cái đã quá cũ.

CÔNG CHUNG
(Bắc Ninh)

theo TTC

emcungyeukhoahoc
11-09-2012, 03:53 PM
Đạn: không phải chỉ thứ đi kèm với súng, mà để chỉ khả năng về tiền bạc trong các cuộc vui chơi giải trí.

Ví dụ: - Bọn bay đem theo bao nhiêu “đạn” để còn tính nữa?
- Chừng đó “đạn” sao mà bắn cho được.
“Đạn” còn có thể sử dụng với mục đích không tốt đẹp dùng để đối phó với chuyện gì đó.
Ví dụ: chuẩn bị đầy đủ “đạn”(phao) như thế này làm sao mà thi rớt được.


Lên thớt/lên dĩa: chỉ tình trạng người nào đó sắp bị xử, lúc đầu được dùng trong giới giang hồ, sau phổ biến với nghĩa rộng hơn, nhiều nghĩa hơn.

Ví dụ: - Hôm qua trộm tiền nhà đi vũ trường, bị phát hiện, phen này tao “lên thớt” rồi!
Còn có nghĩa sắp phải đối mặt với tình trạng khó khăn phức tạp hay căng thẳng.
Ví dụ: - Ngày mai là thi đại học rồi! Chuẩn bị “lên dĩa” thôi!


Mìn: không phải là vũ khí sát thương mà để chỉ hành động hay lời nói khiến người khác bị lừa. Thường đó là những cú lừa với mục đích cho vui và không để lại hậu quả tai hại hay đáng tiếc nào.
Ví dụ: - Tưởng “mìn” được em chắc? Đây không dễ bị lừa đâu.

VÔ NGÃ
(Đắc Lắc)

theo TTC

emcungyeukhoahoc
11-09-2012, 04:01 PM
CHÍCH: Không phải bị bệnh được bác sĩ tiêm thuốc mà ám chỉ việc ai đó bị mua chuộc hay mua chuộc ai đó. Ví dụ: Trận bóng này muốn thắng chỉ cần “chích” thủ môn là ăn chắc!, hoặc Đội bóng đó, cầu thủ đó, bị “chích” rồi nên mới đá như vậy thôi! TÚ NHỐP

* ĐỒ TẨN LIỆM: Thuật ngữ của dân nhậu ám chỉ các loại rau thơm, gia vị... kèm theo món chính. Ví dụ: Có cá rồi, mua đồ “tẩn liệm” về nấu canh chua.

* HÔI LÔNG: Có nghĩa xấu xa, thường được dùng trong những lời chê. Ví dụ: Thằng đó “hôi lông” lắm, chơi không vô!

VŨ CƯỜNG

* XIỀNG: Trong trường hợp dùng để chỉ mức độ: Được, tốt, tuyệt vời. Ví dụ: -Chú em thấy con xe này thế nào?
- Hơi bị “xiềng” đấy!
* NHÃO: Chỉ tính cách điệu đà, làm kiêu, làm dáng. Ví như:
- Ê, thấy em đó thế nào mày? Ok không?
- “Nhão” lắm, mày chịu không nổi đâu.

NGUYỄN MẬU HƯNG

theo TTC

emcungyeukhoahoc
11-09-2012, 04:05 PM
ỐC BƯƠU VÀNG:
Dùng để phê phán một ai đó không quân tử hoặc không được tích sự gì. Ví dụ: Trái banh như vậy mà đá ra ngoài, mày đúng là đồ "ốc bươu vàng!" hoặc: Tao nói với mày rồi, thằng đó là "ốc bươu vàng", không chơi được!.

ĐI BỤI:
Chỉ hành động bỏ nhà ra đi hoặc để chỉ một sự việc sắp kết thúc, hết hi vọng. Ví dụ: Thằng A "đi bụi" mấy ngày rồi, chưa ai liên lạc được với nó hết. hoặc: Đề thi khó quá, làm không được gì hết trơn, chắc "đi bụi" quá!.
SƯ PHỤ RÙA

(theo TTC)

emcungyeukhoahoc
11-09-2012, 04:08 PM
Tào Tháo rượt: (Tào Tháo là một nhân vật lẫy lừng thời Tam Quốc).

Khi nói Tào Tháo rượt không phải là nói ông Tào Tháo sống dậy rượt, đuổi mình; mà tiếng lóng của cụm từ này là chỉ sự đi đại tiện nhiều lần (hơn mức bình thường) của người nào đó (do ăn uống không hợp vệ sinh...). Ví dụ như: “Đi ăn cỗ xóm trên về là nó bị Tào Tháo rượt suốt 2 ngày liền”.


* Lý Thông: Là nhân vật trong truyện Thạch Sanh - Lý Thông với tính cách gian trá, độc ác, lợi dụng bạn bè. Khi ai đó bị gọi là đồ Lý Thông, điều đó có nghĩa là người đó có mưu mô, hành động mờ ám, lời nói dối trá, và thường hay chôm chỉa đồ của người khác. Dân gian ta thường có câu ca dao vui rằng: “Con người mỗi lúc một đông/ Thạch Sanh thì ít, Lý Thông thì nhiều”.



* Bùi Kiệm: Nhân vật trong truyện Lục Vân Tiên. Tiếng lóng có nghĩa là chê ai đó học dốt, học dở. Chẳng hạn “Thằng đó học như Bùi Kiệm mà đòi đi thi đại học!”.


* Chặt đẹp, chém đẹp: Tiếng lóng có nghĩa là mắc quá, mắc hơn mức bình thường. Ví dụ: “Uống có trái dừa nước không hà mà tiệm đó nó chặt đẹp tao tới 50.000đ”.


THẾ NGỌC (Tiền Giang)
theo TTC

emcungyeukhoahoc
11-09-2012, 04:13 PM
NẰM: Từ "thời thượng", được dùng trong giới bóng đá. "Nằm" để chỉ một đội bóng, hoặc một vài cầu thủ bán độ. Ta vẫn thường nghe: "Đội mình trận này nằm rồi!" hoặc: "Thằng X. đá kiểu này biết nó nằm rồi!".
ĐẶNG MINH TÂM (Bến Tre)


<tbody>
http://123.30.128.15/img.news/2011/07/4e180d553d28f151205.jpg

</tbody>
LỦM: Một thuộc tính cơ bản của bọn tham nhũng. Gạch, ngói, xi-măng, sắt, thép... nuốt được là lủm. "Chí công vô tư tiền dư bỏ túi" là lủm. Bụng bự béo ụt ịt là hệ quả của việc lủm. "Nghe nói hắn được trắng án là nhờ đút cho thằng bao che... lủm!".
CHÂU HƯNG THỊNH (Huế)

KỲ ĐÀ: Cản trở công việc gây hư hao, thất bại hoặc vỡ kế hoạch của người khác.
NƯỚC XANH (Trà Vinh)

theo TTC

emcungyeukhoahoc
11-09-2012, 04:27 PM
https://lh3.googleusercontent.com/-PBAE0YrTJCo/TYyaQ0rb4YI/AAAAAAAAA-s/uP-iqs5Bpgo/s400/ImageView.jpeg (https://lh3.googleusercontent.com/-PBAE0YrTJCo/TYyaQ0rb4YI/AAAAAAAAA-s/uP-iqs5Bpgo/s1600/ImageView.jpeg)

“Tặc” vốn là một từ được hiểu:

1. Làm hại (kẻ làm hại dân gọi là “dân tặc”, kẻ làm hại nước gọi là “quốc tặc”)
2. Giặc cướp (cướp ở núi gọi là “sơn tặc”, cướp ở biển gọi là “hải tặc”)
3. Loài sâu cắn hại lúa (con sâu cắn lúa gọi là “mâu tặc”)
4. Làm bại hoại (kẻ háo sắc, dâm ô gọi là “dâm tặc”)

Với nghĩa nào thì “tặc” bao giờ cũng xấu.

Trong tiếng Việt hiện đại, “tặc” được sử dụng trong các từ tổ như “hải tặc” (cướp biển), “không tặc”(cướp máy bay), “tin tặc” (tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin).

Và gần đây, trên báo chí xuất hiện ngày càng dày những từ ghép mới có đuôi là “tặc”. Thử tra google cho từ khóa “tặc” ta sẽ có ngay khoảng 15 000 000 kết quả.

“Tặc” hiện nay được hiểu là sự vi phạm pháp luật ở mọi cấp độ. Những từ tố đứng trước “tặc” có khi cũng là một từ Hán Việt nhưng phần lớn là tên thuần Việt. Sự kết nối theo kiểu “đầu gà đít vịt” này đã tạo thành những “..tặc” hết sức khập khiễng, trúc trắc, có khi tối nghĩa không nói được chủ đề của bài viết. May mắn là hầu hết những từ “...tặc” này đều được đặt trong ngoặc kép nhưng cá biệt cũng có vài bài viết không làm vậy.

Xuất hiện sớm nhất và được sử dụng rất nhiều lần có lẽ là “lâm tặc”. Xuất hiện sau nhưng được sử dụng nhiều vô địch lại thuộc về “đinh tặc”.

Trở lại chuyện lâm tặc, nếu hiểu theo nghĩa truyền thống, sơn tặc là cướp hoạt động ở địa bàn rừng núi, lấy sơn trại làm căn cứ; hải tặc là cướp trên biển và ven biển, thủy tặc cướp ở vùng sông, hồ... nhưng lâm tặc không có nghĩa là cướp ở trong rừng mà là phá rừng, mọi hình thức phá rừng, buôn lậu gỗ, động vật quí hiếm... “lâm” là đối tượng của “tặc”.

Còn “đinh tặc” lại có biểu thị khác: dùng đinh làm phương tiện vi phạm pháp luật, “đinh” là phương tiện của “tặc”.

Hiện nay, chỉ tính trên các tờ báo lớn, có tên tuổi tầm quốc gia thôi, ta cũng có thể thống kê được mấy chục loại “tặc” gắn liền với những đối tượng từ kim loại quí như vàng bạc, đá quí, khoáng sản, động vật, thực vật, xe cộ đến bùn, đất, bụi bặm... thậm chí có cả những loại “tặc” kỳ cục nhất trên đời ví như khoa học tặc trong bài Khoa học tặc và đinh tặc (khoa học tặc và đinh tặc đều không được đặt trong ngoặc kép) (Lao Động, 21-01-2011). Hay như bài “Quảng cáo tặc” hết đất sống (VnMedia, 22-01-2010) hoặc “khoan tặc” trong bài Từ nay đến tết, triệt hết “khoan tặc” (Người Lao Động, 28-10-2004).

Xin thống kê một số “... tặc” tiêu biểu đã được “điểm danh” trên các báo để bạn đọc chiêm nghiệm. Trước hết là những “..tặc” có liên quan đến khoáng sản, đất đai...: “Vàng tặc” hoành hành Cây Thị (Thái Nguyên) (Trang tin điện tử Đảng Cộng Sản Việt Nam, 28-11-2010); Cần dẹp bỏ nạn “vàng tặc” lộng hành (Thanh Niên, 19-12-2010); Chính quyền làm ngơ, “khoáng tặc” lộng hành (VTV News, 11-2008 ); “Dầu tặc” (Dân Việt, 12- 8-2010); “Than tặc” cuỗm hàng nghìn tấn than: cán bộ tiếp tay (Dân Trí, 28-04- 2010); Quảng Ngãi: “Điện tặc” hoành hành (Tuổi Trẻ, 16- 02-2008); “Đá tặc” An Xuân: Khai thác tan hoang trước mắt chính quyền (Tuổi Trẻ, 09-09- 2010); “Cát tặc” đe dọa cầu Rạch Miễu (Lao Động, 26-6- 2010); “Đất tặc”tấn công đường (Lao Động, 12-2008); Nối giáo cho “gạch tặc” (Công An Nhân Dân, 19-11-2010) “Bùn tặc” tấn công rừng đầu nguồn Đa Nhim (Lao Động, 23-02-2011); Kiểm tra các tuyến phố bị “bụi tặc” hoành hành (Công An Nhân Dân, 07-01-2010); “Rác tặc” hoành hành hồ Kim Liên (Việt Báo, 21-10-2007); Coi chừng “lửa tặc” (Tài Nguyên & Môi Trường điện tử, 07-11- 2010)... Đến những “... tặc” liên quan đến động vật: “Chó tặc” là hình thức cướp trắng trợn (VnExpress, 12-03-2009); Chợ phiên mèo ở thủ đô... , dễ bị “mèo tặc” đánh mất (Thanh Tra, 02-02-2011); Truy bắt 4 “trâu tặc” (Congannghean.vn, 31- 01-2011); Bắt 3 “ngưu tặc” dắt trâu trộm đem bán (Dân Trí, 12-02-2009); Bắt được “bò tặc” thưởng “nóng” 1 triệu đồng (Công An Nhân Dân, 4 năm trước), “Gà tặc” gặp công an (Congannghean.vn, 30-9-2009); “Rùa tặc” (Hà Nội Mới, 11-05-2008); Tóm gọn bọn “tôm tặc” (Công An Nhân Dân, 17-12-2010); Vấn nạn “cá tặc” ở Hồ Tây (Hà Nội Mới, 30-5-2008) và những... “tặc” liên quan đến thực vật như: “Kiểng tặc” ăn theo lũ lụt (Công An Đà Nẵng, 19-11-2010); “Mai tặc” lộng hành (Người Lao Động, 4 năm trước); “Cao su tặc” đang hoành hành (Đất Việt, 17-8-2010); Hàng chục “Sưa tặc” sa lưới (Dân Trí, 20- 9-2009); Một số biện pháp chống “cà tặc” (Giacaphe.com); “Dưa tặc” tung hoành ở Gia Lai (Công An Nhân Dân, 21-02- 2011). Bên cạnh “lâm tặc” còn có: “nông tặc” hoành hành (Gia Đình & Xã Hội, 21- 02-2011); “Ngư tặc” tàn phá Tam Giang (Tiền Phong, 28-8-2010); Đương đầu với “cào tặc” (bắt cá bằng lưới cào) (Việt Báo, 01-7-2007)

Có những “... tặc” gắn liền với công nghệ hiện đại như: “Dế tặc” chốn Sài thành (Việt Báo, 05-5-2006); Đau đầu vì “game tặc” (Dân Trí, 09-5-2006 ); “Xe tặc”... tung hoành (Sức Khỏe & Đời Sống, 08-12-2010)

Còn, còn rất nhiều “tặc” khác nữa, khó mà thống kê hết được. Tuy nhiên, có một điều có thể khẳng định được là đàng sau bất cứ “tặc” nào cũng là do con người, “tặc” nào cũng có hại và cũng đáng sợ. Càng phát hiện được thêm nhiều “tặc” thì càng đáng lo.

Về mặt ngôn ngữ, dù đã có rất nhiều bài báo phản ứng về câu chuyện “tặc” này nhưng cho tới giờ vẫn chưa có ai phân giải. Người thì bảo cái gì cũng ghép với “tặc” thì không bao lâu tiếng Việt của ta sẽ thành một bãi chiến trường, một kho tội phạm và không còn trong sáng nữa. Có người lại bảo đó là qui luật phát triển tất yếu của ngôn ngữ, làm phong phú hơn tiếng mẹ đẻ - vốn dĩ đã phong phú!

Điều đáng quan tâm là những “tặc” này hàng ngày được công nhiên nói, viết trên các phương tiện thông tin đại chúng, trong đó có rất nhiều tờ báo (báo viết và báo mạng), đài phát thanh, truyền hình có uy tín, có tầm phủ sóng trên cả nước và ra cả nước ngoài. Rất may là gần 100% những “tặc” đã có đều được đặt trong ngoặc kép khi viết, nhưng đối với người bình dân thì chuyện có hay không có ngoặc kép không khác gì nhau. Và công chúng bao giờ cũng đọc, nghe, nói, viết và hiểu theo báo, theo đài.

Cứ đà này, trong tương lai kho từ vựng tiếng Việt của chúng ta chắc chắn sẽ còn xuất hiện rất, rất nhiều “tặc” mới. Chẳng hạn: Trong bộ máy công quyền sẽ có “công tặc”, “cán tặc”; ngành Y dược sẽ có “y tặc”, “dược tặc”; ngành giáo dục sẽ có “giáo tặc”, “sinh tặc”. Tất nhiên trong lĩnh vực báo chí cũng sẽ xuất hiện “báo tặc”.

(sưu tầm, có bổ sung và lược bớt)

emcungyeukhoahoc
11-09-2012, 04:39 PM
...
Về từ tặc, trong Việt Nam tự điển của Hội Khai Trí Tiến Đức, xuất bản năm 1931, cho một ví dụ đạo tặc, nghịch tặc với nghĩa “giặc cướp”, ”phản nghịch”. Còn đứa con bội nghịch thì gọi là ”tặc tử”.

Trong Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ, xuất bản năm 1992, cho bốn ví dụ: đạo tặc, gian tặc, nghịch tặc, phản tặc. Thời kháng chiến chống Mỹ có thêm không tặc (kẻ lái máy bay Mỹ xâm phạm, bắn phá miền Bắc). Các kiểu ”tặc” ngày nay nhiều gấp bội: hải tặc, lâm tặc, đinh tặc, cáp tặc, đất tặc, tin tặc (“Thợ săn tin tặc ở Mỹ”, Người Lao Động, 9-6-2005)...


Về từ chạy, trong Việt Nam tự điển cho hai ví dụ với nghĩa ”xoay xở để lo việc”: chạy chọt, chạy quan. Trong khi đó Từ điển tiếng Việt đã loại đi từ chạy quan, chỉ còn lại chạy chọt. Riêng chạy tiền, chạy thầy chạy thuốc cả hai từ điển đều hiểu theo nghĩa “khẩn trương lo liệu để đạt cái đang cần, đang mong muốn”.

Bạn muốn biết tiếng Việt hiện nay? Chỉ riêng tít báo, chúng ta đã gặp chạy án: “Hoàn tất kết luận điều tra mảng chạy án vụ PMU 18” (Thanh Niên, 7-4-2007); chạy chức: “Nạn chạy chức, chạy quyền xảy ra khá phổ biến” (Tuổi Trẻ, 20-11-2007); chạy điểm: “Xét xử vụ “chạy điểm” tại Bạc Liêu (Thanh Niên, 26-11-2007), chạy hạn ngạch: “Con trai thứ trưởng cũng tham gia chạy hạn ngạch” (Tuổi Trẻ, 15-3-2007), chạy quyền: “Nạn chạy chức, chạy quyền xảy ra khá phổ biến” (Tuổi Trẻ, 20-11-2007); chạy trường: “Thi đâu học đấy, không còn chạy trường” (Tuổi Trẻ, 7-4-2007). Rồi chạy bằng, chạy thạc sĩ, chạy huy chương, chạy bằng khen, chạy quota, chạy việc làm...
Qua từ ngữ, chúng ta nhận ra hiện thực xã hội là như vậy.


NGUYỄN ĐỨC DÂN
báo Tuổi Trẻ

emcungyeukhoahoc
21-09-2012, 03:26 PM
Thượng lộ bình an: Khi lên xa lộ thì bình tĩnh mà đi vì không có công an.

Chó chạy cùng đường: Bọn bắt trộm chó thường đi cùng đường với nhau.


Đường ngang ngõ tắt: Đường dành cho những người chuyên làm việc mờ ám.


Mãi lộ: Đường đang thi công đem bán lại cho công ty làm đường khác để kiếm chênh lệch.


Đường ổ gà: Đường thử sức chịu đựng của cơ thể và xe cộ.


Đường cấm: Đường dành cho người coi thường luật lệ giao thông.


Đường một chiều: Đường mà khi tham gia giao thông, ta phải chiều nó để khỏi bị làm khó.


HỌC VĂN
(Đà Nẵng)
TTC