PDA

View Full Version : Thành ngữ Việt Nam



emcungyeukhoahoc
25-01-2013, 10:51 AM
Thành ngữ hay còn gọi là những cụm từ mang ngữ nghĩa cố định
Tiếng Việt có khoảng gần 6000 thành ngữ. Một số thành ngữ thông dụng:

A

Ác như tôm hùm
Ác giả ác báo
An bần lạc đạo
An cư lạc nghiệp
An phận thủ thường
Án binh bất động
Anh em cột chèo
Anh hùng không có đất dụng võ
Anh hùng mạt lộ
Anh hùng nhất khoảnh
Anh hùng rơm
Anh hùng tạo thời thế
Ao có bờ sông có bến
Ao liền ruộng cả
Ao sâu nước cả
Ao tù nước đọng
Ào ào như thác lũ
Áo ấm cơm no
Áo đơn đợi hè
Áo gấm đi đêm
Áo đơn lồng áo kép
Áo gấm về làng
Ăn báo cô
Ăn Bắc mặc Kinh (Bắc= miền bắc,Kinh = (cố đô Huế))
Ăn bằng nói chắc
Ăn bơ làm biếng
Ăn bờ ở bụi
Ăn bớt đọi, nói bớt lời
Ăn bữa hôm lo bữa mai
Ăn bớt ăn xén
Ăn cháo đá bát
Ăn đơm nói đặt
Ăn cơm trước kẻng
Ăn thùng uống vại
Ăn ốc nói mò
Ăn thủng nồi trôi rế
Ăn như rồng cuốn, nói như rồng leo, làm như mèo mửa
Ăn cây táo, rào cây sung

Ăn chắc mặc bền
Ăn cay nuốt đắng
Ăn cắp như ranh
Ăn cắp quen tay, ngủ ngày quen mắt
Ăn cần ở kiệm
Ăn cây nào rào cây nấy
Ăn quả nhớ kẻ trồng cây
Ăn quả vả, trả quả sung
Ăn cây táo rào cây sung
Ăn cháo đá bát *Ăn cháo lá đa
Ăn chay nằm mộng
Ăn chay niệm Phật
Ăn chắc mặc bền
Ăn chực nằm chờ
Ăn chưa no lo chưa tới
Ăn chung ở lộn
Ăn chung máng, ở chung chuồng
Ăn cỗ đi trước, lội nước đi sau
Ăn cơm chúa múa tối ngày
Ăn cơm có canh, tu hành có bạn
Ăn cơm lừa thóc, ăn cóc bỏ gan
Ăn cơm mới nói chuyện cũ
Ăn cơm nhà vác tù và hàng tổng
Ăn đến nơi, làm đến chốn
Ăn cơm thiên hạ
Ăn vóc học hay
Ăn đất nằm sương
Ăn đói mặc rách
Ăn đói mặc rét
Ăn đong ở đợ
Ăn đời ở kiếp
Ăn gan uống máu
Ăn giả làm thật
Ăn giập miếng trầu
Ăn gió nằm mưa
Ăn gửi nằm chờ
Ăn hiền ở lành
Ăn hương ăn hoa
Ăn hơn nói kém
Ăn khỏe như thần trùng
Ăn không ăn hỏng
Ăn không nên đọi, nói không nên lời
Ăn không ngồi rồi
Ăn không ngon, ngủ không yên
Ăn không nói có *Ăn lông ở lỗ
Ăn mày cầm tinh bị gậy
Ăn mày đòi xôi gấc
Ăn mày quen ngõ
Ăn mắm mút dòi
Ăn mặn khát nước
Ăn mật trả gừng
Ăn tục nói phét
Ăn nên làm ra
Ăn nên đọi, nói nên lời
Ăn miếng trả miếng
Ăn trắng mặc trơn
Ăn trên ngồi trước
Ăn tươi nuốt sống
Ăn vụng ngon miệng
Ăn sung mặc sướng
Ăn sung giả ngái
Ăn no ngủ kỹ
Ăn ngay nói thẳng
Ăn to nói lớn
Ăn xổi ở thì
Ăn trông nồi, ngồi trông hướng
Ăn xôi đòi đĩa

B

Bất phân thắng bại
Bụng làm dạ chịu
Bách chiến bách thắng
Ba chìm bảy nổi chín lênh đênh
Bờ xôi ruộng mật
Bình an vô sự
Bánh ít đi, bánh qui lại
Bán mặt cho đất, bán lưng cho trời
Bóc ngắn cắn dài
Ba chân bốn cẳng
Bòn tro đãi trấu
Bán anh em xa, mua láng giềng gần
Ba chìm bảy nổi
Ba làng bảy chợ
Bỏ thì thương, vương thì tội
Băng ngàn vượt bể
Bình cũ rượu mới
Buôn thúng bán mẹt
Buôn thùng bán chậu
Ba cọc ba đồng
Ba hồn bảy vía
Ba que xỏ lá
Bách niên giai lão
Bắt cá hai tay
Bình cũ rượu mới
Bới lông tìm vết
Buôn tảo bán tần


Có còn hơn không
Cò bay thẳng cánh
Có mới nới cũ
Có qua có lại
Có tật giật mình
Con nhà lính, tính nhà quan
Còn nước còn tát
Con ông cháu cha
Con dại cái mang
Con sâu làm rầu nồi canh
Cùng hội cùng thuyền
Chó treo mèo đậy
Cha nào con nấy
Chân lấm tay bùn
Chân cứng đá mềm
Châu chấu đá voi
Cháy nhà ra mặt chuột
Chạy sấp đập ngửa
Cá chậu chim lồng
Cành vàng lá ngọc
Cáo mượn oai hùm
Có thực mới vực được đạo
Chạy đôn chạy đáo
Cõng rắn cắn gà nhà
Chim kêu vượn hú
Coi trời bằng vung
Con dại cái mang
Chín bỏ làm mười
Cây muốn lặng mà gió chẳng ngừng
Chớ thấy sóng cả mà ngã tay chèo
Con nhà tông không giống lông cũng giống cánh
Chuột sa chĩnh gạo
Chở củi về rừng
Chó chạy cùng rào
Chó cắn ma
Con giun xéo lắm cũng quằn
Chưa thấy quan tài chưa đổ lệ
Cần cù bù thông minh
Chưa đổ ông nghè, đã đe hàng tổng
Cây ngay không sợ chết đứng
Chết cha còn chú, xẩy mẹ bú dì
Chọc gậy bánh xe
Chó chê mèo lắm lông
Chó cùng dứt dau
Cố đấm ăn xôi
Chia ngọt sẻ bùi
Chết vinh còn hơn sống nhục
Chết đứng còn hơn sống quỳ
Chậm như rùa
Chim sa cá lặn
Có trăng quên đèn
Chung lưng đấu cật
Cầu được ước thấy
Có công mài sắt, có ngày nên kim
Cua gặp ếch
Có ít nói sít ra nhiều
Cày sâu cuốc bẫm
Cẩn tắc vô áy náy
Cải chửa ra cây
Cờ bí dí tốt
Củi mục khó cháy
Cùm chân xích cánh
Chưa cứng lông mao đã rào vẫy đít
Cay như ớt, chát như sung
Chửi cha không bằng pha tiếng
Cả vú lấp miệng em
Cái khó ló cái khôn
Cạn tàu ráo máng
Cầm cân nảy mực
Chân nam đá chân xiêu
Chén tạc chén thù
Chén chú chén anh
Chưa biết mèo nào cắn mỉu nào
Con rồng cháu tiên
Của ít lòng nhiều

D

Đầu đường xó chợ
Đầu trộm đuôi cướp
Đất rộng trời cao
Đi đến nơi, về đến chốn
Đi guốc trong bụng
Điếc không sợ sấm
Điếc không sợ súng
Đội nón ra về
Được voi đòi tiên
Đêm dài lắm mộng
Đặng trăng quên trang
Đầu xuôi đuôi lọt
Đầu tắt mặt tối
Đánh rắm siêu khắm
Đầu voi đuôi chuột minh heo
Đã ngọng còn hay lu, đã ngu còn hay chơi chữ
Đầu bạc răng long
Đi đêm lắm có ngày gặp ma
Đi một ngày đàng, học một sàng khôn
Đói cho sạch, rách cho thơm
Đỉa đòi đeo chân hạc
Đen như cột nhà cháy
Đồng không mông quạnh
Da mồi tóc sương
Dĩ hòa vi quý
Dở dở ương ương
Dở ông dở thằng
Đa nghi như Tào Tháo
Đánh trống bỏ dùi
Đồng không mông quạnh
Đục nước béo cò
Được ăn, được nói, được gói mang về.

E

Ếch ngồi đáy giếng

Ếch chết tại miệng

Ế xưng ế xỉa

Ế sặc bọt

Ếch vồ hoa mướp

G

Gần lửa rát mặt
Gà đẻ trứng vàng
Giấy rách phải giữ lấy lề
Gậy ông đập lưng ông
Gần nhà xa ngõ
Giao trứng cho ác
Giấu đầu hở đuôi
Gần đất xa trời
Gắp lửa bỏ tay người
Giả nhân giả nghĩa
Giang sơn gấm vóc.
Giận cá chém thớt
Gieo nhân nào gặt quả nấy.
Gieo gió gặt bão
Giơ tay mặt đặt tay trái
Gặp nhau trước lạ sau quen
Giữ cho trong ấm ngoài êm thuận hòa
Giàu nứt đố đổ vách
Gương vỡ lại lành

H

Há miệng chờ sung
Họa vô đơn chí
Học thầy không tày học bạn
Hổ phụ sinh hổ tử
Hổ phụ vô khuyển tử
Học một hiểu mười
Hoa hòe hoa sói
Hóa mù ra mưa
Hữu danh vô thực
Há miệng mắc quai
Hồng nhan bạc phận
Hổ đầu xà vĩ
Hàng tôm hàng cá
Học ăn học nói học gói học mở
Hồn xiêu phách lạc

I

Ích nước lợi nhà

Ích kỉ hại nhân

Im hơi lặng tiếng

Ít xuýt ra nhiều

K

Không khảo mà xưng
Không thầy đố mày làm nên
Không mợ thì chợ vẫn đông
Khôn nhà dại chợ
Khôn ba năm dại một giờ
Khẩu phật tâm xà
Khỏe như voi
Khỉ ho cò gáy
Kiến bò miệng chén
Không khảo mà khai
Không thầy đó mày làm nên
Kẻ tám lạng, người nửa cân.
Kẻ cắp gặp bà già
Kén cá chọn canh
Kết tóc xe tơ
Kín cổng cao tường

L

Lá rụng về cội
Lạt mềm buộc chặt
Lời ăn tiếng nói
Làm trai cho đáng thân trai
Lòng lang dạ sói
Lòng vả cũng giống lòng sung
Lên voi xuống chó
Lên bờ xuống ruộng
Lực bất tòng tâm
Lên thác xuống ghềnh
Liễu yếu đào tơ
Lá lành đùm lá rách
lá xanh trồi biết
Lời ăn tiếng nói
Lo bò trắng răng
Lòng vả cũng như lòng sung

M

Muốn sang thì bắc cầu Kiều;
Muốn con hay chữ thì yêu lấy thầy;
Miệng nam mô, bụng bồ dao găm.
Múa rìu qua mắt thợ
Một nắng hai sương
Mèo khen mèo dài đuôi
Mất bò rồi mới làm chuồng
Mỡ để miệng mèo
Mong được ước thấy
Múa rìu qua mắt thợ
Mưa to gió lớn
Mạt cưa mướp đắng
Máu ghen Hoạn Thư
Mẹ tròn con vuông
Miệng hùm gan sứa
Môn đăng hộ đối

N

Ngưu tầm ngưu, mã tầm mã
Nước sông công lính
Năm thì mười họa
Nói một đằng làm một nẻo
Nhà sạch thì mát, bát sạch ngon cơm
Ngã theo chiều gió
Nhàn cư vi bất thiện
Non sông gấm vóc
Nước đục thả câu
Nhanh như cắt
Nhân vô thập toàn
Nhất cử lưỡng tiện
Nước chảy đá mòn
Nước mắt chảy xuôi
Nước đổ đầu vịt
Nước đổ lá khoai
Nuôi ong tay áo
Nuôi cáo trong nhà
No cơm ấm áo
Ngày lành tháng tốt
Nem công chả phượng
Ném đá giấu tay
Ngày rộng tháng dài
Nhà cao cửa rộng
Nhà tranh vách đất
Nước lọ cơm niêu
Nói trước quên sau
Nói phải giữ lấy lời
Nhanh như chớp
Nhanh như cắt
Nhát như cáy
Ngậm bồ hòn làm ngọt
Nghèo rớt mồng tơi
Nghiêng nước nghiêng thành
Ngồi lê đôi mách
Nát như tương
Nói có sách, mách có chứng
Nói nhăng nói cuội
Nói toạc móng heo

Ơ

Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài
Ở hiền gặp lành

Ơn trả nghĩa đền

Ơn sâu nghĩa nặng

P

Phép vua thua lệ làng
Phòng bệnh hơn chữa bệnh
Phun châu nhả ngọc
Phong gấm lụa là
Phi nội tắc ngoại
Phú quý sinh lễ nghĩa

Q

Quýt làm cam chịu
Quýt ngọt cam chua
Qua cầu rút ván
Quân sư quạt mo

R

Ruột để ngoài da
Ruộng sâu trâu nái không bằng con gái đầu lòng
Rán sành ra mỡ
Rồng mây gặp hội
Rừng vàng biển bạc
Ra ngô ra khoai
Rối như canh hẹ
Rồng đến nhà tôm

S

Sẩy đàn tan nghé
Sinh cơ lập nghiệp
Sông có khúc người có lúc
Sơn hào hải vị
Sang sông thì phải lụy đò
Sống khôn thác thiêng
Sinh nghề tử nghiệp
Sinh sôi nảy nở
Say hoa đắm nguyệt
Say như điếu đổ
Sơn cùng thủy tận
Sông cạn đá mòn
Sức dài vai rộng
Rét tháng ba bà già chết cóng

T

Tan đàn xẻ nghé
Trống đánh xuôi kèn thổi ngược
Trẻ người non dạ
Tiền mất tật mang
Thắt lưng buộc bụng
Tay làm hàm nhai tay quai miệng trễ
Thua keo này, bày keo khác
Trưởng giả học làm sang
Thầy bói xem voi
Tứ cố vô thân
Tránh vỏ dưa gặp vỏ dừa
Tiên học lễ, hậu học văn
Tay trắng tay đen
Thua me gỡ bài cào
Tham thì thâm
Tham phú phụ bần
Thương cho roi cho vọt, ghét cho ngọt cho bùi
Tắt lửa tối dèn
Trọng thầy mới được làm thầy
Trăm công ngàn việc
Trời yên biển lặng
Trông gà hóa cuốc
Tre già măng mọc
Thừa gió bẻ măng
Thiên la địa võng
Thấy người sang bắt quàng làm họ
Thẳng như ruột ngựa
Thần hồn nát thần tính
Thạch Sùng còn thiếu mẻ kho
Thả hổ về rừng
Thả con săn sắt, bắt con cá rô.
Tha phương cầu thực
Tham bát bỏ mâm
Thả mồi bắt bóng
Tức nước vỡ bờ
Tự lực cánh sinh
Tô son điểm phấn
Tả xung hữu đột
Tai bay vạ gió

U

Uống nước nhớ nguồn
Uổng công phí sức

Ù ù cạc cạc

Úp úp mở mở

V

Vạn sự khởi đầu nan
Vô thưởng vô phạt
Vắng chủ nhà, gà vọc niêu tôm
Vắt cổ chày ra nước
Việc nhà thì nhác, việc cô bác thì siêng
Vì thần phải nể cây đa
Vắt chanh bỏ vỏ
Vào sinh ra tử
Vụng chèo khéo chống
Vỏ quýt dày có móng tay nhọn
Vạn sự như ý,an khang thịnh vượng
Vườn rộng rào thưa

X

Xuất đầu lộ diện
Xuất khẩu thành thơ
Xem mặt mà bắt hình dong
Xôi hỏng bỏng không
Xa mặt cách lòng
Xa sông cách núi

Y

Yêu cho roi cho vọt, ghét cho ngọt cho bùi.
Yêu thì củ ấu cũng tròn, ghét thì bồ hòn cũng méo.

Yếm thắm trôn kim

emcungyeukhoahoc
25-01-2013, 10:57 AM
Thành ngữ Hán Việt dùng để chỉ những kết cấu ngôn ngữ rất ổn định, phổ thông, cô đọng về mặt ngữ nghĩa thịnh hành trong tiếng Trung Quốc, được du nhập vào Việt Nam và sử dụng rộng rãi từ xưa đến nay.

Đặc điểm
Thành ngữ Hán Việt rất đa dạng nhưng thường gồm 4 chữ, 5 chữ hoặc 8 chữ, trong đó tỷ lệ các thành ngữ 4 chữ chiếm số lượng lớn đến 75-80%.

Kết cấu thành ngữ thường theo dạng biền ngẫu, đăng đối dễ dàng nhận thấy trong các thành ngữ 4 chữ, hoặc 8 chữ ví dụ:

Công thành danh toại - Công thành <> Danh toại
Đại sự hóa tiểu, tiểu sự hóa vô - Đại sự <> Tiểu sự

Còn dạng 5 chữ thì hai chữ Hán đầu và hai chữ Hán cuối là hai vế đối xứng qua một chữ ở giữa, ví dụ:

Đại ngư cật tiểu ngư - Đại ngư < cật > Tiểu ngư

Rất nhiều thành ngữ sử dụng các điển cố văn học, là các tích truyện xưa có giá trị giáo dục và ý nghĩa lịch sử sâu sắc. Chẳng hạn:

Lục lâm hảo hán: chỉ người anh hùng trong dân gian, hoặc bọn cướp trộm tụ tập thành bầy. Theo truyện xưa thời Vương Mãng, những kẻ nổi dậy chống lại triều đình tụ họp nhau ở núi Lục Lâm.
Bạt miêu trợ trưởng: nhấc mạ lên giúp lúa mau lớn, chỉ sự nóng vội làm hỏng việc. Chuyện xưa ở nước Tống có người thấy lúa quá chậm lớn, bèn lấy tay nhấc cho mạ cao lên hơn. Về nhà khoe rằng hôm nay đã giúp cho thân mạ lớn lên. Đứa con nghe vậy, chạy ra ruộng xem thì mạ đã khô héo cả.
Ma chử thành châm: mài chầy nên kim, mài sắt nên kim. Theo truyện xưa, Lý Bạch hồi nhỏ rất lười học, ham chơi. Một buổi đi chơi thấy một bà lão suốt ngày ngồi cặm cụi cầm chiếc chày sắt mài đi mài lại. Lý hỏi làm thế để làm gì, bà lão trả lời rằng, mài cho thành chiếc kim khâu. Nhân đó, Lý Bạch tỉnh ngộ và chăm chỉ học hành, về sau trở thành nhà thơ lớn của Trung Quốc cổ đại.

Ứng dụng
Hàng nghìn thành ngữ Hán Việt được sử dụng trong tiếng Việt từ xưa tới nay, không chỉ bởi những người "thích nói chữ" mà rất phổ biến trong đời sống thường nhật, do sự cô đọng về mặt ngữ nghĩa khiến các thành ngữ đó có giá trị ứng dụng rất lớn. Trong thực tế ứng dụng thành ngữ Hán Việt của tiếng Việt hiện đại người ta thường gặp các dạng sau:

Sử dụng nguyên gốc

Thành ngữ Hán Việt thường được sử dụng nguyên bản từ gốc Hán nếu đó là thành ngữ có những từ Hán Việt tương đối dễ hiểu, phổ thông với đa số, chẳng hạn:

Tâm đầu ý hợp
Bách chiến bách thắng
Chiêu hiền đãi sĩ
Vạn sự khởi đầu nan
Trường sinh bất lão
Vô danh tiểu tốt
Tứ hải giai huynh đệ
Tham quyền cố vị

Sử dụng như thành ngữ thuần Việt

Cũng không hiếm khi thành ngữ Hán Việt được dịch nghĩa để trở thành thành ngữ Việt, hoặc thành ngữ Hán Việt ngẫu nhiên trùng nghĩa với một thành ngữ do người Việt sáng tạo. Trường hợp chuyển hóa thành ngữ Hán Việt thành thành ngữ thuần Việt thường gặp đối với những thành ngữ sử dụng thường xuyên trong tiếng Việt, nhưng nếu để nguyên gốc sẽ rất khó hiểu, trúc trắc về mặt ngôn từ, chẳng hạn:

Cung kính bất như tòng mệnh (thành ngữ Hán) - Cung kính không bằng tuân lệnh (thành ngữ Việt)
Nhất khái chi luận (thành ngữ Hán) - Nhìn chung mà nói (thành ngữ Việt)
Tỉnh đế chi oa (thành ngữ Hán) - Ếch ngồi đáy giếng (thành ngữ Việt)
Tụ tinh hội thần (thành ngữ Hán) - Tập trung tinh thần (thành ngữ Việt)
Thủy trung lao nguyệt (thành ngữ Hán) - Mò trăng đáy nước (thành ngữ Việt)
Tri kỉ tri bỉ (thành ngữ Hán) - Biết mình biết người (thành ngữ Việt)
Đại ngư cật tiểu ngư (thành ngữ Hán Việt) - Cá lớn nuốt cá bé (dịch nghĩa)

Sử dụng thành ngữ phổ biến hơn

Một số thành ngữ Hán Việt được sử dụng trong tiếng Việt nhưng ít phổ biến hơn một số thành ngữ Hán Việt khác có ý nghĩa tương đương, chẳng hạn:

Vạn cổ lưu phương (thành ngữ Hán Việt ít sử dụng) - Vạn cổ lưu danh (thành ngữ Hán Việt sử dụng thường xuyên hơn)
Nhập tình nhập lý (thành ngữ Hán Việt ít sử dụng) - Hợp tình hợp lý (thành ngữ Hán Việt sử dụng thường xuyên hơn)
Tác uy tác phúc (thành ngữ Hán Việt ít sử dụng) - Tác oai tác quái (thành ngữ Hán Việt sử dụng thường xuyên hơn)

Thay đổi chữ và vị trí chữ

Khi được chuyển hóa thành thành ngữ Hán Việt, nhiều thành ngữ gốc Hán đã có sự chuyển hóa vị trí một số chữ Hán hoặc thay một chữ Hán khác cho phù hợp với tiếng Việt hơn, chẳng hạn:

Xà khẩu phật tâm (thành ngữ Hán) - Khẩu xà tâm phật (thành ngữ Hán Việt)
Cửu tử nhất sinh (thành ngữ Hán) - Thập tử nhất sinh (thành ngữ Hán Việt)
An phận thủ kỹ (thành ngữ Hán) - An phận thủ thường (thành ngữ Hán Việt)
Nhất lộ bình an (thành ngữ Hán) - Thượng lộ bình an (thành ngữ Hán Việt)
Mã đáo công thành (thành ngữ Hán) - Mã đáo thành công (thành ngữ Hán Việt)

Nôm hóa một số chữ

Một số thành ngữ Hán Việt được thay đổi một vài chữ Nôm có nghĩa tương đương, ví dụ:

Dĩ độc trị độc (thành ngữ Hán Việt nguyên bản) - Lấy độc trị độc (thành ngữ Hán Việt đã thay đổi chữ)
Văn dĩ tải đạo (thành ngữ Hán Việt nguyên bản) - Văn để tải đạo (thành ngữ Hán Việt đã thay đổi chữ)

Sử dụng vắn tắt

Nhiều thành ngữ Hán chuyển sang tiếng Việt đã được vắn tắt hóa, tinh giản hóa thành các cụm từ ngắn gọn hơn, chẳng hạn:

Thương hải biến vi tang điền (bãi bể thành ruộng dâu, nói về sự thay đổi của thế sự) - Dâu bể (giản hóa)
Tự tương mâu thuẫn (xung khắc với nhau, như cái mâu/giáo đâm gì cũng thủng lại đâm vào cái thuẫn/khiên không gì đâm thủng được) - Mâu thuẫn (giản hóa)
Xảo ngôn như lưu (nói năng khéo léo trôi trảy như rót vào tai) - Xảo ngôn hoặc Nói khéo (giản hóa)


theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia