PDA

View Full Version : Tiếng lóng cho đời thêm vui



obaasan
29-01-2015, 02:49 PM
Tiếng lóng cho đời thêm vui
1.Người ta không biết đích xác từ slang (tiếng lóng) có từ bao giờ, nhưng năm 1736 ở Anh đã xuất hiện Từ điển tiếng lóng của bọn trộm cắp – Canting Dictionary (thieving slang) của Nathan Bailey. Trong từ điển này, tác giả sưu tầm từ ngữ của bọn trộm cắp, bọn lường gạt, bọn đào ngạch, khoét vách, bẻ khóa, cướp đường…



http://www.congan.com.vn/images1/Xuan2014/02-14/tienglong-w.jpg
Ở Việt Nam, không rõ “tiếng lóng”, “nói lóng” xuất hiện từ bao giờ, nhưng trong Đại Nam quốc âm tự vị của Huỳnh Tịnh Của in năm 1895, đã có từ “nghe lóng” (nghe qua vậy, nghe lóm, nghe không chắc), “lóng tai” (lắng tai, nghe cho tỏ rõ) và “hỏi lóng” (hỏi lén). Âm của hai từ lóng và slang rất giống nhau nên có người cho rằng từ lóng là mượn từ slang của tiếng Anh. Nhưng chưa có chứng cứ nào chỉ rõ điều này. Từ thời xa xưa đã có ngôn ngữ của dân lái trâu, còn Trạng Lợn lại biết tiếng của cánh lái lợn.


Một thực tế, những tầng lớp xã hội hạ lưu dùng nhiều tiếng lóng. Trong các tác phẩm văn học, tiếng lóng được dùng làm một phương tiện tu từ khắc họa tính cách và miêu tả hoàn cảnh sống của nhân vật ở tầng lớp xã hội thấp. Đại văn hào Pháp Victor Hugo (1802 -1885), trong tác phẩm Ngày cuối cùng của một tử tù (1828) đã từng chú ý sử dụng tiếng lóng. Thậm chí trong bộ tiểu thuyết đồ sộ Những người khốn khổ (1861), ông để cả chương VII phần thứ tư bàn về tiếng lóng.


Trong Bỉ vỏ của Nguyên Hồng, ở Tôi kéo xe của Tam Lang, nhiều tiếng lóng đã được sử dụng. Những thiên phóng sự đặc sắc Cạm bẫy người (1933), Kỹ nghệ lấy Tây (1934), Số đỏ (1936), Làm đĩ (1936), Lục xì (1937)… của Vũ Trọng Phụng cũng chứa biết bao nhiêu tiếng lóng thời ấy.
Ở Sài Gòn, một số tiểu thuyết hình sự, truyện, kí báo chí, nhất là những phóng sự trên các Báo Công an TPHCM, Tuổi Trẻ, Tuổi Trẻ cười, Pháp Luật… cũng dùng không ít tiếng lóng.


2.Thế nên, đầu tiên người châu Âu cho rằng tiếng lóng là tiếng của những phần tử hạ lưu làm vẩn đục ngôn ngữ. Họ đã viết điều này trong nhiều từ điển của Anh và Pháp. Quan điểm này cũng ảnh hưởng tới giới nghiên cứu ở nước ta. Quyển Việt Nam Tự điển (1931) của Hội Khai trí Tiến Đức đã cắt nghĩa lóng là “thứ tiếng của một bọn dùng riêng với nhau để cho người ngoài không hiểu: tiếng lóng của cô đào, tiếng lóng của lái lợn”. Một cuốn sách giáo khoa đại học xuất bản năm 1978 cũng định nghĩa tiếng lóng đại để như vậy. Thậm chí hiểu theo nghĩa tiêu cực như vậy nên nhà nghiên cứu Da Zhaomin của Trung Quốc (1996) đề xuất cách gọi khác của tiếng lóng là hắc thoại.

Quan niệm đó nay đã thay đổi. Rất nhiều thành phần xã hội có nhu cầu dùng tiếng lóng. Bất kỳ ai, từ học sinh, thương gia, bọn lưu manh tới chính khách… khi cần giữ bí mật đặc biệt trước người khác là người ta dùng tiếng lóng.


Hội nghị Yalta (4-2-1945 – 11-2-1945) của 3 đại cường quốc có Thủ tướng Anh Churchill, Tổng thống Mỹ Roosevelt, Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng Liên Xô Stalin bàn về vấn đề liên quan khi cuộc đại chiến thế giới lần thứ hai kết thúc. Khi ấy, Đô đốc hải quân Mỹ W.D.Leahy báo cáo với Roosevelt rằng: “Ở nhà cho biết em bé đã ra đời khỏe mạnh”. Trong cuộc họp quan trọng của “ba ông lớn” (Big Three), dù là lúc rảnh rỗi ngoài lề, mà lại nói tới “em bé” là sao? Rõ ràng “em bé” là một tiếng lóng. Chủ tịch Stalin liền bắt tay Roosevelt: “Chúc nước Mỹ đã thử thành công bom nguyên tử”.


Tiếng lóng còn được gọi là ngôn ngữ đường phố (street languages) dùng trong khẩu ngữ của giới trẻ. Nhưng nay nhiều người chat với nhau qua internet. Ngôn ngữ chat là nguồn vô tận sản sinh rất nhanh ra tiếng lóng. Giới trẻ thực sự là “một công xưởng” và là “nhà phân phối” tiếng lóng.


Nhà nghiên cứu tiếng lóng J.Green viết: “Trước, phải mất 20-30 năm, một từ lóng Anh - Mỹ mới có thể vượt Đại Tây Dương để ảnh hưởng đến tiếng Anh của người Anh. Bây giờ, qua internet có khi chỉ chưa đầy 20 phút sau, nó đã lan tỏa khắp thế giới!”. Ước tính, mỗi ngày có thêm năm từ hoặc cụm từ lóng được tạo ra trong tiếng Anh. Bạn cũng có thể gặp trên mạng hàng loạt trang web kiểu CyberSlang, chuyên mách tiếng lóng ở nhiều ngôn ngữ.


3.Lại có những lý do khác cho việc dùng tiếng lóng. Có những điều nói ra thì chẳng “vẻ vang” gì. Ấy thế là cũng phải nói trại đi. Có ông chồng, vợ chỉ sinh con một bề, khi nghe hỏi “Lần này bà xã sinh trai hay gái?”, ông bố luôn mong có con trai để “nối dõi tông đường” thất vọng đáp: “Lại một thị mẹt”… Có những điều cấm kỵ (taboo) phải nói trại đi cho từ ngữ đẹp lên, được gọi là uyển ngữ hay nhã ngữ (euphemism) thế là cũng thành tiếng lóng.


Người Việt có “cò mồi” thì người Anh có “chim mồi” (decoy bird), thứ cò chim dùng dụ bẫy những chim khác. Trước đây “thầy cò” trỏ những người chuyên viết thuê đơn từ, lo cho người khác trong những vụ kiện tụng. Cũng như chim, người cũng có hạng được dùng làm bẫy những người khác. “Thầy cò” được rút gọn đi, từ cò thành tiếng lóng chỉ người trung gian, môi giới kiện tụng. Xã hội thoái hóa, cán bộ biến chất, lương dân không biết đâu mà lần, việc gì cũng cần người môi giới với những “thủ tục đầu tiên”. Thế là thành những cò khiếu kiện, cò hộ khẩu, cò chạy án, cò nhà đất, cò hộ chiếu, cò chạy tuổi, cò chạy huân chương, cò luyện thi, cò chạy bằng cấp, cò chạy trường, cò việc làm…


4.Tiếng lóng phản ánh hiện thực xã hội, khi hiện thực xã hội qua đi thì tiếng lóng cũng tự động biến mất. Một số lớn tiếng lóng chỉ xuất hiện trong một thời gian ngắn và rồi không được ưa thích nữa. Không thích, không lạ thì không dùng. Tuổi trẻ năng động là vậy. Khi dân ta còn ngại với nón bảo hiểm, lúc đó còn là loại hàng nghiêm chỉnh có cả vành bảo vệ hàm, đội trên đầu trông sùm sụp, người ta gọi đó là “nồi cơm điện”. Nay khi luật pháp đã vào trong dân, ai ai cũng thấy đội nón bảo hiểm là trách nhiệm khi ra đường, chỉ có những tay “yêng hùng xa lộ” là vô tư, “nồi cơm điện” vì thế cũng không còn xuất hiện. Chiến tranh qua đi, nay cũng không còn nghe “gà cồ gáy” (đại bác bắn) nữa.


Từ thời cụ Nguyễn Du, mụ Tú Bà đã dùng rất nhiều tiếng lóng. Học giả Nguyễn Hiến Lê rất có lý khi cho rằng một trong những đoạn hay nhất trong Truyện Kiều chính là lời thoại độc địa phát ra từ miệng Tú Bà lúc mụ “nổi tam bành” với Thúy Kiều: Này này sự đã quả nhiên/ Thôi đà cướp sống chồng min đi rồi!/ Bảo rằng đi dạo lấy người/ Đem về rước khách kiếm lời mà ăn/ Tuồng vô nghĩa ở bất nhân/ Buồn mình trước đã tần mần thử chơi/ Màu hồ đã mất đi rồi/ Thôi thôi vốn liếng đi đời nhà ma!/ Con kia đã bán cho ta/Nhập gia phải cứ phép nhà tao đây/ Lão kia có giở bài bây/ Chẳng văng vào mặt mà mày lại nghe/ Cớ sao chịu tốt một bề/ Gái tơ mà đã ngứa nghề sớm sao!

5.Ai dùng nhiều tiếng lóng? Nói năng chuẩn mực, dịu dàng, dễ nghe là đức thứ ba trong tứ đức công, dung, ngôn, hạnh của người con gái. Trước đây, nam dùng tiếng lóng nhiều hơn nữ. Nay điều này cần được xem xét lại. Có những nghiên cứu gần đây cho biết nữ tạo ra tiếng lóng nhiều hơn nam. Theo kết quả điều tra của Mimi Ito, một nhà khoa học chuyên nghiên cứu về đời sống giới trẻ và công nghệ, nữ sinh xứ Mặt trời mọc chính là người ứng dụng tiên phong kiểu sử dụng tiếng lóng qua tin nhắn điện thoại. Họ đã sáng tạo ra “Gal Go” - hệ thống ngôn ngữ đặc biệt gồm những liên kết độc đáo giữa các ký tự Nhật để tạo thành từ mới dùng cho việc chat trên mạng và nhắn tin di động.


Tiếng lóng là một trào lưu không ổn định. Khi bước vào đại học, loại tiếng lóng này sẽ suy giảm. Sinh viên không thể dùng tiếng lóng để soạn thảo bài, viết tiểu luận hay gửi bài qua e-mail cho giáo viên… Vào đời, ngồi quán nhậu nói tiếng lóng không sao, nhưng nếu thành thói quen viết tiếng lóng thì nguy hiểm vô cùng. Trong đơn xin việc mà dùng tiếng lóng chắc chắn sẽ bị loại. Được làm ở công ty rồi, trong báo cáo cho sếp mà dùng tiếng lóng hẳn sếp sẽ cho nghỉ khỏe.


Bởi vậy, chỉ cần khuyên các bạn trẻ đừng dùng tiếng lóng quá đà. Trong những môi trường tử tế, tiếng lóng sẽ tự tiêu đi.

http://www.baomoi.com/Tieng-long-cho-doi-them-vui/76/13025108.epi

emcungyeukhoahoc
29-01-2015, 04:01 PM
'Tiếng lóng cho đời vui'

Tiếng lóng có vẻ vẫn tiếp tục nở rộ trong giới trẻ, gần đây nhất có sách điện tử thành ngữ bằng tranh mang tên “Không còi”. Nhân vật của chuyên mục Mắt nhắm Mắt mở kỳ này là họa sĩ Hoàng Phượng Vỹ, nổi tiếng “nghiện tiếng lóng” trong giới nghệ sĩ.

Hoàng Phượng Vỹ không chơi thành ngữ tiếng lóng kiểu Ế trong tư thế ngẩng cao đầu. Kiểu của anh là kiểu thịnh hành một thời, ví dụ muốn nói về sự tốn kém, người ta nói “Lục Tốn”, “Đa Tốn”, khen cô gái “trẻ măng-tô-san”, “trẻ măng-đô-lin”.

Gọi chàng nọ là “huyền thoại hồ núi Cốc”- ám chỉ chuyện đào mỏ, chuyên cốc tiền phụ nữ. Vân vân. Hoàng Phượng Vỹ đặc biệt thích đính kèm danh nhân, danh tác, danh thắng…, với kho từ vựng cực phong phú. Trong câu chuyện anh gọi kiểu nói của mình là “lóng này”.

Giới trẻ bây giờ không lóng như anh đâu. Họ nói kiểu hiệp vần- Nhục như con trùng trục; hoặc cải biên tục ngữ thành ngữ, câu văn thơ quen thuộc: “Chữ xăng liền với chữ tăng một vần”. Anh thấy kiểu này thế nào?

A, xăng và tăng. Giooc-giơ-xăng và Sa-tăng (George Sand, Satan).
Cũng vui.Tôi ít tiếp xúc giới trẻ nhưng biết kiểu nói này đang thịnh, in sách hẳn hoi. Xã hội dân chủ thì cứ để thoải mái, hại gì đâu.

Bệnh nghiện lóng của anh khởi phát bao giờ?
Từ hồi học Kiến trúc, 30 năm rồi. Tôi chỉ kế thừa nhưng khi trào lưu đấy ngoẻo thì tôi vẫn tiếp tục, rất chi Kép Tư Bền.
Mỗi lần gặp có cảm giác trí lự của anh đổ hết vào chế tác, biểu diễn tiếng lóng. Như thế có phải phí lắm không?



Theo tôi người ta thích nói lóng vì ngoài chuyện nó vui, còn có bóng dáng của phản kháng. Phản kháng lại sự giáo điều, cứng nhắc

Họa sĩ Hoàng Phượng Vỹ




Hầu hạ cho bạn bè vui cũng là một sự nghiệp! Phải rất thú chính mình thì mới truyền được thú vị cho người khác. Bao người thú vị bản thân mà chả lây nổi sang người khác. Vì nói lóng, nó phải duyên. Kiến thức phải rộng, trí nhớ tốt. Vùng sử học vùng địa lý cứ là phải mênh mông. Phải khổ luyện chứ chả có gì bỗng dưng. Mình cũng thích Gala cười, dâng hiến cho bạn bè, biến mình thành spa di động để mọi người chè tươi.

Anh thấy nơi khác có hay nói lóng hay đây là đặc sản Hà Nội? Và anh thử hệ thống hóa cách mình nói?
Chắc vùng nào cũng có nhưng Hà Nội tập trung dân tứ xứ thành ra rộ nhất. “Hết sẩy, hết ý” tràn từ miền Nam ra hồi đầu giải phóng nhưng đề- mốt-đê nhanh lắm.
Về “phương pháp luận”, chỉ đơn giản là nghĩ nhanh rồi bật ra. Có khi chỉ một chữ nhưng tôi đi rất xa, rồi lại kéo nó về. Ví dụ tôi muốn chị cầm ly nước, thì tôi bảo Hoàng Cầm đi, hoặc tác giả Bên kia sông Đuống đi! Phải bật rất nhanh, đánh rất trúng, có tiết tấu, bổng trầm nặng nhẹ. Và phải sầu riêng, có nét riêng. Vừa là sự nghiệp vừa là chân dung, đâu chỉ mắt mũi mồm mới là chân dung!

Giới của anh hoặc bạn bè nhiều người sái nghiện như anh không?
Ngày xưa có thấp thoáng. Nhưng mỗi tôi chung thủy nên mọi người tưởng tôi tiên phong và sau cùng.
Nhiều người nói nhưng mỗi người một kiểu, cũng như phong cách trong nghệ thuật. Phải sắc, nét, sâu. Như mũi khoan, đi mãi đi mãi.
Để nói lóng anh còn phải tinh tế, tâm lý. Đối diện ai thì nói cái gì. Vẫn là mình nhưng nhánh rẽ khác nhau, với già trẻ lớn bé, nam nữ- khác nhau. Cùng thế hệ nhưng cá tính mỗi người mỗi khác nên mình nói phải rất khác.
Bây giờ nhiều kiểu lóng nhưng tôi có mỗi kiểu của tôi. Coi như chơi đồ cổ. Chả thấy ai chơi kiểu tôi nữa. Mỗi lần tôi nói thì mọi người cũng cuốn theo 1-2 câu, để bộc lộ tình cảm với mình là chính.

Thấy vẫn đầy người theo trường phái này đấy chứ. Bàn (bạc) thì bảo là bóng bàn; chê ai dát: Tếch Dát (Texas); đau Giăng-van- Giăng (Jean Valjean)…
Có câu nào rất buồn cười của anh nhưng bị lầm là “dân gian” hoặc ngược lại? Như Bút Tre cũng lẫn lộn giữa “huyền thoại và sự thật”. Hay Xuân Sách được gán thơ chân dung không phải của ông, chẳng hạn thơ trêu Nguyễn Tuân: “Một mắt lư đồng một mắt cua/Chém treo ngành toàn chém a dua/Hà Nội đánh Mỹ giỏi, thua bác/Cả đời ăn phở chẳng cần mua”.Trêu Phạm Tiến Duật: “Cái vết thương xoàng mà dám bảo là vầng trăng quầng lửa”... Thực chất nó là của Trần Mạnh Hảo, học thơ chân dung Xuân Sách.

Lóng của tôi cũng có bị lẫn giữa huyền thoại và sự thật nhưng thôi, cuộc đời cống hiến rồi đi vào vô tăm tích. Cũng như vẽ, cho mình thú, khoái, không phải vẽ để bất tử.

Mọi người nghe anh có thích thú cả không, hay…
Lóng này chỉ vui, không làm tổn thương ai. Nếu có, chỉ thon thót một chút, không gây đau đớn. Con người ta sinh ra đã đau đớn rồi, mỗi người đau đớn một vùng khác nhau còn đậu tương thêm làm gì.

Thế có ai kêu anh nhảm, tỏ thái độ không thích?
Kêu rồi, kêu nhiều rồi. Bảo như nói tiếng địch, cứ phải phiên dịch! Bảo ông hài hước là với người bắt được tần số thôi còn tôi nghe mệt cả đầu!

Thời trẻ anh tự hào “Khen Vỹ đẹp giai bằng khen nước biển mặn, khen Trung Quốc đông dân”. Giờ thấy anh “mười phần xuân đã gầy bảy tám phần”, không chỉ ba bốn. Nét hơi Tây của anh là lai bố hay mẹ?

Tô Đông Pha (!) Giới họa sĩ thường vợ đẹp, khác hẳn nhà văn. Trong số vợ nhà văn thì mẹ tôi còn thuộc loại tươm. Nhưng cũng kiểu đồng quê thôi.

Giới họa ngoài vợ đẹp- càng tập sau càng đẹp, còn tỏ ra lợi khẩu, hiểu biết khá toàn diện?
Tôi cho rằng đó là bởi họ ra đời sớm, hành nghề tự do nên cá tính đẩy lên, rõ trong sáng tạo và ngoài đời. Nhiều người thích trò chuyện với họa sĩ bởi họ không rào đón. Không nói tài hơn nhưng cá tính Phạm Sư Mạnh hơn giới khác. Cái cá nhân, cá tính mà tôi nói nó gồm cả hay lẫn dở.

Trí nhớ của anh “bệnh hoạn” đến đâu?
Di căn rồi. Mà phải nhớ, chứ nói đi nói lại chán lắm. Nói tiếng lóng cũng như sự trau dồi cho mình. Quanh đi quẩn lại có chục câu trăm câu thì ai người ta thích. Người ta sốt ruột chứ. Trên đời này có mỗi câu anh yêu em em yêu anh là người ta thích mãi thôi.

Anh thích lóng nhưng với người không hiểu, thì sao đây? Chẳng hạn anh nói Đa-xa-ép (chỉ sự ép uổng) với người chẳng xem bóng đá thập kỷ 80 thì bó tay.
Tôi phải tùy đối tượng mà nói chứ! Ví dụ với người am hiểu văn học thì tôi dùng danh tác, danh gia và điển cố văn học, các danh họa tôi phải bỏ đi chứ. Với họa sĩ tôi bớt văn học đi mà phải lôi trục dọc hội họa- chuyên môn hẹp ra thì họ mới ngạc nhiên, òa vỡ!
Ở đám đông nhiều ngành nghề, được người này hỏng người kia thành ra muốn chạm tới mẫu số chung thì phải là danh nhân ai cũng biết.
Có người thích kiểu nhè nhẹ nhặt khoan. Có người lại phải phũ, phê. Có người ưa ngắn, kiệm, nốc-ao. Ôi Đặng Tất!

Nhà văn Việt Nam nhiều người trà dư tửu hậu cũng hóm hỉnh duyên dáng lắm nhưng sao viết lách khó đăm đăm và văn học Việt Nam nói chung ít cười?
Đúng, toàn anh hùng cửa khẩu. Chỉ được cái mặt miệng còn viết, cứ gọi là Nguyễn Tư Nghiêm.
Ở đời này người ta sợ nhất tiếng cười. Nếu anh phê phán thì anh bị lộ đề, ăn đòn. Còn khi anh hài hước thì nó sâu cay, không ai làm gì được. Biến cái quan trọng thành hài hước thì kinh nhất! Nếu phê phán tức là biến cái quan trọng thành cái quan trọng khác. Đằng này biến cái phi thường, tưởng như phi thường thành bình thường.

Gặp, nghe đến câu thứ hai mà chưa thấy “lóng”, ngỡ như không phải Hoàng Phượng Vỹ. Anh tỉnh queo chèn, đệm, phác họa chân dung- như tả Hồng Nhung (ca sĩ): “2 tuổi mẹ bỏ đi, bố để vạ vật, gì mà hát ‘Papa’ chả hay”. Vào quán gọi “bia hơi Nguyễn Việt Hà” (trêu nhà văn cùng tuổi Nhâm Dần). Khen Việt Hà sống với bạn “nồng nàn nên mới hay cướp diễn đàn”...
Có nhà phê bình mỹ thuật viết: “Hoàng Phượng Vỹ là đại diện chủ nghĩa Naive (ngây thơ) của hội họa Việt Nam. Anh thuộc số ít họa sĩ giành được nhiều giải thưởng trong nước và quốc tế”. Nhà phê bình khác nhận xét tranh anh “cô đọng như một câu thơ ngắn, chỉ vài lời nhưng không kém vần điệu và gợi tình”. Phải chăng cũng bởi “ngây thơ, cô đọng, gợi tình” mà anh nghiện cách nói “không chính thống”, lấy sự ngộ nghĩnh và hàm súc làm trọng.
Hoàng Phượng Vỹ kể cha anh- Hoàng Trung Thông, Viện trưởng Viện Văn học một thời, đặt tên con rất “sến”, toàn tên hoa: Phượng Vỹ, Hướng Dương, Bích Hồng, Bích Liên... Sống trong bầu không khí văn nghệ, với ai anh cũng có góc nhìn riêng. Chẳng hạn Vũ Quần Phương vẹn cả gia đình lẫn sự nghiệp bởi “xuất thân bác sĩ, có tí khối B- Toán Hóa Sinh, tỉnh đòn hơn hội khối C”. Họa sĩ Phùng Quốc Trí “hay nhưng là kiểu thơ Trúc Thông- “Chầm chậm tới mình”, trong khi ông em họ- họa sĩ Lê Thanh Sơn lại là Nguyễn Đức Nhanh, thoăn thoắt, ngang Lượm”. Đỗ Hoàng Diệu thì là một ca “ở liều gặp lành”- “viết Bóng Đè như thế thì rõ liều, Tạ Quang Bạo còn gì”.
Nhớ lại, mới ngày nào cuốn “Sát thủ đầu mưng mủ” vừa ra mắt đã bị thu hồi. Nay “Phê như con tê tê”- chính là “Sát thủ đầu mưng mủ” có bổ sung, vừa tái bản lượng lớn. Quan niệm về tiếng lóng có vẻ ngày càng thoáng.

Gần đây, nổi lên một dự án tên là “Không còi” do Hãng Ford tài trợ, kêu gọi cả xã hội tuân thủ luật giao thông. Dự án này được cổ động dưới hình thức thời thượng: Giới trẻ tung các câu tiếng lóng lên mạng, còn họa sĩ Nguyễn Thành Phong minh họa chúng khá dí dỏm: Lái xe nghe điện, nhân tiện hôn đường; Chồng lái lụa, vợ góa bụa; Đi một ngày đàng hít một sàng khói; Xe yêu xăng xe mến xăng- Dù mỗi lần xăng hét xe run; Chiều chiều ra đứng ngõ sau-Trông ra ngoài phố còi đau hết đầu…

“Ta như chim trong tiếng Việt như rừng” (Thơ Lưu Quang Vũ). Từ lâu, tiếng lóng đã trở thành một bộ phận của ngôn ngữ, thậm chí một bộ phận thú vị trong trường hợp nó làm phong phú thêm tiếng Việt cực kỳ giàu có và biểu cảm của chúng ta. Vẫn Lưu Quang Vũ: “Ôi tiếng Việt như đất cày, như lụa/Óng tre ngà và mềm mại như tơ/…Kể mọi điều bằng ríu rít âm thanh/Như gió nước không thể nào nắm bắt/Dấu huyền trầm, dấu ngã chênh vênh”… Giới trẻ chơi tiếng lóng bây giờ cũng như Hoàng Phượng Vỹ ngày xưa, đầu tiên có thể do mốt, sau dần lụi đi hoặc trụ lại nhưng điều có thể tin được đó là xuất phát điểm của họ cũng chỉ bởi tình yêu tiếng Việt mà thôi.

http://www.tienphong.vn/mat-nham-mat-mo/tieng-long-cho-doi-vui-640771.tpo