PDA

View Full Version : Tiếng Việt và Tiếng Nhật trong khu vực văn hóa Hán



matbiec
28-06-2013, 12:08 PM
Ngay từ thời cổ đại, Trung Quốc với tư cách là trung tâm văn hóa đã có giao lưu với nhiều nước ở châu Á và đã gây ảnh hưởng khá lớn đến các nước này. Một trong những ảnh hưởng đó phải kể đến là ảnh hưởng về ngôn ngữ và văn tự.
Nhật Bản và Việt Nam nằm trong khu vực văn hóa Hán nên cùng chịu chung những ảnh hưởng của chữ Hán. Thế nhưng, cách tiếp cận chữ Hán trong tiếng Nhật và tiếng Việt có giống nhau hay không ? Ngày nay ở Nhật Bản chữ Hán vẫn tiếp tục được sử dụng, trong khi đó chữ Hán lại không được dùng nữa ở Việt Nam. Mặc dù vậy, một khối lượng lớn từ gốc Hán vẫn còn tồn tại trong tiếng Việt hiện đại. Việc nghiên cứu so sánh mối tương quan này là điều cần thiết để hai dân tộc có thể hiểu nhau hơn.
1- Chữ Hán và khu vực văn hóa Hán
Chữ Hán là văn tự được phát minh bởi dân tộc Hán - một dân tộc cư trú ở lưu vực sông Hoàng Hà vào khoảng 5000 năm trước Công nguyên. Chữ Hán và văn hóa Hán từ lưu vực sông Hoàng Hà tiến về phía Nam, vượt qua lưu vực sông Dương Tử rồi đi xa hơn nữa về phía Nam và xâm nhập vào Việt Nam. Mặt khác, nó cũng tiến lên phía Bắc gây ảnh hưởng đến các dân tộc Mãn Châu. Từ đây nó tiếp tục tiến xa hơn nữa, đến tận bán đảo Triều Tiên và quần đảo Nhật Bản. Điều này cũng có nghĩa là Nhật Bản, Việt Nam và Triều Tiên cùng tiếp nhận và sử dụng chữ Hán.
Việc tiếp xúc với tiếng Trung Quốc sâu rộng trong một thời gian dài đã đem lại những ảnh hưởng như nhau trong tiếng Việt và tiếng Nhật, có thể nói đó là ảnh hưởng mang tính chất chung của toàn khu vực. Đó là cách ghi âm trong tiếng Việt và tiếng Nhật, cách tạo chữ Quốc tự ở Nhật Bản và phương pháp tạo chữ Nôm ở Việt Nam.
Thế nhưng cũng không thể không có những ảnh hưởng không như nhau trong tiếng Việt và tiếng Nhật. Tiếng Việt cùng loại hình ngôn ngữ đơn âm tiết với tiếng Trung Quốc cho nên âm Hán Việt vẫn bảo lưu được cách đọc chữ Hán đời Đường. Còn tiếng Nhật lại là ngôn ngữ đa âm tiết nên ảnh hưởng của tiếng Trung Quốc không mang tính quyết định như vậy.
2. Ảnh hưởng của chữ Hán trong tiếng Nhật
2.1. Tiếp xúc với chữ Hán
Tiếng Nhật tiếp xúc với chữ Hán ở lục địa Trung Quốc từ khi nào ? Tổ tiên người Nhật sống trên bán đảo Nhật Bản tiếp xúc sau đó học tập, lí giải những chữ Hán của người Trung Quốc từ khi nào ? Về vấn đề này cũng có khá nhiều ý kiến khác nhau. Theo tác giả sách Nihongo no rekishi 2 moji to no meguriai (1966)(1) thì chữ Hán được truyền vào Nhật Bản khoảng thế kỷ IV (tr.168). Còn theo ông Nakađa (1982)(2) thì ngay từ thế kỷ thứ I, tổ tiên người Nhật đã tiếp xúc với chữ Hán và văn hóa Hán ở lục địa và bán đảo rồi. Ông còn cho rằng sự tiếp xúc giữa tiếng Nhật và chữ Hán chẳng qua là sự tiếp xúc mang tính chất ngẫu nhiên mà thôi. Chữ Hán mà những Quy hóa nhân(3) dạy cho người Nhật Bản sau một quá trình học tập và tuyển chọn đã được sử dụng với tư cách là văn tự phù hợp cho việc ghi lại tiếng Nhật.
2.2. Ảnh hưởng của chữ Hán
Sau một quá trình tiếp thu và chọn lọc, chữ Hán được chính thức sử dụng trên quần đảo Nhật Bản. ảnh hưởng của chữ Hán trong tiếng Nhật có thể nói là trên cả ba mặt hình, âm và nghĩa. Ví dụ: chữ Hán 山 vốn được mượn hình của chữ Hán và phát âm “san”. Đó là cách phát âm vốn là của Trung Quốc do người Nhật bắt chước mà đọc theo vậy, được gọi là cách đọc ON. Lại còn một cách phát âm nữa là “yama”, đây là cách đọc nghĩa của chữ Hán mà người Nhật gọi là cách đọc GI, hay còn gọi là KUN. Việc hình thành cách đọc KUN có ý nghĩa lớn trong lịch sử tiếng Nhật.

matbiec
28-06-2013, 12:09 PM
Sau đây xin đưa ra những kết quả cụ thể của quá trình tiếp xúc đó:
a) Việc hình thành cách đọc GOON và KANON
Hệ thống âm được truyền vào tiếng Nhật sớm nhất là âm đọc thời Hán. Những âm này ngày nay hầu như không còn nữa. Vào khoảng thế kỷ V - VI Ngô âm ở vùng Nam Trung Quốc đã truyền vào Nhật Bản, và được gọi là GOON. Lúc này, chữ Hán đã gây ảnh hưởng sâu trên toàn lãnh thổ Nhật Bản. Rất nhiều tác phẩm như Kojiki, Manyoshu đều được biên tập vào thời kỳ này. Vào thời nhà Đường (tương đương với thời Nara của Nhật Bản) cách phát âm ở vùng Trường An cũng gây ảnh hưởng tới Nhật Bản và được gọi là KANON. Đầu thời kỳ Heian, KANON đã trở thành hệ âm tiêu chuẩn của Nhật Bản. GOON và KANON vẫn liên tục được sử dụng cho đến ngày nay. Sự phân biệt GOON và KANON xin xem bảng sau:


<tbody>
Bảng 1: Goon và Kanon
http://hannom.org.vn/web/tchn/data/icones/10x2.gif

</tbody>


<tbody>
Chữ Hán
Go on
Ka non



kyo
kei



gyo
go



myo
mei



kyo
kei



e
kai


</tbody>


(Theo sách Kana, tác giả Komatsu Shigemi, Nxb. Iwanami shinsho, 1969).
b. Việc hình thành cách đọc Hiragana và Katakana.
Ở Manyogana(4) thì chữ Hán vẫn còn nhiều, nét chữ cũng rất phức tạp. Bởi vậy dạng văn tự biểu âm Hiragana và Katakana được tạo ra bằng cách giản lược các bộ phận của chữ Hán đã ra đời. Katakana được tạo ra bằng cách giản lược chỉ lấy một bộ phận của chữ Hán. Ví dụ: chữ e 工 là do chữ Hán 江, chữ sa là do chữ Hán 散, chữ ta 夕 là do chữ Hán 多, chữ nu http://hannom.org.vn/web/tchn/data/han55002.gif là do chữ Hán 奴, chữ hi http://hannom.org.vn/web/tchn/data/han55004.gif là do chữ Hán 比 giản lược mà thành.
Đầu thời kỳ Heian, thơ văn chữ Hán được Nhật Bản hóa nhiều. Nam giới khi đăng quan thì phải viết sách vấn, đối sách bằng Hán văn. Thế nhưng nữ giới theo luật lệ đương thời thì không được dùng Hán văn, Hán tự. Vì vậy, trong giới nữ lưu quý tộc đã tạo ra văn tự riêng chuyên dùng để làm thơ, viết nhật ký. Dạng văn tự này được gọi là onnade(5). Cách tạo dạng chữ này không chỉ giản hóa chữ Hán mà còn phân biệt cả thanh trọc. Việc ra đời Hiragana có thể nói là một cố gắng lớn của giới nữ lưu quý tộc thời Heian. Xin giới thiệu một vài chữ Hiragana được tạo ra từ chữ Hán. Chữ ka http://hannom.org.vn/web/tchn/data/han55006.gif là do chữ Hán 加, chữ to http://hannom.org.vn/web/tchn/data/han55008.gif là do chữ Hán 止, chữ na http://hannom.org.vn/web/tchn/data/han55010.gif là do chữ Hán http://hannom.org.vn/web/tchn/data/han55012.gif, chữ yo http://hannom.org.vn/web/tchn/data/han55014.gif là do chữ Hán 與, chữ ri http://hannom.org.vn/web/tchn/data/han55016.gif là do chữ Hán 利 giản lược mà thành. Ngày nay, Hiragana và Katakana cùng song song sử dụng, nhưng có sự phân công rõ ràng: Hiragana dùng để ghi âm Nhật, còn Katakana lại được dùng để phiên âm từ ngoại lai.
c) Kanji Kanamajiri bun
Ngày n ay, tiếng Nhật được viết bằng cách có chen cả Kanji và Kana (Kanji Kana majiri bun). Đối với người Nhật Bản ngày nay đó là việc đương nhiên mà họ cũng chẳng cần để ý tới. Thế nhưng, việc viết có chen lẫn cả chữ Hán là loại văn tự biểu ngữ và Kana là loại văn tự biểu âm có thể nói là một sản phẩm của việc Nhật Bản hóa Hán văn vậy.
“Kanji kanamajiribun” xuất hiện dần dần vào khoảng cuối thời Heian. Bộ phận mang ý nghĩa cụ thể trong tiếng Nhật, tức là bộ phận có thể viết bằng chữ Hán thì sẽ được viết hoàn toàn bằng chữ Hán; còn bộ phận không thể viết được bằng chữ Hán thì sẽ viết bằng chữ Kana. Theo đó, những trợ từ, trợ động từ như o http://hannom.org.vn/web/tchn/data/han55018.gif, ni http://hannom.org.vn/web/tchn/data/han55020.gif, kara http://hannom.org.vn/web/tchn/data/han55021.gif 歝, ga http://hannom.org.vn/web/tchn/data/han55023.gif, kimu http://hannom.org.vn/web/tchn/data/han55025.gif http://hannom.org.vn/web/tchn/data/han55027.gif, kemu http://hannom.org.vn/web/tchn/data/han55029.gif http://hannom.org.vn/web/tchn/data/han55030.gif... thì không thể viết được bằng chữ Hán mà phải viết bằng chữ Kana. Ví dụ câu watashi ha nihongo wo benkyo shiteimasu 私 http://hannom.org.vn/web/tchn/data/han55032.gif日 本 語 http://hannom.org.vn/web/tchn/data/han55033.gif 勉 強 http://hannom.org.vn/web/tchn/data/han55035.gif http://hannom.org.vn/web/tchn/data/han55037.gif http://hannom.org.vn/web/tchn/data/han55039.gif 洩 http://hannom.org.vn/web/tchn/data/han55041.gif là câu được viết theo dạng Kanji kanamajiribun.
d) Sự hình thành Kokuji
Như trên đã nói ảnh hưởng của chữ Hán trong tiếng Nhật là rất sâu rộng. Sự hình thành Katakana, Hiragana là kết quả của sự phát triển trong lịch sử tiếng Nhật. Theo đó, đại bộ phận âm tiết trong tiếng Nhật được ghi lại một cách rất đơn giản. Thế nhưng, để ghi lại những khái niệm, sự vật không có trong văn hóa Trung Quốc thì người Nhật Bản đã làm như thế nào ? Người Nhật đã bắt chước phương pháp cấu tạo chữ Hán để tạo ra chữ mới. Loại văn tự được tạo thành để biểu thị sự vật mang đặc trưng văn hóa Nhật Bản đó được gọi là Quốc tự hay Hòa tự. Số chữ thu thập được trong Kokuji jiten (Từ điển Quốc tự, 1990) là 1553 chữ. Cách cấu tạo của Quốc tự có thể phân làm mấy loại như sau:
d1. Loại chữ do hai chữ Hán hợp thành, gồm:
- Kết hợp ý nghĩa của hai chữ Hán như dạng chữ Hội ý
- Kết hợp âm của hai chữ Hán
d2. Chữ Hán lược nét
- Giảm bớt một số bộ phận của chữ Hán.
- Hệ thống Hiragana và Katakana
d3. Kết hợp chữ lược nét
- Kết hợp hai chữ Hán lược nét
- Kết hợp hai chữ Kana

matbiec
28-06-2013, 12:13 PM
3- Ảnh hưởng của chữ Hán ở Việt Nam
3.1. Tiếp xúc với chữ Hán
Sự tiếp xúc với chữ Hán trong tiếng Việt không giống như trong tiếng Nhật. Đó là quá trình tiếp xúc liên tục trong một thời gian dài và có thể nói là không thể tránh khỏi. Suốt hàng ngàn năm chịu sự thống trị của giặc phương Bắc, nên chữ Hán đã trở thành phương tiện giao tiếp quan trọng cho cả hai bên; trong khi ở tiếng Nhật thì đó chẳng qua chỉ là tiếp xúc mang tính chất ngẫu nhiên. Hơn nữa, tiếng Việt và tiếng Trung Quốc cùng là ngôn ngữ đơn âm tiết nên khi tiếp thu, tiếng Việt có thể phát huy cao độ năng lực âm tiết để có thể tạo hiệu quả cao nhất. Sau một quá trình thu thập, tuyển chọn trong một thời gian dài, tiếng Việt đã vứt bỏ những bộ phận không cần thiết và chỉ giữ lại những bộ phận phù hợp nhất.
3.2. ảnh hưởng của chữ Hán trong tiếng Việt
a) Hình thành âm Hán Việt
Chữ Hán chính thức được dạy ở Việt Nam vào cuối thời Đông Hán (thế kỷ I). Lúc đó chữ Hán trở thành phương tiện giao tiếp quan trọng đối với cả người Trung Quốc và người Việt Nam. Bởi vậy chữ Hán đã được người Việt Nam nhanh chóng tiếp thu và sử dụng. Đặc biệt đã nảy sinh truyền thống sáng tác bằng văn ngôn; rất nhiều tác phẩm đã được viết ra và lưu truyền. Mặt khác lại nảy sinh cách đọc tiếng Hán rất đặc biệt. Cách đọc đó được hình thành từ cuối thời Đông Hán và đặc biệt là thời Đường, gọi là cách đọc Hán Việt. Âm chữ Hán ở Việt Nam được phân làm ba loại như sau:
- Âm Hán Việt: là âm đọc chữ Hán thời Đường (A)
- Âm cổ Hán Việt: là âm đọc chữ Hán thời trung Đường trở về trước (B)
- Âm Hán Việt Việt hóa là âm đọc chữ Hán thời trung Đường trở về sau (C)

<tbody>
Bảng 2:
Âm chữ Hán trong tiếng Việt
http://hannom.org.vn/web/tchn/data/icones/10x2.gif

</tbody>



<tbody>
Chữ Hán
A
B
C



trì
đìa
http://hannom.org.vn/web/tchn/data/icones/ecart_07.gif



trì
http://hannom.org.vn/web/tchn/data/icones/ecart_07.gif
chầy



phòng
buồng
http://hannom.org.vn/web/tchn/data/icones/ecart_07.gif



họa
http://hannom.org.vn/web/tchn/data/icones/ecart_07.gif
vạ



vụ
mùa
http://hannom.org.vn/web/tchn/data/icones/ecart_07.gif



chủng
http://hannom.org.vn/web/tchn/data/icones/ecart_07.gif
giống

</tbody>



(Theo sách Kanji minzoku no ketsudan, tác giả Hashimoto Mantaro, Nxb. Taishuukanshoten, 1987).
Hiện tượng Kanji Kanamajiribun trong tiếng Nhật như đã nói ở trên hoàn toàn không có trong tiếng Việt. Điều này có thể nghĩ là do tiếng Việt có cùng đặc trưng ngôn ngữ với tiếng Trung Quốc, cho nên khi tiếp thu các yếu tố có nguồn gốc từ chữ Hán, tiếng Việt không chỉ tiếp thu các đơn vị từ vựng mang nghĩa mà còn tiếp thu các đơn vị từ vựng với tư cách là phương tiện ngữ pháp. Các hư từ trong tiếng Việt hiện nay như nhân 因, tuy 雖, do 由 là những yếu tố Hán Việt Việt hóa. Trong sách Kanji minzoku no ketsudan, Giáo sư Nguyễn Tài Cẩn đã chỉ ra: “Một phần ba yếu tố ngữ pháp trong tiếng Việt có nguồn gốc từ tiếng Trung Quốc” (tr.458).
b) Sự ra đời của chữ Nôm.
Về nguồn gốc của chữ Nôm cũng đã gây nhiều tranh luận khá sôi nổi trong giới nghiên cứu. Để biểu thị những khái niệm, tên các loài cây cỏ không có trong văn hóa Trung Quốc, chữ Nôm đã dần dần được hình thành. Khoảng đầu đời Trần, một khối lượng lớn chữ Nôm đã được tạo ra. Từ thế kỷ XV đến thế kỷ XIX, đặc biệt là thế kỷ XIX là thời kỳ phát triển rực rỡ của chữ Nôm. Lúc này nhiều sáng tác viết bằng chữ Nôm đã xuất hiện và lưu truyền rộng rãi.
Thiên Nam ngữ lục - tác phẩm tiểu thuyết lịch sử của Việt Nam, Đoạn trường tân thanh - tác phẩm văn học tiêu biểu cũng đều được viết bằng chữ Nôm. Việc ra đời của hàng loạt các sáng tác như Đoạn trường tân thanh đã chứng tỏ thế kỷ XIX chữ Nôm phát triển rất mạnh. Cùng với sự xuất hiện của các sáng tác đó, rất nhiều khái niệm, tên đất tên người, các sản phẩm truyền thống đều được ghi bằng chữ Nôm. Theo sự thống kê của chúng tôi, chữ Nôm được sử dụng ngày nay là khoảng 12.000 chữ. Cách cấu tạo chữ Nôm có thể chia làm mấy loại như sau:
b.1. Loại chữ mượn nguyên
* Chỉ mượn âm
- Mượn âm Hán Việt
- Mượn âm cổ Hán Việt
- Mượn âm Hán Việt Việt hóa
* Mượn âm có biến đổi
- Mượn âm đúng âm chữ Hán
- Mượn âm đọc chệch
* Chỉ mượn ý (chữ đọc ý)
b.2. Loại chữ Nôm tự tạo
- Lược nét chữ Hán
- Chữ hội ý
- Chữ hình thanh
Kết luận.
Trở lên chúng tôi đã điểm qua vài nét về quá trình tiếp xúc với chữ Hán trong tiếng Nhật và trong tiếng Việt, qua đó chúng ta có thể hiểu rõ hơn những ảnh hưởng của chữ Hán trên phương diện ngôn ngữ và văn tự.
Cách phát âm vùng Trường An thời Đường đã đi vào trong tiếng Nhật và tiếng Việt và nảy sinh cách đọc Kanon và cách đọc Hán Việt. Mặt khác cả người Nhật và người Việt đều biết mượn các bộ thủ của chữ Hán và phương pháp cấu tạo chữ Hán để tạo ra loại chữ riêng cho mình. Đó là những điểm giống nhau khi tiếp thu chữ Hán của hai dân tộc.
Thế nhưng do đặc trưng loại hình ngôn ngữ khác biệt của tiếng Nhật, người Nhật đã áp dụng phép ghi âm bằng cách giản lược chữ Hán để tạo ra Hiragana, Katakana và đặc biệt là dạng Kanji Kanamajiribun. Những phép này tuyệt không có trong tiếng Việt.

L.M.H

CHÚ THÍCH
(1) Nohongo no rekishi 2 moji to no meguriai, Nxb. Heibonsha, 1966.
(2) Nihongo no shekai 4, Nxb. Chuuoukouronsha, 1982.
(3) Quy hóa nhân: là những người nước ngoài được đưa về Nhật sinh sống và trở thành người Nhật.
(4) Manyogana: một loại văn tự dùng để ghi lại các danh từ cố định (như địa danh, nhân danh). Loại văn tự này dùng theo tính chất Kana (với nghĩa là mượn danh từ, gồm có Kunkana và Onkana), mà không hề quan tâm đến ý nghĩa của từ. Vào thế kỷ VI, phép này dùng để ghi lại các danh từ. Thời kỳ Nara, chữ Gana được dùng để ghi âm tiếng Nhật và đặc biệt được dùng nhiều trong tập Manyoshu.
(5) Onnade: với nghĩa là được viết nhờ bàn tay của nữ giới. Theo từ điển Koji en thì onnade với nghĩa gốc là bút tích của nữ giới, sau đó có nghĩa thứ hai là Hi ragana. Như vậy cũng đủ để hiểu lịch sử của từ này.