PDA

View Full Version : Bánh không cẳng sao gọi bánh bò?



emcungyeukhoahoc
15-11-2013, 10:40 AM
Bánh không cẳng sao gọi bánh bò?

Trong tiếng Việt, có những từ ngữ hoặc địa danh sử dụng hằng ngày mà nếu có người hỏi tại sao nói thế và nguồn gốc của những từ ngữ ấy từ đâu thì chúng ta đành bó tay; chẳng hạn câu hỏi trên trong một bài ca dao (Nước không chưn sao kêu nước đứng? Cá không giò sao gọi cá leo? Ghe không tay sao kêu ghe vạch? Bánh không cẳng sao gọi bánh bò?...).

http://images.tuoitre.vn/tianyon/ImageView.aspx?ThumbnailID=665646

1 Chúng ta chỉ có thể giải đáp câu trên dựa vào cuốn Ðại Nam quốc âm tự vị của Huỳnh Tịnh Của, xuất bản cách đây trên 110 năm. Trong sách này, tác giả ghi bánh vú bò và giải thích vì bánh đổ vào chén, trông giống như cái vú con bò. Về sau rút gọn thành bánh bò. Ðây là hiện tượng tỉnh lược trong ngôn ngữ. Các từ sau đây cũng bị hiện tượng tỉnh lược chi phối: dầu con rái => dầu rái, nấm tai mèo => nấm mèo...
Ở miền Bắc có một loài cá giống và to bằng cá chép, nhưng có đặc điểm là tươi rất lâu tên là cá rói. Dù bị bắt ra khỏi nước từ sáng đến trưa cá vẫn còn tươi nên có thành ngữ tươi như cá rói, về sau tỉnh lược thành tươi rói. Một thành ngữ tương tự: ngay như cây chò (một loại cây rừng thân rất thẳng) => ngay chò (ở Nam bộ biến âm thành ngay chừ). Cầu Kiệu ở TP.HCM được Trương Vĩnh Ký ghi là cầu Xóm Kiệu (tức là xóm chuyên trồng kiệu), như vậy chữ Xóm ban đầu đã bị giản lược.

2 Một từ khá phổ biến ở Nam bộ dùng để chỉ người phụ giúp tài xế lái xe đò trong công việc bán vé, thu tiền, khiêng xách hành lý là lơ xe. Từ này bắt nguồn từ tiếng Pháp contrôleur, nghĩa là “người kiểm soát (vé)”. Như vậy, từ một âm tiết vô nghĩa - leur, người Việt biến thành một từ có nghĩa.
Ở miền Bắc, người ta thường dùng từ ngữ săm lốp để chỉ vỏ ruột xe đạp và xe gắn máy. Lốp thì người miền Nam cũng dùng và những người biết tiếng Pháp đều biết nó bắt nguồn từ enveloppe, nghĩa là “vỏ xe”. Còn săm ban đầu người miền Nam và nhất là những người không học tiếng Pháp không hiểu nghĩa. Từ săm bắt nguồn từ ngữ chambre à air “ruột xe”.

3 Tại sao có từ bồ bịch, nghĩa là nhân tình? Nguyên trước đây có một từ ghép bồ bịch, chỉ hai nông cụ. Bồ là dụng cụ đựng lúa, có đáy; còn bịch cũng là nông cụ đựng lúa nhưng là tấm ví khoanh tròn, không đáy vì lấy nền nhà làm đáy. Do đó, ca dao VN có câu:
Bởi anh chăm việc canh nông
Cho nên mới có bồ trong bịch ngoài.
Trong tiếng Việt trước đây có từ bầu (bạn), có biến âm là bồ tương tự như đậu xanh - đỗ xanh, thi đậu - thi đỗ... Vì từ bồ (bạn) đồng âm với từ bồ (cái bồ) nên từ bồ bịch thứ hai (người yêu) ra đời. Chúng tôi gọi đây là hiện tượng mượn âm.
Một số trường hợp tương tự. Trái sầu riêng có nguồn gốc từ Malaysia là đu-riêng. Ban đầu (giữa thế kỷ 19) người Việt dùng cả hai từ, sau loại hẳn từ đu-riêng.
Huyện Kế Sách ở tỉnh Sóc Trăng gốc Khmer là Ksach, nghĩa là “cát”. Vì gần âm với từ kế sách (phương kế, sách lược) nên Kế Sách đã thay thế Ksach.
Nhà thơ ngụ ngôn La Fontaine của Pháp đã được các trí thức VN khoác cho chiếc áo của Lữ Bố: Lã Phụng Tiên (họ Lữ cũng đọc Lã, Phụng Tiên là tự của Lữ Bố).
Ðèo ở phía bắc thành phố Nha Trang do kỹ sư người Pháp Rury điều khiển sửa sang nên Pháp dùng tên người này đặt cho đèo. Người Việt đã gọi là đèo Rù Rì.
4 Người Nam bộ thường bảo trẻ con đi chỗ khác chơi, không được láng cháng trước mặt. Nhưng trong từ điển của Huỳnh Tịnh Của đã nói ở trên ghi loán choán. Như vậy từ gốc là choán, yếu tố láy là loán và nghĩa gốc của láng cháng là “choán chỗ”. Ðây là hiện tượng biến âm.
Ở các đô thị Nam bộ có loại xe chuyên chở đồ đạc phục vụ xã hội mang tên ba gác. Nhiều người biết tiếng Pháp cũng ngỡ ngàng khi biết nguồn gốc Pháp của từ này là bagage, nghĩa là “hành lý”.

5 Bỏng trong từ bé bỏng có nghĩa là “nhỏ”. Trong tập thơ cổ Thiên Nam ngữ lục có câu thơ sử dụng từ bỏng với nghĩa này:
Trẻ thơ bỏng dại thiếu người lo toan

Hai từ bé và bỏng đồng nghĩa hay gần nghĩa kết hợp với nhau. Ðó là hiện tượng láy nghĩa.

Nhiều từ trong tiếng Việt bị chi phối bởi hiện tượng này: Việt + Việt: tìm kiếm, chờ đợi, yêu thương; Việt + Pháp: canh gác (gác xanh lơ (lơ
Biết được nguồn gốc và ý nghĩa của nhiều từ tiếng Việt, ngoài cảm giác thú vị, ta còn yêu thích tiếng mẹ đẻ hơn.

LÊ TRUNG HOA
tuoitre.vn

emcungyeukhoahoc
15-11-2013, 10:40 AM
Tiếng Việt nhiều khi có đối nghịch ngay trong một từ ghép. Buồn cười. Ðã buồn sao còn cười. Tức cười. Ðã tức sao còn cười. Ấy thế, mấy chữ ấy đều chỉ một tâm trạng là muốn cười trước một điều gì đó, trước một ai đó.
Ngã một cái, bẩn sạch cả rồi. Bẩn sạch. Ðã bẩn thì sao còn sạch được. Sạch ở đây chắc ai cũng hiểu không phải là sạch sẽ. Sạch nhẵn, không còn một chút gì sót lại. Sạch nhẵn như chùi. Ngôn ngữ phương Nam vẫn dùng là sạch bách.

Phương ngữ Bắc bộ có từ ráo, tức là khô ráo. Nhưng ráo cũng có nghĩa là toàn bộ, là hết lượt. Hình như chữ ráo trọi của phương Nam cũng là như vậy. Hổng biết chi ráo trọi. Chẳng biết cái gì hết. Ðưa đẩy một tí để dẫn đến câu này: gặp mưa giữa đường, ướt ráo cả rồi. Ướt ráo. Ðã ướt lại còn ráo.

Cũng như vậy là câu: đò chìm, may không ai chết, sống tiệt. Ðã sống lại còn tiệt. Nhưng mà đấy là một cách nói ở nông thôn Bắc bộ, có nghĩa là tất cả đều còn sống. Yên tâm.

Nói sang chuyện thực phẩm, chữ và nghĩa nhiều khi cũng không khớp với nhau: gọi là bánh giò nhưng trong ấy không có giò, chỉ là nhân thịt lợn, mộc nhĩ, nấm hương. Bún chả thì đâu có phải là miếng chả miếng giò mà là thịt lợn nướng. Món chả cá cũng vậy, đâu phải là cá xay nhuyễn làm thành miếng chả rán, đó chỉ là cá hấp đem rán sơ trên chảo mỡ sùng sục, ăn với mắm tôm.

Lại có những khái niệm dường như bị đảo ngược: người đồng bằng Bắc bộ gọi xôi lúa, thành phần chủ yếu là ngô (bắp), rất ít nếp ít lúa trong ấy. Cùng lúc, khi người ta gọi xôi ngô thì trong ấy nếp nhiều hơn là ngô. Cứ nhớ là hai chữ này đảo ngược cho nhau, không bao giờ bị lẫn. Yên tâm.

HỒ ANH THÁI
tuoitre.vn

emcungyeukhoahoc
15-11-2013, 11:03 AM
Nam bộ là vùng sông nước, nhiều kênh rạch, nhiều loài cá tôm, phương tiện giao thông quan trọng là ghe xuồng nên rất nhiều câu ca dao nói tới sông nước, ghe xuồng và những sản vật sông nước.

http://images.tuoitre.vn/tianyon/ImageView.aspx?ThumbnailID=671738

Với tư duy hồn nhiên và thích chơi chữ, người dân Nam bộ phát hiện những “mâu thuẫn” thú vị về tên gọi của nhiều đồ vật, sản vật, con vật và đặc biệt là loài cá:
Nước không chưn sao kêu nước đứng
Cá không giò sao gọi cá leo?
Ghe không tay sao kêu ghe vạch
Bánh không cẳng sao gọi bánh bò?
Trong câu ca dao trên, các từ cá leo, ghe vạch, bánh bò là tên gọi. Leo, vạch, bò không phải là động từ mà là danh từ nhằm gọi tên. Đứng đúng là động từ nhưng đã được dùng chuyển nghĩa tạo ra ẩn dụ.

Cách dùng ẩn dụ cho từ đứng

Con trâu đứng ở bờ tre. Trúc xinh trúc mọc bờ ao/Em xinh em đứng chỗ nào cũng xinh (ca dao). Ðó là những cách dùng thông thường. Nhưng “trời đứng gió”, “mặt trời đứng bóng”, “Nước không chưn cớ sao nước đứng?” là những cách dùng ẩn dụ của từ đứng.
Người Việt có kiểu dùng ẩn dụ “đứng” cho những trạng thái hoạt động nào giống tính chất mà con người hoặc động vật đứng. Ði là chuyển động còn đứng là ngừng lại, không chuyển động nữa. Khi đang đi mà đứng lại, ấy là chúng ta không chuyển động nữa, về cơ bản coi như bất động. Những hiện tượng nào đang thay đổi mà chuyển sang trạng thái trong nhận thức của người Việt coi là bất động hoặc gần như bất động sẽ được xem là đứng. Ðó là những trạng thái đứng. Ðây là cách dùng ẩn dụ của từ đứng.
Chiếc đồng hồ đang chạy, hết pin nên đồng hồ đứng lại. Trời không gió, là gió không thổi. Chúng ta gọi là trời đứng gió. Lúa đang phát triển chuyển sang giai đoạn ngừng đẻ nhánh, thân và lá đứng thẳng và đang chuẩn bị làm đòng, nhà nông gọi là lúa đứng cái. Mặt trời di chuyển, bóng các vật cũng chuyển động theo, tới lúc mặt trời ở ngay đỉnh đầu, bóng không di chuyển nữa. Lúc đó chúng ta nói mặt trời đã đứng bóng. Trong bài thơ Tiếng hát sông Hương, nhà thơ Tố Hữu đã dùng ẩn dụ “trăng đứng” theo cách này: “Trăng lên trăng đứng trăng tàn/Ðời em ôm chiếc thuyền nan xuôi dòng”.
Khi còn trẻ, bề ngoài con người thay đổi rất nhanh. Tới một tuổi nào đó, một người không còn trẻ nhưng cũng chưa già, hình thức giai đoạn này hầu như không thay đổi nên được gọi là “một người đã đứng tuổi”. Một người khi số phận đã ổn định, không còn thay đổi nữa thì người đó được gọi là đã đứng số.
Tới đây, chúng ta giải thích được vì sao nói nước đứng. Con nước đang lên, tới đỉnh điểm thì dừng lại hoặc đang xuống tới hết mức thì dừng lại. Ðó là lúc nước đứng..

Câu chuyện về sự “bất động”

Quy tắc khái quát: Con người, loài vật khi đứng, ngủ, nằm im, nằm bẹp hay chết đều bất động. Có thể dùng những động từ này theo cách ẩn dụ cho những người, những vật, những đối tượng đang hoạt động mà chuyển sang trạng thái “bất động”, trong đó đáng chú ý là cách mở rộng nghĩa từ bất động thể xác sang bất động trong đời sống, hoạt động tinh thần. Ví dụ:
Những con tàu của Vinashin thành những đống sắt vụn nằm bẹp ở cảng.
Thành phố cần lao này suốt đêm không ngủ. Trời mùa đông, thị trấn heo hút miền núi này đi ngủ sớm. Thời buổi nhiễu nhương này, có trùm chăn ngủ kỹ cũng không yên. Ðoàn thanh niên tổng công ty này ngủ cả năm nay. Con quay quay tít, em bé reo lên “Con quay của tao đang ngủ kìa!”
Ðồng hồ chết là đồng hồ không chạy được nữa mà đứng lại. Chiếc xe đang đi bị chết máy là máy không nổ nữa, xe không chạy được nữa. Nếu mực nước trong hồ thủy điện xuống tới mức thấp nhất khiến không quay được tuôcbin nữa. Nhà máy thủy điện ngừng hoạt động coi như bị chết. Ấy vậy là nước trong hồ thủy điện đã xuống tới mực nước chết. Ngồi chết một chỗ là ngồi một chỗ bất động rất lâu. “Ông ấy rầu lắm, ngồi đâu là ngồi chết một chỗ”.
Khi nền kinh tế ngừng trệ, nhiều doanh nghiệp khó bề hoạt động. Nhiều doanh nghiệp lách luật để tồn tại, nếu không sẽ phá sản tức là “chết”. Người ta nêu câu hỏi: “Lách” luật hay là “chết”?
Sống mà không hoạt động gì nữa coi như đã chết. Một nhà văn Pháp đã nói: “Trên bia mộ của nhiều người đáng lẽ phải chữa lại là chết lúc ba mươi tuổi, chôn lúc sáu mươi tuổi”.


NGUYỄN ĐỨC DÂN
tuoitre.vn