PDA

View Full Version : áo ấm áo lạnh đánh thắng đánh bại



Alex
11-06-2010, 06:25 PM
Vừa nãy, có thằng bạn bỗng nhiên hỏi cắc cớ, "tại sao nói áo ấm và áo lạnh, đánh thắng và đánh bại; ... là đồng nghĩa (trong khi ấm và lạnh, thắng và bại lại trái nghĩa)?"

Thực sự tớ đã từng đọc đâu đó hay nghe ai đó giải thích rồi, mà lâu quá cũng béng đi quên mất, và thằng bạn hỏi hơi bị bất ngờ, chưa biết trả lời thế nào cho nó lọt cái lỗ tai, đành cười cười, "ờ hay nhỉ!"

Giúp mình với các bạn ơi!!

buixuanlam
02-08-2010, 04:20 AM
Áo ấm, Áo lạnh, về mặt ý nghĩa, đều chỉ một loại áo mặc để chống rét trong mùa lạnh. Cái khác nhau là về mặt cấu tạo từ. Đây là 2 Danh ngữ (cụm danh từ) đang có xu hướng trở thành danh từ ghép, trong đó, yếu tố thứ nhất (Áo) là danh từ trung tâm, yếu tố thứ hai (Ấm, Lạnh) là định ngữ hạn định ý nghĩa của yếu tố thứ nhất (Áo): Ấm= để mặc cho ấm; Lạnh= để chống lạnh. Như vậy, hai từ Ấm, Lạnh tuy trái nghĩa khi đứng độc lập, nhưng khi nằm trong danh ngữ (hoặc từ ghép) nói trên, chúng có ý nghĩa tương đương.

Với Đánh bại, Đánh thắng, cũng tương tự như trên, nhưng ở đây là hai Động ngữ (cụm động từ). Yếu tố thứ nhất (Đánh= động từ), yếu tố thứ hai (Thắng, Bại) là Bổ ngữ cho Động từ nói trên: đánh (cho địch) bại, đánh (cho đến khi ta) thắng...

Xin có vài lời ngắn gọn như vậy, để thấy tiếng Việt phong phú, sinh động đến chừng nào!

BÙI XUÂN LÂM, GV Ngữ văn.

vntruongson
29-11-2011, 07:58 AM
Cớ sao "áo ấm" là "áo lạnh"?Nguyễn Đức Dân




http://www.pptbackgrounds.net/uploads/question-mark-backgrounds-wallpapers.jpg
Có những lối nói có vẻ mâu thuẫn nhau, đó chỉ là mâu thuẫn hình thức. Về bản chất, chúng phản ánh những quy luật nào đó của tiếng Việt. Bởi lẽ, “cái gì đã tồn tại thì đều có lý do cho sự tồn tại của nó” (I. Kant).

1. Nhiều người đã “phát hiện” ra những hiện tượng “vô lý”, “mâu thuẫn” hay còn gọi là “phi lô gích” trong tiếng Việt. Đầu tiên là “mâu thuẫn” trong cấu tạo cụm từ, như:
Sao hai từ lạnh và ấm có nghĩa ngược nhau nhưng cách nói áo ấm và áo lạnh lại cùng nghĩa, và cùng nghĩa với áo rét?
Với phụ nữ mang bầu, chúng ta nói “dưỡng thai”. Đã vậy sao lại còn có nhà dưỡng bệnh? Một khi tổ quốc lâm nguy, thanh niên sẵn sàng lên đường cứu nước. Nhưng với “bà Hỏa” gây hiểm họa cho mọi nhà, sao lại còn cứu hỏa?
Cứ vậy, chúng ta còn gặp nhiều lối nói “mâu thuẫn” khác nữa. Trong số này có lối nói “cương quyết đánh thắng kẻ địch xâm lược” và lối nói “cương quyết đánh bại kẻ địch xâm lược”.
Đáng sợ hơn, lại còn lối nói “Ở đây bán bột trẻ em”…

2. Với những cách nói “mâu thuẫn” trên đây, để giải thích bạn hãy liên hệ tới hiện tượng rút gọn từ ngữ đương nhiên đúng trong nhiều cụm từ tiếng Việt.

Để tránh dài dòng tôi xin nêu một nhóm ví dụ: Nếu bạn đồng ý rằng từ cách nói “sách viết cho thiếu nhi” hay “sách dùng cho thiếu nhi” người ta rút gọn thành “sách thiếu nhi” thì hẳn bạn cũng chấp nhận rằng từ cách nói “áo dùng cho mùa lạnh” người ta cũng rút gọn thành “áo mùa lạnh” và rồi thành “áo lạnh”. Nếu chúng ta hiểu từ cách nói “áo mặc chống mưa, chống gió” người ta rút gọn thành áo mưa, áo gió thì cũng chấp nhận được “áo rét” là kết quả rút gọn của “áo mặc chống rét”. Nếu bạn cho là những cụm từ “truyện vui” , “tủ lạnh” được rút gọn từ “truyện đọc cho vui”, “tủ làm cho lạnh” thì bạn cũng có thể dùng khuôn rút gọn đó để giải thích “áo ấm” được rút gọn từ “áo mặc cho ấm”. Vậy nên có những cái lý cho việc tạo thành ba cụm từ áo lạnh, áo rét, áo ấm có vẻ mâu thuẫn nhau.

3. Bây giờ chúng ta quan tâm tới một hiện tượng “mâu thuẫn” cú pháp.
Năm 1975, trong mục “giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt” trên báo Nhân Dân, một nhà báo lão thành đã phê phán lối nói “cấm không được hút thuốc lá” vì đã cấm sao lại còn cấm không được? Nói vậy chả hóa ra cho phép hút thuốc lá hay sao? Ông đề nghị nói ‘không được hút thuốc lá’ hoặc ‘cấm hút thuốc lá”. Sự thực, cả ba lối nói trên đều đúng, đều được nhiều người dùng. Hiện tượng ngôn ngữ nào được nhiều người dùng ấy là đã được xã hội chấp nhận.
Chuẩn mực ngôn ngữ là một hiện tượng động. Cái đúng của ngày hôm nay có thể được hình thành từ cái sai của ngày hôm qua. Và cũng hàng loạt cái đúng của ngày hôm qua thì nay lại không dùng nữa. Hàng loạt từ ngữ thời Nguyễn Trãi hay Nguyễn Bỉnh Khiêm dùng nhưng nay không dùng như vậy.
Trở lại với cấm và cấm không được. Đây không phải là trường hợp duy nhất có thể thêm từ không vào sau động từ mà vẫn tạo ra cách nói đồng nghĩa.
Hàng loạt động từ V như: quên, thôi, kiêng, tránh, miễn, ngăn, cản, từ, chối … cũng có đặc điểm giống hệt như cấm: Quên mang sách = quên không mang sách; kiêng ăn đường = kiêng không ăn đường; thôi học tiếng Hoa = thôi không học tiếng Hoa; tránh gặp nhau = tránh không gặp nhau; “Ba ngăn Hải làm điều bậy” = “Ba ngăn không cho Hải làm điều bậy”; “Họ cản nó đi vào” = “Họ cản không cho nó đi vào”; “Người bố đã từ đứa con bất hiếu” = “Người bố đã từ không nhận đứa con bất hiếu”; “Ông ta chối đã nhận hối lộ” = “Ông ta chối đã không nhận hối lộ”; “Có nói mấy đi nữa cũng vô ích” = “Có nói mấy đi chăng nữa cũng vô ích”…

4. Hiện tượng “mâu thuẫn” vừa nêu được giải thích qua đặc điểm ngữ nghĩa của những động từ V vừa nêu. Chúng chung nét nghĩa phủ định: bổ ngữ B của chúng là một cụm động từ và động từ này đã không xảy ra, hoặc không còn được thực hiện. Quên mang A nghĩa là “không mang A ”, tránh đi đường X nghĩa là “không đi đường X”, thôi cãi nhau nghĩa là “không còn cãi nhau”, từ bỏ A nghĩa là “không còn thực hiện A” … Nét nghĩa phủ định gắn chặt với B đến nỗi mỗi khi nói tới một động từ lớp này là người ta nghĩ ngay đến “không B”. Ấy thế là xuất hiện lối nói dư “V không B” đồng nghĩa với “V B”. “Cấm A” nghĩa là “cấm không được A”. Cấm xả rác nghĩa là cấm không được xả rác, nói gọn lại là không được xả rác!
Đây là hiện tượng dư do quá trình từ vựng hoá nét nghĩa phủ định bổ ngữ của động từ.
Cuối cùng, thay vì “không có ai đến” đôi khi chúng ta nói “có ma nào đến” và cũng có thể nói “không có ma nào đến”. Hiện tượng “mâu thuẫn” này lại được giải thích theo một luật khác.


GS. TS. Nguyễn Đức Dân

vntruongson
29-11-2011, 08:03 AM
1. Tôi thường nghe nhiều lời bình (và cả một số bài viết) về những hiện tượng “phi lý”, “thiếu lôgic” ở tiếng Việt. Trong số này có thành ngữ “thượng cẳng chân, hạ cẳng tay”. Chân thấp tay cao, sao lại thượng cẳng chân?
Có giáo sư giải thích chân đá hất lên cao, tay đập xuống nên mới nói vậy. Và cũng có bài viết theo như thế. Bạn có thể hỏi cắc cớ thế chân đạp, tay thụi có phải là thượng cẳng chân, hạ cẳng tay không? Cái “phi lý” của thành ngữ này mạnh đến nỗi hai nhà nghiên cứu văn học dân gian N.L. và L.V.Đ. trong quyển từ điển Thành ngữ tiếng Việt (1978, nxb KHXH) được đánh giá cao, khi trích dẫn thành ngữ này cũng sửa lại cho “lôgic” hơn (?): “Bà cai Hách không dám hé răng nửa lời, vì cai Hách là kẻ phàm phu, chỉ biết có thượng cẳng tay, hạ cẳng chân (Vũ Trọng Phụng, Giông tố)”. Quyển Từ điển thành ngữ VN (1993, nxb VH) của một nhóm tác giả thuộc Viện NNH cũng dựa theo lời trích dẫn đã bị sửa lại này. Thật ra nhà văn họ Vũ viết “thượng cẳng chân, hạ cẳng tay” (Giông tố, chương 27).

Tôi tâm đắc câu cái gì hợp lý thì tồn tại của triết gia người Đức G.W.Leibniz và đi tìm cái lý cho những cách nói có vẻ “phi lý” nhưng vẫn được dùng rất bình thường này.

2. Trước hết, mời các bạn quan sát và trả lời những câu hỏi sau:

Trong vở Thị Mầu lên chùa, người mõ “chiềng làng chiềng chạ, thượng hạ, tây đông, con gái phú ông là Thị Mầu không chồng mà chửa...”. Vì sao lời trình thượng hạ, tây đông được hiểu là lời trình tới cả làng?

Tô Hoài viết: “Họ buôn ghê lắm, thượng vàng hạ cám. Từ cái bát ăn đến sợi tơ bóng, tơ mờ của Nhật nhà cậu vẫn làm đấy...”. (Mười năm). Vì sao buôn thượng vàng hạ cám được hiểu là buôn đủ mọi thứ?

Nghĩa của câu “Làm trai cho đáng nên trai//Xuống đông, đông tĩnh; lên đoài, đoài yên” là “tài trai là đi tới nơi nào liền đưa lại yên bình cho nơi đó”. Vì sao xuống đông lên đoài được hiểu là đi khắp nơi?

Vì sao “đầu đuôi câu chuyện” được hiểu là “toàn bộ câu chuyện”?

Còn “chuyện bậy bạ của quan chức X chỉ một hôm là trong Nam ngoài Bắc đều biết” có nghĩa “... chỉ một hôm cả nước đều biết”. Vì sao cặp từ Nam - Bắc lại là cả nước?

3. Chúng ta quy nạp: các cặp từ thượng - hạ, đầu - đuôi, đông - đoài, Nam - Bắc... giống nhau ở chỗ đều trỏ hai cực của một chỉnh thể và chung nghĩa “tất cả”. Vậy đã rõ: người Việt có triết lý lấy hai cực để biểu trưng tổng thể và tạo ra nghĩa tất cả. Chúng ta nêu vài ví dụ:

Đất nước hình chữ S có hai cực Bắc - Nam, nên câu “từ Bắc chí Nam người ta đều làm thế” có nghĩa “cả nước đều làm thế”.

Theo chiều thẳng đứng có hai cực trên - dưới, nên câu “trên dưới một lòng” được hiểu là “mọi người đều một lòng”.

Theo phương mặt trời mọc lặn có hai cực Đông - Tây (Đoài là phương Tây), nên “chuyện Đông, chuyện Tây” là chuyện đủ mọi nơi trong thiên hạ. Còn “xuống đông, đông tĩnh; lên đoài, đoài yên” có nghĩa là “đi đến nơi nào là dẹp yên loạn lạc nơi đó”.

Theo trục thời gian có hai cực xưa - nay, trước - sau nên “lệ làng này xưa nay là vậy” có nghĩa là “mọi thời, lệ làng này là vậy”. Còn “trước sau vẫn vậy” nghĩa là “luôn luôn vậy”.

Theo phương nhìn thẳng có hai cực trước - sau nên “trước sau nào thấy bóng người” nghĩa là “không thấy một ai quanh ta”. Còn “mắt trước mắt sau” là “để ý tới mọi phương”.

4. Nghĩa của “thượng cẳng chân, hạ cẳng tay” được hình thành thế nào?

Thành ngữ này có hai cặp từ thượng, hạ và cẳng chân, cẳng tay. Cặp thượng, hạ trỏ tổng thể. Còn cẳng chân, cẳng tay là những bộ phận cơ bắp nên trỏ hành động đánh đập (giới ngôn ngữ học gọi là biểu trưng hành động đánh đập). Ghép hai phần nghĩa này lại sẽ được nghĩa của thành ngữ trên: về tổng thể là những hành động đánh đập vũ phu.

Nhiều thành ngữ có nghĩa được hình thành từ những cặp từ biểu trưng và chúng ta dễ dàng giải thích nghĩa của chúng. Ví dụ: (những mảnh ruộng, mảnh vải...) đầu thừa đuôi thẹo. Thành ngữ này có hai cặp đầu, đuôi và thừa, thẹo. Đầu đuôi trỏ tổng thể, còn thừa, thẹo trỏ những thứ không ra gì. Vậy đó là “những mảnh ruộng, mảnh vải... nhìn chung (về tổng thể) không ra gì”.

(Bọn) đầu trộm đuôi cướp. Thành ngữ này có hai cặp đầu, đuôi và trộm, cướp. Cặp trộm, cướp trỏ hạng lưu manh. Vậy “nhìn chung, đó là bọn lưu manh”.

5. Trong nhiều ngôn ngữ khác, rất ít cách nói lấy hai cực trỏ tổng thể như đã thấy trong tiếng Việt.

Và trong bài viết này, tôi cố gắng nói có đầu có đuôi để minh oan cho một thành ngữ mà không ít người đến nay vẫn tưởng là vô lý, thiếu lôgic.


Nguyễn Đức Dân

vntruongson
29-11-2011, 08:05 AM
http://khoavanhoc-ngonngu.edu.vn/home/images/stories/nho%20me.jpg
Trong bài này tôi chỉ đề cập tới hiện tượng mơ hồ – một câu có ít nhất hai cách hiểu, chứ chưa bàn tới kiểu người khôn ăn nói “nửa chừng”, hay làm trai cứ “nước hai” mà nói. Thứ tiếng nào cũng có những câu mơ hồ. Tiếng Việt không là ngoại lệ.

Đã từng có quan niệm “tiếng Việt là thứ tiếng của thi ca, tiếng Anh *– thứ tiếng của thương mại, tiếng Pháp – thứ tiếng của ngoại giao”. Quan niệm xưa cũ này vừa khen lại vừa chê tiếng Việt: một thứ ngôn ngữ nhiều hàm ý thích hợp với đặc thù “ý tại ngôn ngoại” của ngôn ngữ thơ ca, nhưng cũng chính vì thế mà thiếu chính xác, mơ hồ trong diễn đạt.

Ngôn ngữ nào cũng mơ hồ

Hẳn bạn biết không ít truyện cười do có những câu không biết hiểu thế nào cho đúng. Nghe câu “Ba về làng hỏi vợ” quả là chúng ta không biết Ba về làng để cầu hôn hay xin ý kiến bà xã.

Năm 1969, trong một quyển sách nghiên cứu về ngữ pháp tạo sinh trong tiếng Anh, R. Jacobs và P. Rosenbaum đã chỉ ra câu tiếng Anh sau đây có sáu cách hiểu: “The seniors were told to stop demonstrating on campus”. Còn Iu. Aprexjan, nhà ngôn ngữ học Nga trong quyển sách Những quan niệm và phương pháp của ngôn ngữ học cấu trúc hiện đại xuất bản năm 1966 đã đưa ra một câu tiếng Nga có tới… 32 cách giải thích khác nhau kia đấy! Theo phép chuyển tự chữ Nga sang chữ Latinh câu này như sau: “Splochenie rabochikh brigad vyzvalo osuzhdenie tovarishcha ministra” (sự hợp nhất – của công nhân – của các đội – đã gây ra – sự phán xét – của đồng chí – của bộ trưởng).

Có sự mơ hồ do những từ đồng âm. Khi ông thầy bói gieo cho bà lão móm tính chuyện đi bước nữa một quẻ “Lợi thì có lợi (nhưng răng không còn)” ấy là ông đã chơi chữ trên hai từ lợi đồng âm. Số lượng từ đồng âm trong nhiều ngôn ngữ lớn gấp nhiều lần so với tiếng Việt. Tiếng Hàn chẳng hạn. Trong tiếng Hàn có rất nhiều từ gốc Hán. Tiếng Hán có bốn thanh, còn tiếng Hàn thì không. Mà chữ Hàn là thứ chữ ghi âm. Thế là rất nhiều từ Hán cùng vần khác thanh khi vào tiếng Hàn liền trở thành những từ đồng âm. Người Hàn đọc chữ Hàn nhiều khi cũng chẳng hiểu đích thực nghĩa. Ví dụ: có nhiều tiếng Hàn phát âm là sung nên khi viết từ Samsung công ty này đã phải chữ Hán tinh vào sau chữ sung để người đọc hiểu rằng Samsung là tam tinh. Logo của Samsung là ba ngôi sao.

Giữa các ngôn ngữ tự nhiên có những kiểu mơ hồ giống hệt nhau.

Mơ hồ ở cấp độ cụm từ. Một cụm từ có thể dùng thể hiện nhiều kiểu quan hệ ngữ pháp khác nhau. Đây là hiện tượng mơ hồ ngữ pháp. Khi viết “sự phê bình truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan” chúng ta đã tạo ra một cụm từ mơ hồ. Người đọc không biết nên hiểu là “Nguyễn Công Hoan viết bài phê bình các truyện ngắn” hay “người ta phê bình các truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan”. Tương tự danh ngữ tiếng Anh the shooting of the hunters, tiếng Pháp le tir des chasseurs hoặc tiếng Nga strel’ba okhotnikov đều có thể hiểu là sự bắn là của người đi săn mà cũng có thể hiểu là sự bắn người đi săn.

Mơ hồ ở cấp độ câu. Lấy câu so sánh làm ví dụ. Khi viết: “Tôi cũng thích trà như càphê” thì trà và càphê là hai đối tượng mà tôi thích như nhau. Khi viết: “Tôi cũng thích trà như anh” thì trà là đối tượng mà cả anh và tôi đều thích. Còn câu “Tôi cũng thích cô ấy như anh” chấp nhận cả hai cách giải thích nên nó thành mơ hồ. Hoặc là cô ấy và anh là hai người mà tôi thích như nhau. Hoặc là tôi và anh thích cô ấy như nhau. Trong tiếng Pháp và tiếng Anh, lối so sánh này cũng mơ hồ y hệt như vậy.
Có thể dẫn ra hàng loạt kiểu mơ hồ giống nhau giữa các ngôn ngữ tự nhiên. Tuy nhiên, ngôn ngữ nào cũng có những kiểu mơ hồ đặc thù. Cách đây hơn 50 năm, nhà văn hoá Phan Khôi đã “kiểm thảo đại danh từ” tiếng Việt. Theo ông, nó rắc rối quá. Vào một nhà lạ chẳng biết xưng hô thế nào với từng người cho phải phép, cho hợp với quan hệ tôn ti của họ trong gia đình ấy. Nhưng chính vì cách xưng hô khá tinh tế và mang màu sắc tôn ti, trọng – khinh, thân – sơ… này mà số lượng những câu mơ hồ liên quan đến lớp đại từ sở hữu ở tiếng Việt ít hơn hẳn so với các tiếng Nga, Anh, Pháp – những ngôn ngữ có lớp đại từ trung hoà về sắc thái nghĩa.

Vì sao nói tiếng Việt chính xác?


<tbody>
Nghe câu “Ba về làng hỏi vợ” quả là chúng ta không biết Ba về làng để cầu hôn hay xin ý kiến bà xã.

</tbody>

Nếu thiếu từ ngữ diễn đạt những khái niệm mới thì chúng ta vay mượn. Điều này đã và đang xảy ra với mọi ngôn ngữ. Vấn đề còn lại chỉ là khả năng diễn đạt chính xác của tiếng Việt. Tuy có những hiện tượng mơ hồ, nhưng phần lớn khi đặt trong tình huống giao tiếp cụ thể, hiện tượng mơ hồ đều mất đi. Hãy lấy hai câu khác nhau đúng một phụ âm cuối: “Chú tôi bị Mỹ bắn trong lúc đi càn” và “Chú tôi bị Mỹ bắn trong lúc đi cày”. Về lý thuyết hai câu này đều mơ hồ: Mỹ hay chú tôi đi càn/đi cày? Nhưng trong thực tế không có chuyện “Mỹ đi cày” ở Việt Nam nên câu sau là rõ ràng.

Hơn nữa, tiếng Việt có những phương thức diễn đạt chính xác và rõ ràng nội dung cần thông báo. Đó là phương thức dùng dấu câu, dùng trật tự từ, dùng từ hư, từ đồng nghĩa, thay đổi cấu trúc câu… Một ví dụ: “Ba đã biếu thầy giáo chủ nhiệm lớp bảy quyển sách mới mua hôm qua”. Nếu muốn nói rõ “bảy quyển sách” chứ không phải là “Thầy giáo chủ nhiệm lớp bảy”, và đây là “sách mới” chứ không phải là “mới mua” thì chỉ cần thêm hai dấu phẩy: Ba đã biếu thầy giáo chủ nhiệm lớp, bảy quyển sách mới, mua hôm qua. Nếu muốn nói là “biếu hôm qua” chứ không phải “mua hôm qua” thì chỉ việc đảo trật tự: Hôm qua ba đã biếu thầy giáo chủ nhiệm lớp, bảy quyển sách mới mua. Nếu muốn nhấn mạnh tới mới mua thì hãy dùng cách thêm/thay từ: Hôm qua ba đã biếu thầy giáo chủ nhiệm lớp, bảy quyển sách vừa mới mua.

Thực tế, chúng ta đã và đang dùng tiếng Việt để diễn đạt chính xác những văn bản quan trọng về ngoại giao, quân sự, thương mại, luật pháp… Tiếng Việt có đầy đủ khả năng diễn đạt chính xác những điều cần bộc lộ.
Bài này chưa bàn đến cách khai thác hiện tượng mơ hồ trong ngôn từ nghệ thuật.

GS.TS Nguyễn Đức Dân