PDA

View Full Version : Tiếng Việt lý thú



star king
10-12-2013, 09:57 AM
Én và Yến

Đây là hai loại chim khác nhau. Chim yến , nhân dân ta gọi là yến biển , thường làm tổ trên các vách đá , vòm hang ở ngoài hải đảo .Chim én , còn gọi là én đất thường bay trên đất liền và làm tổ trên các ngọn cây cao , trên các mái nhà .
Hình dạng chim yến có đuôi bằng và lông màu xám tuyền. Chim én cũng có lông màu xám nhưng trước ngực có đốm trắng và đuôi xẻ thành hai nhánh như chữ V .

Trong Truyện Kiều , Nguyễn Du đã nhiều lần nhắc đến hai loại chim này :
- Ngày xuân con én đưa thoi ( câu 39 )
- Thiếp như con én lạc đàn ( câu 2117 )
- Điều đâu lấy yến là anh ( câu 955 )
- Đổi thay nhạn yến đã hòng đầy năm ( 1478 )

Chỉ có chim yến biển mới có giá trị kinh tế cao vì tổ yến – Dãi của chim yến ( yến sào ) là một món ăn ngon và bổ . Ở nước ta , có ba tỉnh có nhiều yến sào ( sào là tổ ) như Khánh Hòa , Bình Định , Quảng Nam .
Tổ yến ngâm vào nước khoảng một giờ , sau đó kéo thành từng sợi nhỏ như sợi miến . Sợi này nấu với gà hoặc bồ câu. Nếu nấu với đường sẽ thành món chè yến . Ngày trước, bữa tiệc sang đều có món yến, vì vậy mới có từ ghép yến tiệc .


( trích Tiếng Việt lí thú của Trịnh Mạnh )

star king
10-12-2013, 09:58 AM
Nhà

Trong tiếng Việt, nhà có rất nhiều nghĩa :

1. Chỉ chung nơi ở : nhà cửa.
2. Chỉ vật liệu xây dựng của nơi ở đó : nhà gỗ, nhà tre, nhà tranh , nhà ngói , nhà bạt …
3. Chỉ cách kiến trúc : nhà tầng, nhà lầu, nhà sàn …
4. Chỉ công việc của nơi đó : nhà bếp, nhà khách, nhà thờ, nhà hát, nhà trường, nhà tù, nhà thương, nhà ga …
5. Chỉ mức sống , của cải của chủ nhân : nhà nghèo, Nhà giàu …
6. Chỉ người làm một nghề nào đó : nhà văn, nhà thơ, Nhà giáo, nhà báo, nhà nông, nhà khoa học …
7. Chỉ người bạn đời : nhà tôi ( Nhà tôi đi vắng )
8. Chỉ một tập đoàn đông người : nhà xuất bản, nhà trai, nhà gái, nhà đám …
9. Chỉ một triều đại : nhà Nguyễn, nhà Tây Sơn …
10. Chỉ chính phủ : nhà nước .


( trích Tiếng Việt lí thú của Trịnh Mạnh )

star king
10-12-2013, 10:00 AM
Xá và sá

Hai từ xá, sá có nghĩa khác nhau, nếu không hiểu rõ sẽ dùng lầm.

* Xá: Từ gốc Hán có nghĩa là nhà ở. Trong các từ ghép : phố xá, trạm xá, kí túc xá.

* Sá: Từ thuần Việt, có nghĩa là con đường nhỏ, con đường mòn. Từ này chỉ còn dùng trong các từ : đường sá, ngoài đường ngoài sá, một sá cày ( một đường cày trên mảnh ruộng ) Trong tiếng Việt còn có từ sá trong “ sá chi ” ( không kể chi, không quản )


( trích Tiếng Việt lý thú của Trịnh Mạnh )

star king
11-12-2013, 11:55 AM
Mức độ tài năng

Ở nước ta, rất nhiều người lấy các từ Hào, Kiệt, Anh, Tuấn để đặt tên .
Đó là chỉ mức độ tài năng. Sách Vân đài loại ngữ của Lê Quý Đôn ( mục 90 ) có ghi :
- Hơn được năm người gọi là Mậu
- Hơn được mười người gọi là Tuyển
- Hơn được một trăm người gọi là Tuấn
- Hơn được một nghìn người gọi là Anh
- Gấp đôi Anh gọi là Hiền
- Hơn được một vạn người gọi là Kiệt
- Trên một vạn người gọi là Thánh
Sách trên không ghi chữ Hào. Trong Hán Việt từ điển của Đào Duy Anh có ghi Hào: tài trí hơn người.
Anh hào: anh hùng hào kiệt.


( trích Tiếng Việt lí thú của Trịnh Mạnh )

star king
12-12-2013, 12:38 PM
Những từ chỉ không gian và thời gian trong tiếng Việt

* Để chỉ không gian, tiếng Việt có các từ : phía Đông, phía Tây, phía Nam, phía Bắc, bên trên, bên dưới, bên trong, bên ngoài, bên trái, bên phải, chỗ này, chỗ kia, đây, đó, trên, dưới, trong, ngoài …
* Để chỉ thời gian, tiếng Việt có các từ : đời xưa, đời nay, năm xưa, năm ngoái, năm nay, hôm qua, hôm nay, ngày mai, sáng, chiều, tối, khi, hồi, lúc, thưở, bây giờ, bấy giờ, ban nãy, vừa rồi, chốc nữa, chóng, chầy, nhanh, chậm, thỉnh thoảng, thường thường, luôn luôn, mãi mãi, sắp, chưa, rồi, sẽ, đang …
Thống kê các từ chỉ thời gian và không gian, người ta thấy các từ chỉ thời gian nhiều hơn từ chỉ không gian. Vì vậy, ông Phan Khôi đã nhận xét người Việt coi trọng thời gian hơn không gian. Không hiểu nhận xét trên có đúng không, xin ghi vào đây để bạn đọc tìm hiểu thêm.


( trích Tiếng Việt lí thú của Trịnh Mạnh )

star king
18-12-2013, 04:30 PM
Chạy

Từ chạy có rất nhiều nghĩa . Dưới đây là các nghĩa thông dụng:

-Tiến nhanh đến đối tượng cần tìm kiếm: chạy tiền, chạy gạo, chạy thầy, chạy thuốc …

-Lánh xa nơi nguy hiểm: chạy loạn, chạy nạn, chạy lụt …

-Bị thua: chạy làng
"Bạc chửa canh thâu đã chạy làng" ( Nguyễn Khuyến )

-Đi và về giữa hai nơi: chạy chợ

-Đi lượn quanh một địa điểm: chạy đàn ( trong lễ chay ), chạy kiệu ( cầm cờ, cầm giáo đóng vai lính trên sân khấu )

-Tiêu thụ nhanh: hàng bán rất chạy

-Tranh thủ thời gian: cưới chạy tang

-Đưa công văn: chạy giấy

Để diễn tả các kiểu chạy, tiếng Việt có: chạy thoăn thoắt, chạy vùn vụt, chạy thình thịch, chạy lạch bạch, chạy ba chân bốn cẳng, chạy bán sống bán chết …

Để diễn tả sự khó nhọc có thành ngữ: chạy ngược chạy xuôi, chạy sấp chạy ngửa …


( theo Tiếng Việt lí thú của Trịnh Mạnh )

star king
19-12-2013, 03:30 PM
Đợi và chờ

Đây là hai từ đồng nghĩa, chỉ một trạng thái mong ngóng một điều gì đó sẽ tới, sẽ xảy ra.

Trong ca dao, hai từ này được dùng với sắc thái đồng nghĩa hoàn toàn.

- Duyên kia ai đợi mà chờ
Tình ai tơ tưởng mà tơ tưởng tình
- Chờ em anh hết sức chờ
Chờ cho rau muống lên bờ trổ bông.

Tuy vậy, nếu xét ‎ ‎ý nghĩa, hai từ này cũng có sự phân biệt rất tinh tế:

Chờ hàm ý điều mong ngóng có thể xảy ra hoặc chưa chắc đã xảy ra (chờ cơ hội tốt, ăn chực nằm chờ).

Đợi hàm ý điều trông mong chắc chắn sẽ xảy ra.

- Ngọc lành còn đợi giá cao (Nữ Tú tài)
- Bớ chiếc ghe sau, chèo mau anh đợi (Ca dao)

(trích của Trần Hiền - Tạp chí Ngôn ngữ và đời sống)

star king
20-12-2013, 03:19 PM
Tết nguyên đán

Theo các nhà ngôn ngữ học, từ tết trong tiếng Việt do từ gốc Hán “tiết” tạo thành. Phần lớn từ gốc Hán có nguyên âm đôi iê khi sang tiếng Việt biến thành ê như thiêm thành thêm, thiết thành thết...

Tiết có nhiều nghĩa: đốt tre, mắt cây, khớp xương (Hán Việt từ điển của Đào Duy Anh). Từ nghĩa này, từ tiết mở rộng nghĩa để chỉ thời điểm tiếp xúc giữa hai khoảng thời gian. Vì vậy, một năm chia làm 24 tiết (lập xuân, vũ thủy...). Sau đó, tiết chuyển thêm nghĩa: ngày lễ, vui mừng. Đây chính là nghĩa trực tiếp của từ tết. Từ tết trong tiếng Việt có lúc là danh từ (ngày tết, tết Nguyên đán), có lúc là động từ (học trò đi tết thầy).

Nguyên đán: ngày đầu năm (Đào Duy Anh) Nguyên là khởi đầu (như trong từ phát nguyên), đán là buổi sáng.

Tết Nguyên đán là tết đầu năm.

Liên quan với tết Nguyên đán còn có đêm trừ tịch (đêm ba mươi tết)
Theo cách giải thích của Phan Kế Bính trong cuốn Việt Nam phong tục thì trừ tịch là xua đuổi, trừ khử ma quỷ để năm mới được yên lành.

Đêm giao thừa (giao là xen kẽ nhau, thay nhau, thừa là kế tiếp). Giữa đêm 30 tháng chạp là thời điểm nối tiếp giữa năm cũ và năm mới. Theo tín ngưỡng xưa, hai vị thần cai quản trần gian (thần Hành Khiển) sẽ bàn giao và tiếp nhận công việc của nhau. Vì vậy, nhân dân thường bày cỗ ngoài trời để cúng giao thừa vì lúc bàn giao rất bận, thần không thể vào từng nhà để hưởng lễ.



(trích Tiếng Việt lí thú của Trịnh Mạnh)

star king
23-12-2013, 09:59 AM
Những điều tiềm ẩn trong một câu ca dao


“Núi cao chi lắm núi ơi
Núi che mặt trời không thấy người thương”
Câu ca dao trên vẫn được nhiều người khen hay. Vậy hay ở chỗ nào? Người xưa phân tích thơ thường xét bốn yếu tố: ý, tình, hình, nhạc. Ngày nay ta cũng không thể bỏ qua bốn yếu tố đó.
Mới đọc qua, câu thơ này diễn tả nỗi nhớ nhung của người nói (có thể là người con trai hoặc người con gái) với người thương ở phương xa. Nhưng đi sâu tìm hiểu ta càng thêm nhiều điều mới mẻ. Thử lấy lời một cô gái mà phân tích. Cô gái ở đây trách ngọn núi quá cao, che cả mặt trời, làm cho ta tưởng chừng người thương của cô cũng rộng lớn, rực rỡ như mặt trời và cô gái vắng xa người thương cũng dường như bị khuất bóng mặt trời vậy. Trong câu thứ nhất có bóng dáng chót vót của ngọn núi. Trong câu thứ hai, đằng sau bóng dáng của ngọn núi có thêm bóng dáng của mặt trời. Mặt trời tuy rực rỡ chói chang vậy mà bị ngọn núi che khuất nên ta thấy ở đây có một bóng chiều tà mênh mông trong không gian. Từ chuyện núi che mặt trời ta nghĩ đến cái sâu xa rộng lớn của tình người.

Tuy vậy, ý hay chưa đủ làm thơ hay. Phải có lời hay tức là phải có âm thanh, giai điệu. Câu đầu vút lên như một lờn oán trách được thốt ra thành tiếng kêu: “Núi cao chi lắm núi ơi!”. Sáu tiếng đều là thanh cao (ba thanh sắc và ba thanh ngang) đã góp phần tả chiều cao của núi và độ cao của tình cảm. Sang câu thứ hai, giọng thơ bỗng hạ thấp xuống: “Núi che mặt trời…” (“mặt” là thanh trắc thấp, “trời” là thanh bằng thấp). Tiếng “trời” lại chính giữa câu hát (vần lưng) làm cho giọng nói bị ngắt quãng, nghẹn ngào. Bốn tiếng nối tiếp “không thấy người thương” gồm nhiều âm tố nên khi đọc hoặc ngâm phải kéo dài, làm cho câu thơ không vút cao mà lan toả mãi như không dứt.

Cô gái ở đây không phải đứng yên để tả núi. Cô hướng về ngọn núi mà oán trách. Giọng cô không được bình tĩnh vì lòng cô có bình tĩnh đâu. Nhưng cơn cớ chi lại gọi, lại trách núi? Núi kia, dù có cao thì cũng chỉ là vật vô tri. Cái tội của núi là thế. Ngọn núi bị trách oan và ta thấy cô này vô lí. Nhưng ta lại thông cảm, cô trách là tại lòng cô thương nhớ quá. Tiếng gọi, tiếng trách kia thật ra là lời của nỗi lòng thương nhớ sâu nặng, mênh mang…



(Theo Trịnh Mạnh trong “Tiếng Việt lí thú” )

star king
26-12-2013, 09:40 AM
Con, cái đặt trước danh từ

Từ con:
- Thường đặt trước danh từ chỉ động vật: con chim, con rùa, con rắn, con sâu, con gà …
- Động vật là những vật hoạt động, di chuyển được, do đó từ con được mở rộng thường dùng để chỉ những vật hoạt động hoặc di chuyển: con mắt, con mgươi, con sông, con thuyền …

Từ cái :
- Thường đặt trước danh từ không di chuyển, không hoạt động: cái nhà, cái bàn, cái ghế …
Điều lý thú là có một số động từ chỉ hoạt động như: cày, bừa, cào, cuốc, cưa, đục, bào, quạt, bơm … ta chỉ cần đặt từ cái ở trước là trở thành danh từ chỉ công cụ thực hiện hoạt động đó: cái cày, cái bừa, cái cào, cái cuốc, cái quạt, cái bơm …
- Từ cái đặt trước danh từ trừu tượng còn mang sắc thái đay nghiến, bất bình:
* Chém cha cái số đào hoa
* Cái điều bạc mệnh có chừa ai đâu

- Từ cái (danh từ) có nghĩa là Mẹ
- Từ cái (tính từ) có nghĩa là to lớn hoặc chỉ giống cái
(Để chỉ giống cái, trong tiếng Việt còn dùng từ nái)

(trích Tiếng Việt lí thú của Trịnh Mạnh)

loidv84
06-01-2014, 01:16 PM
Dear star king,

Mình có đọc một số trích dẫn trong cuốn "Tiếng Việt lí thú" và mình thấy nó rất hay và bổ ích, nhưng khổ nổi đi ra nhà sách, cũng như seach trên mạng vẫn ko tìm được thông tin đầy đủ về nó. Bạn có nhiều trích dẫn về nó nên hy vọng bạn có file mềm quyển sách này. Nếu được bạn send mail giúp mình mình rất biết ơn. (mail: dvloi6787@gmail.com)

Thanks and regard!

star king
07-01-2014, 02:15 PM
Dear loidv84,

Đa số những bài post trong mục này mình đều trích từ cuốn "Tiếng Việt lý thú" (tập 1) mà mình sưu tầm trên mạng.
Hiện giờ mình chỉ có bản sách giấy cuốn tập 2, mình mua ở nhà sách Nguyễn Thị Minh Khai cũng khá lâu rồi, bạn đến tìm mua thử xem nha.
Nếu có thời gian mình sẽ trích một số bài hay và post lên mục này tiếp.

Thân,