+ Trả lời Chủ đề

Chủ đề: Vài nét về lịch sử nghiên cứu cú pháp tiếng Việt

Kết quả 1 đến 7 của 7
  1. #1
    Vượt ngàn trùng sóng vntruongson has a brilliant future vntruongson has a brilliant future vntruongson has a brilliant future vntruongson has a brilliant future vntruongson has a brilliant future vntruongson has a brilliant future vntruongson has a brilliant future vntruongson has a brilliant future vntruongson has a brilliant future vntruongson has a brilliant future vntruongson has a brilliant future vntruongson's Avatar
    Ngay tham gia
    Aug 2008
    Bài viết
    1,351
    Rep Power
    32

    Vài nét về lịch sử nghiên cứu cú pháp tiếng Việt

    So với nền ngôn ngữ học của một số quốc gia Châu Âu và một số nước trong khu vực, lịch sử nghiên cứu cú pháp tiếng Việt hãy còn quá khiêm tốn. Tuy nhiên, trong ngót nghét một thế kỉ nghiên cứu, những người nghiên cứu cú pháp tiếng Việt không phải là không đạt những thành tựu đáng ghi nhận. Các thế hệ những người nghiên cứu cú pháp đã không ngừng đào sâu, suy nghĩ về cấu trúc và hoạt động của câu tiếng Việt, cũng như đã không ngừng tham khảo, vận dụng những thành tựu của ngôn ngữ học thế giới vào việc nghiên cứu của mình. Cũng chính vì thế, khi trình bày lại một cách vắn tắt lịch sử nghiên cứu cú pháp tiếng Việt, để có thể hiểu sâu hơn những thành tựu cũng như những hạn chế lịch sử, không thể không nhắc đến những ảnh hưởng từ bên ngoài. Tất cả những tác giả đã nghiên cứu về cú pháp tiếng Việt đều đã có những đóng góp, ở những mức độ khác nhau, vào sự nghiệp chung. Trong khuôn khổ một sự trình bày mang màu sắc lịch sử, diễn trình, chúng tôi chỉ xin phép nêu ra và phân tích những tác giả, mà theo chúng tôi, là có những nét mới hoặc tiêu biểu cho các giai đoạn. Cách làm này không khỏi nhuốm màu sắc chủ quan, tuy nhiên lại là cách duy nhất có thể thực hiện được khi chúng ta chưa có một công trình tập thể được thừa nhận về lịch sử nghiên cứu cú pháp tiếng Việt. Một điểm nữa cũng cần nói ra ngay từ đầu: bởi vì cú pháp hiện đại bao gồm rất nhiều bình diện nghiên cứu khác nhau cho nên trong khuôn khổ trình bày hạn hẹp của mình, chúng tôi chỉ xin tập trung vào vấn đề mà chúng tôi là cốt lõi nhất (theo một nghĩa rất truyền thống). Đó là cấu trúc cú pháp cơ bản của câu và những vấn đề có liên quan.
    Lịch sử nghiên cứu cú pháp tiếng Việt, cũng như lịch sử các môn khoa học khác, bao giờ cũng là một sự phát triển liên tục. Tuy nhiên, ta có thể có thể tạm chia ra làm 3 giai đoạn lớn, căn cứ vào sự xuất hiện và tồn tại của những khuynh hướng nổi trội cùng với những tác giả, công trình tiêu biểu. Ba giai đoạn đó là: giai đoạn trước năm 1945, giai đoạn từ sau 1945 đến những năm 80 và giai đoạn từ những năm 90 trở lại đây. Sự phân chia giai đoạn như vậy chỉ là tương đối, tuy nhiên chúng tôi sẽ cố gắng, trong mức cao nhất có thể, bằng những ví dụ và phân tích cụ thể, biện minh cho sự phân chia này.

    Nguyễn Văn Hiệp
    ngonngu.net
    Dream as if you'll live forever, live as if you'll die today.

  2. #2
    Vượt ngàn trùng sóng vntruongson has a brilliant future vntruongson has a brilliant future vntruongson has a brilliant future vntruongson has a brilliant future vntruongson has a brilliant future vntruongson has a brilliant future vntruongson has a brilliant future vntruongson has a brilliant future vntruongson has a brilliant future vntruongson has a brilliant future vntruongson has a brilliant future vntruongson's Avatar
    Ngay tham gia
    Aug 2008
    Bài viết
    1,351
    Rep Power
    32

    Trước 1945

    Có lẽ những trình bày đầu tiên về cú pháp tiếng Việt là những ghi chú sơ sài về từ loại, vai trò của trật tự từ... trong những từ điển đối chiếu mà các học giả phương tây biên soạn. Với con mắt nhìn của mình, tiếng Việt có mấy đặc trưng nổi bật: (i) từ không biến đổi hình thái khi được sử dụng trong câu, không có cơ sở (hình thái học) để xác định từ loại, và do đó có thể xem tiếng Việt là một ngôn ngữ không có từ loại; (ii) trật tự từ trong câu đóng một vai trò rất quan trọng, quyết định đến việc hiểu nghĩa của câu. Chẳng hạn, trong chương 8 của “Báo cáo vắn tắt về tiếng An Nam hay Đông kinh”, được in trong cuốn “Từ điển An Nam-Lusitan-Latinh” của A.de Rhodes xuất bản tại Rome năm 1651, tác giả có những ghi chú, được trình bày dưới dạng các luật, về chức năng của từ trong câu tiếng Việt như sau:
    “Luật thứ nhất: chủ từ phải đi trước động từ; bằng không nó không còn là chủ từ của động từ ấy nữa (...)
    Luật thứ hai: danh từ theo sau động từ là bổ sung của động từ ấy (...).
    Luật thứ tư: trong hai danh từ đặt liền nhau thì tiếng thứ hai chỉ gián tiếp, thí dụ: Chúa nhà, Dominus domus (ông chủ của nhà); nếu tôi nói nhà Chúa, idest, domus Dominus (tức là nhà của ông Chúa)”
    [dẫn theo Nguyễn Minh Thuyết 1998; 28]
    Những năm 40, các tài liệu có liên quan đến cú pháp tiếng Việt đều do các học giả nước ngoài viết. Vì vậy, chẳng có gì ngạc nhiên khi chúng thể hiện cái nhìn Châu Âu đối với cú pháp tiếng Việt nói riêng và ngữ pháp tiếng Việt nói chung. Một số tác giả người Việt như Phạm Duy Khiêm, Bùi Kỉ, Trần Trọng Kim cũng có một cách nhìn không khác mấy, lí do là họ học ngôn ngữ học qua tiếng Pháp, tiếp thu bộ máy khái niệm và cách miêu tả cú pháp tiếng Pháp. Hệ quả, cú pháp tiếng Việt được họ viết ra có thể được xem là một thứ cú pháp tiếng Pháp được minh hoạ bằng tiếng Việt. Giai đoạn này thể hiện rất rõ tinh thần “dĩ Âu vi trung” và trong địa hạt cú pháp, thể hiện rõ cách tiếp cận mang tính “từ bản vị”. Cách tiếp cận này, vốn rất thích hợp với quy trình phân tích cú pháp các thứ tiếng Châu Âu, cùng với những hệ quả của nó, có thể được tóm tắt như sau:
    Thoạt tiên, dòng ngữ lưu được phân cắt thành các từ. Công việc này tương đối dễ, bởi các ngôn ngữ Châu Âu đều là ngôn ngữ có hình thái, các biến tố được xem như là chỉ báo cho ranh giới từ.
    Tiếp theo là sự phân loại các từ. Về đại thể, có hai loại lớn: (1) loại có hai bộ phận là căn tố cùng với hình thái (ví dụ book/s, go/es, tall/er...); (2) loại không có hai bộ phận căn tố và hình thái như (1). Loại thứ nhất được xem là thực từ, loại thứ hai được gọi chung là hư từ hay từ chức năng.
    Các thực từ tiếp tục được phân loại dựa vào hình thái của chúng: các từ có hệ hình thái giống nhau sẽ được quy về cùng một từ loại, chẳng hạn: danh từ có hệ hình thái giống nhau về giống, số, cách; động từ có hệ hình thái giống nhau về ngôi, thời, thể v.v...
    Tuy nhiên, hình thái của các từ trong câu bao giờ cũng có sự tương ứng với chức năng của chúng, hay nói cách khác, hình thức của từ trong câu là một loại chỉ báo cho vai trò mà chúng đảm nhận trong tổ chức câu. Vì thế, có một sự tương liên giữa từ loại và chức năng của từ trong câu, và như vậy có thể phân tích, miêu tả thành phần câu bắt đầu từ những đặc trưng ngữ nghĩa của từ loại và dạng thức của chúng. Một trong những dẫn dụ sinh động nhất của tinh thần này là ngôn ngữ học Châu Âu hiện nay vẫn dùng chính động từ (verb, verbe) để gọi chính thành phần vị ngữ của câu.
    Quy trình phân tích cú pháp trên đây dẫn đến một số hệ quả đáng lưu ý:
    • Thứ nhất, chỉ có thực từ mới có tư cách làm thành phần câu, bởi chỉ thực từ mới có hình thái.
    • Thứ hai, mỗi thực từ trong câu đều có tư cách một thành phần câu nào đó, bởi lẽ thực từ trong câu bao giờ cũng xuất hiện dưới một hình thái nhất định.
    • Thứ ba, mỗi thành phần câu thường gắn với những từ loại nhất định, bởi vì những từ cùng từ loại thì có hệ hình thái giống nhau.
    [dẫn theo Nguyễn Minh Thuyết 1994; 57–67]
    Theo cách phân tích này, các tác giả Việt ngữ lúc bấy giờ đều xem định ngữ như là một thành phần phụ của câu, tức định ngữ cũng có tư cách thành phần câu như chủ ngữ, vị ngữ, trạng ngữ, bổ ngữ v.v... Và những câu như:
    -Người tôi gặp hôm qua là nhà văn
    sẽ được coi là câu ghép, đúng như tinh thần của ngôn ngữ học Châu Âu. Bởi lẽ trong các tiếng Châu Âu, câu tương đương với câu này có hai động từ ở hình thức hữu tận; chẳng hạn trong câu tiếng Anh tương đương: “The person I met yesterday is a writer”, hai động từ ở hình thái hữu tận là metis.
    Như sẽ thấy ở phần tiếp theo đây, quan niệm này về sau, những năm 60, 70, đã bị phê phán mạnh mẽ và hiện nay hầu như đã bị từ bỏ. Nói chung, ở giai đoạn trước năm 1945, các tác giả thường gò cấu trúc câu tiếng Việt theo khuôn mẫu cấu trúc câu tiếng Pháp, các tên gọi thành phần câu tiếng Việt chẳng qua chỉ là sự sao phỏng tên gọi các thành phần câu tiếng Pháp, ví dụ chủ từ (sujet), động từ (verbe), túc từ (complément)... Có thể kể tên các tác giả theo xu hướng này là Vallot P.G, Bulteau R, Trà Ngân, Trần Trọng Kim, Bùi Kỉ, Phạm Duy Khiêm, Phạm Tất Đắc...
    Dream as if you'll live forever, live as if you'll die today.

  3. #3
    Vượt ngàn trùng sóng vntruongson has a brilliant future vntruongson has a brilliant future vntruongson has a brilliant future vntruongson has a brilliant future vntruongson has a brilliant future vntruongson has a brilliant future vntruongson has a brilliant future vntruongson has a brilliant future vntruongson has a brilliant future vntruongson has a brilliant future vntruongson has a brilliant future vntruongson's Avatar
    Ngay tham gia
    Aug 2008
    Bài viết
    1,351
    Rep Power
    32

    Sau 1945 đến trước 1990

    Giai đoạn sau năm 1945 có một cái mốc đáng ghi nhớ, đó là sự xuất hiện cuốn “Việt ngữ nghiên cứu” của Phan Khôi vào năm 1955, trong đó tác giả phê phán khuynh hướng “từ bản vị” đồng thời khẳng định khuynh hướng “cú bản vị”, là khuynh hướng du nhập vào Việt Nam qua cuốn ngữ pháp tiếng Trung Quốc “Tân trước quốc ngữ văn” của Lê Cẩm Hi. Phan Khôi cho rằng với một thứ tiếng không biến đổi hình thái như tiếng Việt mà theo “từ bản vị”, “mà sách văn pháp lại cứ bắt đầu chia ra từ loại thì thật xa vời sự thật quá, nếu không nói là vô lí” [1955; 16]. Tác giả đề nghị theo “cú bản vị”, tức “lấy tổ chức câu làm gốc, làm phần chính trong sự dạy văn pháp. Bắt đầu từ câu ngắn đến câu dài, từ câu đơn đến câu kép... Trong khi ấy mới tuỳ ở vị trí và chức năng của từng từ mà quy nó vào loại nào, và nhân đó mà nhìn rõ công dụng của nó” [1955; 16]. Theo tinh thần này, tác giả cho rằng câu tiếng Việt “có thể có đến sáu thành phần” gồm chủ ngữ, vị ngữ, tân ngữ, bổ túc ngữ, hình dung phụ gia ngữ và phó từ phụ gia ngữ. Có thể thấy, chuyển từ bản vị (phần nào phản ánh qua các tên gọi chủ từ, túc từ...) sang cú bản vị (phần nào phản ánh qua các tên gọi chủ ngữ, vị ngữ, bổ túc ngữ...) trong phân tích cấu trúc câu tiếng Việt là một bước ngoặt đáng ghi nhận. Các tác giả khác như Phan Ngọc, Nguyễn Lân cũng chịu ảnh hưởng rõ rệt khuynh hướng này.
    Trong giai đoạn này, đáng chú ý còn có Lê Văn Lí, được coi là người đầu tiên áp dụng một số phương pháp của ngôn ngữ học cấu trúc vào miêu tả cú pháp tiếng Việt. Tác giả dùng một số hư từ, gọi là từ chứng, thử đem kết hợp với các từ của tiếng Việt để chia từ tiếng Việt ra các loại A, B, B’ và C (ít nhiều ứng với danh từ, động từ, tính từ và hư từ). Sau đó, ông nêu ra các kết hợp có thể có được của các từ loại này, ví dụ [dẫn theo Emeneau M.B 1951; 228–232]:
    AAAAAA :Sáng cháo gà, tối cháo vịt.
    CCCCCCCCC : Dù sao chăng nữa cũng tại chúng mày cả.
    AB : Nước chảy.
    AB’ : Nhà cao.
    AC : Xe tôi.
    ABA : Mẹ về chợ.
    ABB : Chó muốn chạy.
    Trong những năm 60, 70, khi tiếng Việt được giảng dạy một cách sâu rộng trong nhà trường ở cả hai miền Nam Bắc, các nhà nghiên cứu đã có ý thức phân tích câu tiếng Việt thoát khỏi khuôn mẫu của câu tiếng Pháp. Theo tinh thần này, một số đặc trưng của câu tiếng Việt đã được phát hiện, đặc biệt là sự thừa nhận một loại thành phần câu không hề có trong các sách ngữ pháp tiếng Pháp, được gọi tên là chủ đề (nhóm Trương Văn Chình, Nguyễn Hiến Lê) khởi ngữ (Nguyễn Kim Thản)hay từ-chủ đề (nhóm Nguyễn Tài Cẩn, I.X Bưxtrov, N.V Xtankevich...). Tư cách của thành phần câu này đến hôm nay vẫn là một trong những tiêu điểm gây tranh cãi trong nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt.
    Trương Văn Chình và Nguyễn Hiến Lê cho rằng trong những câu như “Thư/Giáp gửi rồi” tiếng diễn tả thoại đề (“đề”, mục đích câu nói) và chủ từ không phải là một. Các tác giả đã đề xuất một thành phần câu có “chức vụ riêng”, gọi là “chủ đề” và định nghĩa như sau: “Chủ đề là tiếng đứng ở đầu câu, dùng để diễn tả thoại đề mà không phải là chủ từ. Về ý tứ, chủ đề có liên lạc hoặc với một tiếng khác trong câu, hoặc với cả câu. Nhưng về ngữ pháp thì chủ đề đứng riêng biệt, không có quan hệ với một tiếng nào trong câu cả. Chủ đề đặt trước chủ từ” [1963;530]. Nguyễn Kim Thản thì gọi thành phần câu này là khởi ngữ, một loại “thành phần thứ yếu của câu thường xuyên đứng ở vị trí 1 trong câu song phần” [1964; 208], về mặt nghĩa khởi ngữ có thể trùng với chủ ngữ, vị ngữ, bổ ngữ, định ngữ hoặc không trùng với một thành phần nào trong câu hay từ tổ, như có thể thấy quan các ví dụ sau:
    Tôi thì tôi xin chịu.
    Giàu, tôi cũng giàu rồi. Sang, tôi cũng sang rồi.
    Cô Toản, tôi gặp một lần ở Yên Bái, lấy chồng được hai con.
    Nhà, bà ấy có hàng dãy ở khắp các phố. Ruộng, bà ấy có hàng trăm mẫu ở nhà quê.
    Quan, người ta sợ cái uy của quyền thế. Nghị Lại, người ta sợ cái uy của đồng tiền.
    Chung quanh cương vị của khởi ngữ (chúng tôi tạm dùng thuật ngữ này chung cho các tên gọi khởi ngữ, chủ đề, từ chủ đề) trong cấu trúc của câu, lúc bấy giờ và về sau, trong những năm 70, 80 đã có những bất đồng giữa cái gọi là khởi ngữ thực thụ với bổ ngữ đảo trí hay một thành tố nào đó trong câu được đài lên phía trước (tương đương với hiện tượng Fronting, hay rộng hơn, là Inversion trong miêu tả cú pháp các tiếng Châu Âu). Một số tác giả thiên về những kĩ thuật miêu tả cú pháp hình thức thì cho rằng thành tố đứng đầu câu, biểu thị chủ đề của câu nói, có thể chuyển về vị trí ban đầu (thường là sau động từ vị ngữ) chỉ là các thành tố được đảo trí chứ không phải là khởi ngữ. Chẳng hạn, các tác giả này cho rằng ngữ đoạn đứng đầu câu trong “Những thú vui nho nhỏ ấy, giờ Mận bỏ hết” chỉ là bổ ngữ đảo trí, bởi lẽ, bằng một phép cải biến vị trí, (là thủ pháp biến đổi một cấu trúc này sang cấu trúc khác theo một quy tắc nhất định với điều kiện là quan hệ ngữ nghĩa giữa các thực từ tham gia sự chuyển đổi đó, về cơ bản, vẫn được bảo toàn) có thể khôi phục lại vị trí ban đầu của ngữ đoạn này: Giờ Mận bỏ hết những thú vui nho nhỏ ấy.
    Về mặt phương pháp luận, giai đoạn này nổi lên khuynh hướng dùng lí thuyết từ tổ (cụm từ), một lí thuyết rất thịnh hành ở Liên Xô lúc ấy, áp dụng vào phân tích cú pháp tiếng Việt. Có thể coi người tiêu biểu cho khuynh hướng này là Nguyễn Kim Thản. Ông cho rằng, cần phân biệt thành phần phụ của câu với thành phần phụ của từ tổ (cụm từ). Theo ông, cái gọi là định ngữbổ ngữ thật ra không có tư cách thành phần câu. Chúng chỉ là thành phần của các từ tổ danh từ (danh ngữ) và từ tổ động từ (động ngữ) khi các từ tổ này tham gia cấu tạo câu. Nguyễn Kim Thản chỉ thừa nhận trạng ngữkhởi ngữ là thành phần phụ đích thực của câu tiếng Việt, bởi lẽ những thành tố này không bị bao hàm trong các từ tổ đóng vai chủ ngữ và vị ngữ trong câu.
    Cũng theo khuynh hướng này, vấn đề câu đơn và câu ghép (hay phức) cũng được nhìn nhận lại. Câu “Người tôi gặp hôm qua là nhà văn” được xem là câu đơn, bởi vì ngữ đoạn “tôi gặp hôm qua” chỉ là thành tố phụ của từ tổ danh từ “Người tôi gặp hôm qua”. Về sau, vấn đề này còn được xem xét lại, thể hiện qua sự phân biệt câu phứccâu ghép: câu phức là một loại câu đơn mà các thành tố của nó có thể được mở rộng ở dạng một kết cấu C-V (chẳng hạn, câu được dẫn trên đây:“Người tôi gặp hôm qua là nhà văn”), còn câu ghép là câu có từ hai cụm C-V trở lên không bị bao hàm trong nhau (chẳng hạn, “Ông nói gà, bà nói vịt”).
    Có thể nói, vấn đề phân biệt thành phần câu với thành phần từ tổ là một trong những vấn đề sôi động nhất của cú pháp tiếng Việt những năm 60, 70, mà hệ quả là hình thành những cách nhìn phi truyền thống đối với một số thành phần câu như đã dẫn trên đây. Tuy nhiên, một số tác giả có quan điểm dung hoà hơn. Chẳng hạn, các tác giả cuốn “Ngữ pháp tiếng Việt” (1975) là Bưstrov, Nguyễn Tài Cẩn và Xtankêvich chấp nhận tính cách nước đôi của các thành phần câu này: “Mỗi một thành phần chủ yếu hay thứ yếu của câu đều có thể được biểu thị bằng đoản ngữ. Các thành phần phụ của đoản ngữ này có thuộc tính nước đôi: một mặt, chúng tham gia vào đoản ngữ, vì sự có mặt của chúng bị ước định bởi các thuộc tính từ vựng-ngữ pháp của hạt nhân đoản ngữ; mặt khác, bởi vì đoản ngữ đi vào thành phần câu nên chúng lại là các thành phần phụ thuộc mà điển hình là định ngữ [1975; 134].
    Bên cạnh những nét mới đã dẫn trên đây, cần ghi nhận thêm những nỗ lực áp dụng các lí thuyết ngôn ngữ học khác để nghiên cứu cú pháp tiếng Việt, không chỉ ở trong nước mà còn ở nước ngoài, không chỉ được thực hiện bởi các tác giả Việt Nam mà còn bởi các tác giả nước ngoài. Có hai tác giả nước ngoài đáng được nêu ra ở đây do cái mới mà họ đem đến trong việc phân tích và miêu tả câu tiếng Việt. Đó là Yu.K Lekomtsev và L.C Thompson, cả hai đều vận dụng phương pháp phân tích thành tố trực tiếp (IC), phương pháp rất nổi tiếng của trường phái miêu tả thời bấy giờ, để nghiên cứu câu tiếng Việt.
    Yu.K Lekomtsev, tuyên bố là theo tinh thần của Ngữ vị học Đan Mạch, đã biểu diễn sơ đồ đầy đủ cấu trúc câu đơn tiếng Việt theo tầng bậc các thành tố trực tiếp như sau:

    E1- (E2- (E3 ( (E5 - (E6- (E7- (E9- E8) )- E6) )- E4 ) ) ) 7 6 5 4 3 2 1 1 2 3 4 5 6 7Sau khi có được mô hình đầy đủ cấu trúc câu đơn tiếng Việt như vậy, tác giả mới xem xét cấu tạo của mỗi thành tố trực tiếp theo tầng bậc (được kí hiệu là En), thành tố đó ứng với tên gọi nào của thuật ngữ truyền thống và vị trí đối đãi của nó đối với thành tố trực tiếp cùng bậc với nó (thường là một tổ hợp) được kí hiệu là Kn. Theo đó, tác giả xác định E1 là các từ tình thái, có thể đứng đầu hoặc cuối câu. E2 là các trạng ngữ chỉ thời gian, được cấu tạo bởi ngữ thể từ, có hoặc không có giới từ, phụ thuộc vào cả kết cấu chứa chúng nói chung, vị trí của E2 đối với K2 là E2-K2, K2-E2, E2-:-K2 (E2 nằm giữa K2). E3 là các trạng ngữ địa điểm, được cấu tạo bởi ngữ thể từ không có giới từ, vị trí đối đãi của E3 so với K3 là E3-K3, K3-E3, E3-:-K3. E4 là những trạng ngữ địa điểm (cũng có khi là trạng ngữ thời gian), được cấu tạo bởi ngữ thể từ với các giới từ dẫn xuất như trong, trên, sau, dưới, bên..., vị trí của E4 đối với K4 là E4-K4, K4-E4, E4-:-K4. E5 là chủ ngữ, được cấu tạo bởi thể từ hay ngữ thể từ không có giới từ, vị trí điển hình của E5 đối với K5 là E5-K5 v.v... [Lekomtsev 1964; 54–63].
    Gần như đồng thời với Yu.K. Lekomtsev, L.C. Thompson đã dùng phương pháp phân tích thành tố trực tiếp để nghiên cứu cấu trúc câu tiếng Việt. L.C. Thompson cho rằng lối phân tích câu theo các thành tố trực tiếp (Immediate Constituents) là “kiểu phân tích tỏ ra có lợi nhất theo quan niệm cấu trúc đối với phát ngôn... Đối với người bản ngữ của một ngôn ngữ hay đối với nhà ngôn ngữ học có hiểu biết tốt về ngôn ngữ ấy, sự chia tách thành các thành tố trực tiếp dường như là tương đối đơn giản và trong đa số trường hợp là chẳng gặp rắc rối gì... Cái trực cảm này thực tế là thể hiện một ý sâu có trong cấu trúc của ngôn ngữ” [1965; 109]. Cách phân tích thành tố trực tiếp cho thấy cấu trúc câu tiếng Việt là một kết cấu tiêu điểm (Focal construction) : “Kết cấu tiêu điểm tạo ra những ngữ hạn định với vị từ là đỉnh (head) hay tâm. Các loại thể từ, ngữ thể từ, và thậm chí vị từ xuất hiện như là các bổ ngữ tiêu điểm... Ví dụ:
    Nhà cháy rồi
    Bạn đã làm cho tôi
    Cơm đưa lên
    Con chó bị chết
    Hai ông ấy học tiếng Việt Nam
    Trên bàn có nhiều cây bút chì
    Hôm qua mưa to quá
    Thế gian có nhiều kẻ hiếu lợi hơn ta
    Hai bên cũng chưa có vợ có chồng
    Ở bên nam nóng lắm
    Cũng có những từ đơn lẻ xuất hiện như bổ ngữ tiêu điểm mà không phải là thể từ cũng như không phải là vị từ: chúng là một số loại tiêu điểm, được nhận ra do các vị trí (ở trong câu) mà chúng xuất hiện:
    Sao ông không đến nhà chơi
    Đấy ông thấy làng Phát Diệm [Thompson 1965; 239–240]
    Bổ ngữ tiêu điểm bao giờ cũng đứng ở đầu câu và được phân ra nhiều loại, như có thể được thấy qua biểu đồ khái quát sau đây:
    Các loại bổ ngữ tiêu điểm Vị ngữ
    Phương thức Thời gian Nơi chốn Chủ đề
    Như thế hôm qua tại chợ tôi mua nhiều đồ
    Hôm nay tôi quên làm
    Vậy hôm nay nóng quá
    Ngày xưa ở Việt Nam việc hôn nhân là do bố mẹ kén chọn cho con cái
    Thompson có lẽ là người đầu tiên thấy được vai trò của tiểu từ thì trong cấu trúc tiêu điểm của câu tiếng Việt và từ đó ông đi đến nhận định rằng chẳng nên phân biệt thứ hạng của chủ ngữ và bổ ngữ (theo thuật ngữ truyền thống) trong hệ thống thành phần câu. Ông viết: “Sự thể là tiếng Việt đã gom nhóm các bổ ngữ tiêu điểm thành một loại lớn (trong đó không có gì khác nhau nhiều giữa các thực thể có dáng dấp như chủ ngữ với các bổ ngữ thời tính, vị trí và phương thức) càng được nhấn mạnh khi quan sát cách dùng tiểu từ thì (focal head particle thì ): nó xuất hiện như là để dựng lên, đánh dấu bổ ngữ chủ đề (focal topic) cũng như các loại bổ ngữ khác” [1965;257]. Thông qua những miêu tả của Thompson về cấu trúc câu tiếng Việt, có thể thấy ông là người đã có một trực cảm nhạy bén về một loại đặc trưng loại hình của tiếng Việt mà sau này một số nhà ngôn ngữ học xếp vào nhóm các ngôn ngữ thiên chủ đề (topic-prominent). Phần lớn những gì được ông gọi là bổ ngữ chủ đề và các loại bổ ngữ khác về sau được những người tuyên bố theo quan điểm Ngữ pháp Chức năng trong tiếng Việt gọi là phần Đề trong cấu trúc Đề-Thuyết, với tư cách là cấu trúc cơ bản của câu tiếng Việt.
    Cũng cần nêu ra ở đây những nghiên cứu của Trần Ngọc Ninh, được thể hiện trong bộ “Cơ cấu Việt ngữ” (Lửa thiêng xuất bản, 1973). Điểm mới mẻ của tác giả này là đã thử vận dụng một số luận điểm và thủ pháp của Ngữ pháp Tạo sinh (Generative Grammar) của N.Chomsky vào nghiên cứu cú pháp tiếng Việt. Chẳng hạn, tác giả cho rằng: Cơ cấu chìm nằm trong
    Δ Ta hát lên
    Δ i- Ta ↔ hát
    ii- Sự hát ↔ lên

    Sự biến cải từ cơ cấu nổi có thể biểu diễn bằng biểu đồ cây:

    (Trần Ngọc Ninh 1973, 121–122)
    Nói chung, Trần Ngọc Ninh đã có ý thức xây dựng một thứ ngữ pháp có năng lực giải thích sự hình thành câu nói. Những rất tiếc là cố gắng của tác giả chưa thật sự đem lại những kết quả khả quan và cũng không có mấy người theo đuổi đường hướng này.
    Dream as if you'll live forever, live as if you'll die today.

  4. #4
    Vượt ngàn trùng sóng vntruongson has a brilliant future vntruongson has a brilliant future vntruongson has a brilliant future vntruongson has a brilliant future vntruongson has a brilliant future vntruongson has a brilliant future vntruongson has a brilliant future vntruongson has a brilliant future vntruongson has a brilliant future vntruongson has a brilliant future vntruongson has a brilliant future vntruongson's Avatar
    Ngay tham gia
    Aug 2008
    Bài viết
    1,351
    Rep Power
    32
    Trong những năm 70, 80 cũng nổi lên xu hướng hình thức hoá trong nghiên cứu cú pháp tiếng Việt, thể hiện ở một số nghiên cứu của nhà Việt ngữ người Nga Panfilov về thành phần câu tiếng Việt. Có lẽ Panfilov đã chịu ảnh hưởng từ những nghiên cứu trước đó của Jakhontov về thành phần câu tiếng Hán, mà tinh thần chủ yếu là xây dựng những thủ pháp phân xuất, nhận diện các thành phần cấu trúc trong câu một cách nghiêm ngặt. Panfilov đã xây dựng “những khái niệm xuất phát” để có thể phân tích và miêu tả câu tiếng Việt một cách có hệ thống và không mâu thuẫn. Chẳng hạn, tác giả đã cố gắng hình thức hoá các thao tác để xác định các quan hệ ngữ pháp trong câu, phân biệt quan hệ ngữ pháp và quan hệ ngữ nghĩa, xem đó là cơ sở để có thể phân tích và miêu tả đúng đắn cấu trúc của câu tiếng Việt. Theo đó trong câu : “Tôi khuyên anh nghỉ”, tác giả chỉ thừa nhận quan hệ ngữ pháp tồn tại trong các kết hợp “tôi khuyên”, ‘khuyên anh”, “khuyên nghỉ”... Giữa “anh” và “nghỉ” không tồn tại quan hệ ngữ pháp, mặc dù quan hệ ngữ nghĩa giữa chúng là rất rõ ràng [Panfilov 1984,66]. Với một sự phân tích như vậy thì câu trên đây sẽ được phân tích theo mô hình thành phần câu có hai bổ ngữ là:
    Tôi khuyên anh nghỉ
    C V B1 B2
    Tương tự với những gì mà Jakhontov đã làm trong tiếng Hán, Panfilov cũng cố gắng “hình thức hoá” khái niệm “tính trọn vẹn”, xem đấy là cơ sở để xác định nòng cốt câu. Nhiều nhà ngôn ngữ học đã khẳng định rằng người bản ngữ nào cũng có cảm thức về tính trọn vẹn của câu, tuy nhiên việc xác định nó một cách hiển ngôn lại không hề là một việc dễ dàng. Jakhontov và Panfilov đã định nghĩa “tính trọn vẹn” thông qua khái niệm “tính không trọn vẹn”, và với cách làm đó, có thể nói là các tác giả đã hình thức hoá được khái niệm "tính trọn vẹn" của câu một cách rất độc đáo.
    Cần nói thêm là Panfilov (1980), cũng như nhóm Nguyễn Tài Cẩn, N. Xtankevich, Bưxtrov trước đó (1975) đã đề cập đến cái gọi là cấu trúc “phân đoạn thực tại” hay “phân đoạn thông tin” khi phân tích câu tiếng Việt. Khái niệm này vốn được trường phái Ngôn ngữ hoc chức năng Praha nêu ra từ những năm 30 và cho đến nay vẫn là một trong những tâm điểm chú ý của các nhà cú pháp học. Trong văn liệu tiếng Việt, Lí Toàn Thắng cũng có một bài viết đề cập đến vấn đề này (1981). Bài viết này hiện nay vẫn được trích dẫn tham khảo trong các luận văn đại học và sau đại học.
    Xu hướng hình thức hoá trong nghiên cứu cú pháp tiếng Việt đã được Nguyễn Minh Thuyết thực hiện một cách triệt để đối với chủ ngữ của câu. Tác giả cho rằng những tiêu chí về trật tự và hư từ không đáng tin cậy để phân biệt các nhãn hiệu hình thức trong cấu trúc câu, bởi vậy trong một giải pháp tổng thể, tác giả đã xây dựng một bộ các thủ pháp hình thức, gồm có phép lược, phép thế, phép bổ sung, phép cải biến, phép nguyên nhân hoá nhằm làm bộc lộ những khác biệt hình thức của các thành phần cấu trúc của câu. Trong luận án phó tiến sĩ “Chủ ngữ trong tiếng Việt” (1981), tác giả đã đưa ra những tiêu chí hình thức để phân biệt chủ ngữ với các thành phần câu khác, đặc biệt phân biệt chủ ngữ với bổ ngữ, là vấn đề ít được quan tâm trước đó trong Việt ngữ học. Tiêu chí phân biệt chủ ngữ và bổ ngữ là thái độ cú pháp khác nhau của hai thành phần câu này khi nòng cốt được đưa vào khuôn kiến trúc nguyên nhân (thủ pháp nguyên nhân hoá), với vị từ trung tâm là các động từ khiên động như bắt, buộc, khiến, sai, nhờ... hoặc các động từ đánh giá, nhận thức như cho (là), coi (là)... Chỉ có chủ ngữ mới có thể làm bổ ngữ thể từ tính, hay nói cách khác, chỉ có chủ ngữ mới có thể đứng sau vị từ trung tâm của khuôn kiến trúc nguyên nhân. Việc áp dụng một cách nhất quán các tiêu chí hình thức như vậy đã đem lại những kết quả thú vị. Chẳng hạn, tác giả thừa nhận tư cách chủ ngữ của các ngữ đoạn chỉ chỉ vị trí, nơi chốn trong các câu như “Trên đồn im như tờ”, “Trong nhà ra mở cửa”, hoặc thừa nhận kiểu câu “Tôi còn tiền” có hai loại chủ ngữ khác nhau là chủ ngữ chủ đềchủ ngữ ngữ pháp... Hướng đi của Nguyễn Minh Thuyết rất đáng được ghi nhận, bởi lẽ hướng đi này mang tinh thần của ngôn ngữ học hiện đại. Như mọi người đều biết, thực chất của cách phân chia loại hình học cú pháp, đối lập các ngôn ngữ đối cách (accusative) và các ngôn ngữ chủ cách (ergative) chính là dựa trên sự đối lập hình thức nhằm phân biệt chủ ngữ và bổ ngữ trong câu. Nói như T. Givón, có thể xem “việc xác định một cách hình thức chủ ngữ trong câu chỉ là một phần của việc phân biệt chủ ngữ và bổ ngữ” [1984, 145].
    Trong giai đoạn những năm 70, 80 cần ghi những những phát hiện khác về cơ cấu câu tiếng Việt cùng những đặc trưng ngữ nghĩa-chức năng của chúng. Diệp Quang Ban (1981) và Trần Ngọc Thêm đã thấy được vai trò không thể thiếu được của thành phần vẫn được gọi là trạng ngữ trong câu tồn tại. Đây là luận cứ quan trọng để đi đến sự thừa nhận rằng trạng ngữ trong câu tồn tại thực chất là một loại bổ ngữ bắt buộc của câu, là diễn tố thứ hai của vị từ tồn tại trung tâm (diễn tố thứ nhất là danh ngữ đứng sau vị từ tồn tại). Những nghiên cứu theo lí thuyết kết trị của Tesnière và các kiểu sự tình sau này đều khẳng định nhận định này. Sự phân biệt của Diệp Quang Ban giữa lõi câu và khung câu cũng là một sự phân biệt tinh tế và thuyết phục. Trong những năm 90, trong ngôn ngữ học thế giới, một số nhà ngôn ngữ theo hướng ngữ pháp ngữ nghĩa như S. Dik, Van Valin cũng chủ trương một sự phân biệt tương tự như vậy khi phân tích câu.
    Chịu ảnh hưởng của “Lí thuyết phân đoạn thực tại” cùng những nghiên cứu về cái gọi là “Phối cảnh chức năng” của câu, Lưu Vân Lăng và sau đó Trần Ngọc Thêm (1985) đều dùng các khái niệm Đề, Thuyết để miêu tả nòng cốt câu tiếng Việt. Từ những năm 70, Lưu Vân Lăng đã chủ trương phân tích câu theo ngữ đoạn tầng bậc có hạt nhân. Sau này, ý tưởng của tác giả được trình bày cụ thể như sau: “nòng cốt câu do thành tố nòng cốt (đề tố, thuyết tố) tạo nên. Hạt nhân đề tố, thuyết tố đều có thể phát triển thêm các phụ tố. Hạt nhân vị từ phát triển thêm bổ tố và trạng tố... Ngoài nòng cốt chỉ là những bộ phận thêm gọi là gia tố... Trước hết đây là những bộ phận có tính biệt lập như chú giải, hô ngữ (than gọi)... Lại có những bộ phận không biệt lập như: chuyển tiếp, dẫn khởi... Trên thực tế các gia tố như dẫn khởi, chuyển tiếp, hô cảm thường đặt ở đầu câu. Nhưng có khi gia tố (như chú giải, hô cảm...) không những đứng ở cuối mà còn chen vào giữa... Nên khi phân tích câu, cần phân biệt nòng cốt với gia tố, để thấy rõ phần đề, phần thuyết” [1987,18–19].
    Như đã thấy, cặp khái niệm đề/thuyết của Lưu Vân Lăng dùng để phân tích cấu trúc cú pháp của câu thực chất chẳng khác gì cặp khái niệm chủ ngữ/vị ngữ của truyền thống. Chúng khác xa với cặp khái niệm Sở đề-Sở thuyết được Cao Xuân Hạo dùng sau này. Trong khi đó, tuy cũng dùng cặp khái niệm Đề-Thuyết, nhưng Trần Ngọc Thêm vẫn giữ nguyên những khái niệm thành phần câu truyền thống như chủ ngữ, vị ngữ, trạng ngữ, bổ ngữ ... Tác giả cho rằng câu tiếng Việt có 4 loại nòng cốt như sau:
    Nòng cốt đặc trưng: C → V
    Nòng cốt quan hệ : C → V-B
    Nòng cốt tồn tại : Tr → V-B
    Nòng cốt qua lại : xA→yB [1]
    Như vậy, quan hệ đề-thuyết mà Trần Ngọc Thêm dựa vào để xác định nòng cốt câu không đồng nhất với quan hệ chủ vị, cũng không đồng nhất với quan hệ nêu-báo thường được dẫn ra trong phân tích phân đoạn thực tại câu. Tác giả cho rằng: “Cấu trúc của mọi câu đều chia làm 2 phần: một phần là trung tâm ngữ pháp (trung tâm tổ chức) của câu, gọi là phần đề...: còn phần kia là trung tâm ngữ nghĩa của câu, gọi là phần thuyết... nó luôn luôn đứng sau phần đề” [1985, 50]. Có thể thấy rằng định nghĩa này thiếu hẳn những tiêu chí hình thức cho phép nhận biết các thành phần đề, thuyết và điều đáng nói hơn là, ta không rõ tác giả đã thực sự đứng ở địa hạt nào để xác định nòng cốt câu, chẳng lẽ nòng cốt câu lại là sự kết hợp của một trung tâm ngữ pháp (đề) với một trung tâm ngữ nghĩa (thuyết)? Tuy nhiên, với cố gắng nối kết cú học với nghĩa học (theo nghĩa rộng), Trần Ngọc Thêm đã tỏ ra có cái nhìn chức năng trong việc nghiên cứu câu.
    Những thành tựu nghiên cứu cú pháp tiếng Việt cùng với sự hình thành đội ngũ những nhà nghiên cứu ngữ pháp đã dẫn đến sự ra đời của công trình tập thể “Ngữ pháp tiếng Việt” của Uỷ ban Khoa học Xã hội Việt Nam vào năm 1983. Có thể đánh giá công trình này theo nhiều cách khác nhau. Có thể cho rằng đây là một công trình rất sâu sắc nhưng giản dị, dễ hiểu và dễ vận dụng. Tuy nhiên, cũng có thể thấy tính chất thoả hiệp, cố gắng dung hoà các ý tưởng khác nhau được thể hiện một cách không thực sự nhuần nhuyễn trong công trình này. Chẳng hạn, việc gạt bỏ bổ ngữ ra khỏi danh sách thành phần câu (xem chúng chỉ là thành phần của cụm từ) là dấu ấn của lí thuyết từ tổ trong phân tích cú pháp. Việc sử dụng cặp tên gọi Đề-Thuyết để miêu tả nòng cốt câu là ảnh hưởng của lí thuyết “Phân tích câu theo tầng bậc hạt nhân” (do Lưu Vân Lăng khởi xướng). Còn việc biểu diễn cấu trúc các đoản ngữ (gồm các thành tố phụ đằng trước và đằng sau quây quần quanh trung tâm) là phản quang của những thành tựu nghiên cứu cấu trúc đoản ngữ tiếng Việt.
    [1] Liên kết hệ thống văn bản tiếng Việt. Nxb Giáo dục, 2001, trang 48:
    Nòng cốt đặc trưng: CT → VR
    Nòng cốt quan hệ : CT → (Vq-B)R
    Nòng cốt tồn tại : TrT → (Vt-B)R
    Nòng cốt qua lại : xVT→yVR
    Dream as if you'll live forever, live as if you'll die today.

  5. #5
    Vượt ngàn trùng sóng vntruongson has a brilliant future vntruongson has a brilliant future vntruongson has a brilliant future vntruongson has a brilliant future vntruongson has a brilliant future vntruongson has a brilliant future vntruongson has a brilliant future vntruongson has a brilliant future vntruongson has a brilliant future vntruongson has a brilliant future vntruongson has a brilliant future vntruongson's Avatar
    Ngay tham gia
    Aug 2008
    Bài viết
    1,351
    Rep Power
    32

    Từ 1990 đến nay

    Bước sang những năm 90, lĩnh vực nghiên cứu cú pháp tiếng Việt sôi động hẳn với việc công bố cuốn “Tiếng Việt- Sơ thảo ngữ pháp chức năng, Quyển 1” của Cao Xuân Hạo. Sau khi cuốn sách ra đời, đã có nhiều cuộc thảo luận được tổ chức xoay quanh chủ đề Ngữ pháp Chức năng và tiếng Việt. Phải thừa nhận rằng, cuốn sách của Cao Xuân Hạo đã mang lại một luồng gió mới cho cả nền ngôn ngữ học nước nhà và hiện nay, những vấn đề mà cuốn sách đặt ra vẫn đang còn là thời sự. Vì vậy, đánh giá cho hết những đóng góp mà cuốn sách mang lại là một công việc rất khó khăn. Tuy nhiên, khoảng cách 10 năm cũng có thể xem là tạm đủ để nêu lên những đóng góp cũng như những gợi mở của cuốn sách.
    Cái mới mà “Sơ thảo” (tức “Tiếng Việt- Sơ thảo ngữ pháp chức năng, Quyển 1” của Cao Xuân Hạo) mang lại là một tinh thần chống chủ nghĩa “Dĩ Âu vi trung” trong nghiên cứu câu tiếng Việt. Tác giả “Sơ thảo” cho rằng, gần như tất cả những miêu tả ngữ pháp trong nhà trường lâu nay chỉ là một sự rập khuôn máy móc ngữ pháp của tiếng Châu Âu, mà điển hình nhất là việc gán cho cấu trúc chủ vị cái cương vị là cấu trúc cú pháp cơ bản của câu tiếng Việt. Theo tác giả, cấu trúc chủ vị, như vẫn thường được hiểu, chỉ thích hợp cho việc miêu tả các thứ tiếng Châu Âu. Còn đối với một thứ tiếng như tiếng Việt, cái cấu trúc cú pháp cơ bản ấy là một cấu trúc khác: cấu trúc Sở đề-Sở thuyết. Hai thành tố của cấu trúc này tương ứng với hai thành phần của một hành động nhận định hay hành động mệnh đề. Trong tiếng Việt, ranh giới của Sở đề (gọi tắt là Đề) và Sở thuyết (gọi tắt là Thuyết) được đánh dấu bằng khả năng thêm các tác tử thì, là, mà. Cấu trúc của câu trần thuật được “chia hết” cho hai thành phần Đề, Thuyết và câu có thể có một bậc Đề Thuyết hoặc có từ hai bậc Đề Thuyết trở lên. Chẳng hạn, câu “Tôi dạo này ở nhà con cái đứa thì đi học đứa thì đi làm, phải thổi cơm lấy mà ăn” có đến 5 bậc cấu trúc Đề Thuyết như sau (1991, trang 174):

    Cao Xuân Hạo cho rằng cách tiếp cận chức năng là thích hợp nhất để miêu tả ngữ pháp tiếng Việt. Cách tiếp cận chức năng nhìn thấy sự thống hợp của ba bình diện nghiên cứu câu là kết học, nghĩa học và dụng học, tuy nhiên đòi hỏi người nghiên cứu phải biết phân biệt ba bình diện nghiên cứu này một cách tách bạch, không được lẫn lộn những sự kiện của bình diện này sang bình diện khác (đây, theo tác giả, vốn là một trong nhược điểm phổ biến ở các tác giả đi trước, chẳng hạn tình trạng dùng các đặc điểm nghĩa học để gán nhãn các thành phần cấu trúc của câu, vốn thuộc bình diện kết học).
    Cuốn sách của Cao Xuân Hạo cũng nêu lên hoặc đặt lại một loạt vấn đề cơ bản trong nghiên cứu cú pháp: câu là gì, câu và các đơn vị của ngôn ngữ, cấu trúc chủ vị và cấu trúc Đề Thuyết trong ngôn ngữ học hiện thời, cấu trúc nghĩa của câu, những vấn đề về dụng pháp... Về cách giải quyết các vấn đề cụ thể, có thể đồng ý hoặc không đồng ý với tác giả. Tuy nhiên, trong nghiên cứu cú pháp hiện đại, người nghiên cứu ngày nay không thể không bàn đến những vấn đề mà Cao Xuân Hạo đã nêu ra trong Sơ thảo (và trong những bài viết khác về sau). Sự cân đối và giản dị trong giải pháp dùng cấu trúc Đề Thuyết để miêu tả câu tiếng Việt là một trong những ưu điểm của tác giả.
    Quan điểm của Cao Xuân Hạo có được sự ủng hộ từ một số nghiên cứu trong ngôn ngữ học quốc tế. Chúng tôi thấy cần dẫn ra đây một số nghiên cứu mà chúng tôi cho là rất quan trọng để có thể hiểu được đóng góp của Cao Xuân Hạo đối với ngữ pháp tiếng Việt.
    Trước hết, đó là nghiên cứu của Keenan nhằm xác lập một định nghĩa phổ quát về chủ ngữ. Trong bài báo "Tiến tới một định nghĩa phổ quát cho chủ ngữ" (1976), tác giả khảo sát chủ ngữ của các câu cơ bản (được lấy từ nhiều ngôn ngữ khác nhau), từ đó đưa ra một danh sách gồm 30 thuộc tính đặc trưng của chủ ngữ, gồm có các thuộc tính liên quan đến tính độc lập, các thuộc tính liên quan đến hình thái, các thuộc tính liên quan đến vai nghĩa, các thuộc tính liên quan đến sự khống chế trực tiếp (tức liên quan đến cấp bậc trong câu). Các thuộc tính này được xem là tiêu chí để xác định chủ ngữ. Danh ngữ nào thoả mãn càng nhiều thuộc tính thì càng "ra vẻ là chủ ngữ". Trong thực tế, không một danh ngữ nào trong các ngôn ngữ trên thế giới có thể thoả mãn đầy đủ 30 thuộc tính này để có thể được xem là một chủ ngữ "lí tưởng". Vì vậy, ý định xây dựng một định nghĩa chủ ngữ phổ quát (tức có thể áp dụng cho tất cả các ngôn ngữ) của Keenan rõ ràng là thất bại: chỉ có thể định nghĩa chủ ngữ cho/của từng ngôn ngữ, tức không thể có một khái niệm chủ ngữ phổ quát mà chỉ có khái niệm "chủ ngữ của" (subject of) áp dụng cho từng ngôn ngữ riêng biệt.
    Trong thực tế, danh ngữ trong các ngôn ngữ khác nhau thì thoả mãn một số lượng không giống nhau các thuộc tính trên đây. Và đây chính là cơ sở để Li và Thompson nêu ra một cách phân loại loại hình học mới: các ngôn ngữ thiên chủ ngữ (subject-prominent) hay thiên chủ đề (topic-prominent) (1976). Các ngôn ngữ thiên chủ đề chính là những ngôn ngữ mà trong đó, các danh ngữ đáp ứng một số lượng quá ít ỏi các thuộc tính được dùng làm tiêu chí xác định chủ ngữ phổ quát trên đây, tức chúng ít "ra vẻ là chủ ngữ". Tiếng Hán, tiếng Lisu, tiếng Lahu... có thể được dẫn ra như là những ngôn ngữ thiên chủ đề như vậy. Li và Thompson cho rằng: "Khái niệm Chủ đề (topic) phải được tính đến khi xây dựng một miêu tả ngữ pháp thích đáng cho các ngôn ngữ này, và kiểu câu Đề Thuyết (topic-comment) phải được xem là thuộc vào những kiểu câu cơ sở của ngôn ngữ" (1976, tr 483).
    Áp dụng những kết quả trên đây vào nghiên cứu tiếng Việt, Dyvik (1984) đã thấy được vai trò của tiểu từ thì với tư cách là một tác tử phân giới Đề Thuyết. Một câu như "Cuộc hoả hoạn ấy thì sáng nay các lính chữa lửa đến sớm" được Dyvik phân tích như sau:

    Divik cho rằng "tiếng Việt có thể được xem là ngôn ngữ thiên chủ đề" (1984, 63). Tuy nhiên, bởi khả năng tiếng Việt có thể có cấu trúc bị động, tác giả cho rằng cách phân tích này bị không thực sự chiếm ưu thế tuyệt đối và có thể nghĩ đến mầm mống của một cấu trúc chủ vị song song, tách biệt với cấu trúc Đề Thuyết (1984, 63).
    Đặt trong bối cảnh về một xu hướng loại hình học mới như vậy, có thể thấy giải pháp mà Cao Xuân Hạo đề xuất về cấu trúc câu tiếng Việt vừa độc đáo nhưng lại vừa không hoàn toàn xa lạ. Tuy ở điểm này hay điểm nọ, có thể có những bàn bạc, điều chỉnh hoặc bổ sung nhưng ở thời điểm hiện nay có thể khẳng định chắc chắn một điều là cuốn sách của Cao Xuân Hạo đã thúc đẩy việc nghiên cứu cú pháp tiếng Việt chuyển sang một bước phát triển mới.
    Trong một định hướng khác, vừa tiếp thu lí luận ngôn ngữ học hiện đại và Đông phương học quốc tế vừa không bài xích các khái niệm ngôn ngữ đã được dùng để miêu tả tiếng Việt trước đó, Nguyễn Minh Thuyết và Nguyễn Văn Hiệp đã cố gắng nêu một giải pháp nhất quán và chặt chẽ về "Thành phần câu tiếng Việt" (1998). Theo giải pháp này, các thành phần câu tiếng Việt được phân xuất và nhận diện trên cả hai bình diện nội dung và hình thức. Giải pháp này cũng cho phép thấy được tính "lập thể", đa chiều kích của câu, phân biệt nòng cốt câu (lõi câu) với các thành phần phụ, trong đó ngoài các thành phần có tính truyền thống như trạng ngữ, khởi ngữ, các tác giả còn đề xuất định ngữ câu với tư cách là thành phần phụ thể hiện thái độ hay lập trường của người nói đối với điều được nói ra, còn tình thái ngữ là chỉ báo cho kiểu mục đích phát ngôn điển hình của câu.
    Nếu Nguyễn Minh Thuyết và Nguyễn Văn Hiệp phân xuất và nhận diện các thành phần câu tiếng Việt trên cả hai bình diện nội dung và hình thức theo một cách chung nhất, thì Ðào Thanh Lan lại chủ trương vận dụng cùng một lúc 5 tiêu chí để xác lập bộ khung cấu trúc của câu đơn tiếng Việt. Sơ đồ về đặc điểm các thành phần thuộc khung cấu trúc câu đơn sau đây phản ánh luận điểm cơ bản của tác giả:
    Tên thành phần câu
    Tiêu chí phân định ↓
    1. Nghĩa tạo lập phát ngôn nêu phạm vi để nhận định ở nòng cốt có hiệu lực minh xác cho danh từ làm Đề nêu chủ đề của sự nhận định bổ sung ý nghĩa hạn định cho danh từ nêu điều nhận định, thuyết minh (nói về) cho chủ đề bổ sung chi tiết phụ chuyên môn cho vị từ do ngữ nghĩa của vị từ chi phối bổ sung chi tiết phụ chung cho vị từ bất kì
    2. Nghĩa biểu thị thực tại khách quan nêu chu cảnh về thời gian, không gian, cảnh huống, nguyên nhân, mục đích nêu đặc trưng minh xác nêu thực thể nêu đặc trưng hạn định nêu đặc trưng thông báo nêu thực thể, nhận dịnh bôt sung cho vị từ nêu chu cảnh về thời gian, không gian, cảnh huống, nguyên nhân, mục đích
    3. Vai trò quan hệ cú pháp phụ cho cả nòng cốt (có thể lược bỏ) phụ cho danh từ làm Đề chính (không bỏ được) phụ cho danh từ hạt nhân chính (không bỏ được) phụ cho vị từ phụ cho vị từ
    4. Hình thức biểu hiện bằng vị trí trước nòng cốt (Đ–T) trước danh từ làm Đề trước Thuyết sau danh từ hạt nhân sau Đề sau vị từ sau vị từ và Bổ ngữ
    5. Hình thức - Dt (Danh từ thời gian)
    - Dk (Danh từ không gian)
    - gt + Ds (Giới từ + Danh từ sự vật)
    - V (vị từ)
    - là + D (danh từ)
    - như + D (danh từ)
    - cú (Đ–T)
    - D
    - cú
    - V
    - D
    - là + D
    - như + D
    - cú
    - V (câu tả)
    - là + D (câu thuận)
    - như + D (câu so sánh)
    - Cú (khi Đề là D)
    - Danh
    - Cú
    - Dt
    - Dk
    - gt + Ds

    (Ðào Thanh Lan (2002), tr. 253)
    Theo chúng tôi, sử dụng nhiều tiêu chí là một giải pháp thường gặp khi nhà nghiên cứu gặp phải những vấn đề phức tạp, ở đó tính chất trung gian của một số đối tượng khiến cho việc áp dụng một hoặc hai tiêu chí gặp khó khăn. Có điều, người nghiên cứu phải đảm bảo được rằng những tiêu chí ấy chỉ bổ sung chứ không loại trừ hoặc mâu thuẫn nhau. Kinh nghiệm dùng kết hợp các tiêu chí (tiêu chí về nghĩa từ vựng và tiêu chí về đặc điểm ngữ pháp) trong việc phân định từ loại là một bài học: trong rất nhiều trường hợp, tiêu chí sau mâu thuẫn với tiêu chí trước. Frawley (1992) cho rằng quan niệm có thể dùng ý nghĩa từ vựng (dù là ý nghĩa từ vựng khái quát), kết hợp với đặc điểm ngữ pháp để làm tiêu chí phân định từ loại chỉ là một ảo tưởng, chính các đặc điểm ngữ pháp mới có tiếng nói quyết định. Lê Hoàng (2005) đã rất đúng khi cho rằng “một từ tiếng Nga действиe có từ căn là действ mang ý nghĩa từ vựng chỉ hành động, nhưng nhờ có hình thái giống những danh từ chỉ sự vật khác mà được gọi là danh từ. Ngược lại, những từ trong tiếng Anh như (to) water, (to) lawn, tuy có từ căn water, lawn mang ý nghĩa từ vựng chỉ sự vật, nhưng có hệ hình giống như những động từ chỉ hành động (hoặc trạng thái) khác nên được gọi là động từ” (Lê Hoàng 2005). Ðó là chưa tính đến trường hợp một đối tượng có thể chỉ đáp ứng một số tiêu chí mà thôi chứ không đáp ứng toàn bộ các tiêu chí (chẳng hạn 2 trên tổng số 5 tiêu chí, 3 trên tổng số 5 tiêu chí...), khi đó đối tượng sẽ được gọi tên như thế nào ? Sự phát triển của lí thuyết Ðiển mẫu (Prototype), bắt đầu trong nghiên cứu từ vựng, sau đó mở rộng cho cả ngữ pháp, là sự phê phán đối với việc áp dụng các tiêu chí cần và đủ để gán định nhãn hiệu cho đối tượng. Càng ngày, người ta thấy cần khẳng định sự tồn tại của những trường hợp không điển hình (không điển mẫu) bên cạnh những trường hợp điển hình (điển mẫu).
    Trong cảm hứng phê phán các khuynh hướng hình thức cùng những nghi vấn về tính phổ quát của những khái niệm lâu nay vẫn được dùng để miêu tả ngữ pháp tiếng Việt cũng như các ngôn ngữ đơn lập khác, Lê Hoàng (2002b) đã chủ trương xây dựng một thứ ngữ pháp ngữ nghĩa, mà tác giả cho là thích hợp với việc miêu tả tiếng Việt. Gọi W là từ, L là thành tố có tính từ vựng và G là thành tố có tính ngữ pháp, tác giả cho rằng trong tiếng Việt, xác định từ là một việc nan giải, mà nếu có xác định được đi chăng nữa thì thực từ cũng chỉ có mô hình W=L, do đó “quy tắc cú pháp tuy vẫn có thể xây dựng dựa vào thuộc tính của (L) (khả năng kết hợp chẳng hạn), nhưng không thể dựa vào yếu tố nội tại (G) được. Thay cho yếu tố (G) này chỉ có thể là trật tự từ và việc sử dụng các hư từ mà thôi. Nhưng nếu trật tự từ chủ yếu là sự phản ánh khả năng kết hợp nghĩa giữa các từ chứ không phải những quy tắc độc lập với nghĩa và hư từ có mức độ ngữ pháp hóa thấp thì có thể xem cú pháp như những quy tắc kết hợp nghĩa (L) giữa các từ. Nói cách khác, ta có cú pháp = ngữ nghĩa” (Lê Hoàng 2002b). Cụ thể, tác giả cho rằng có thể thực hiện việc miêu tả cú pháp tiếng Việt bằng cách “tiến hành phân tích và miêu tả các thuộc tính của (G), sau đó chi tiết hóa bằng việc tìm hiểu quan hệ qua lại của chúng với các ý nghĩa có tính chất phạm trù của (L)”. Và “đối với một ngôn ngữ như tiếng Việt, cần xây dựng một khung lý luận ngữ pháp = ngữ nghĩa, nghĩa là phân tích và miêu tả những quy tắc cú pháp chủ yếu dựa trên những loại ý nghĩa phạm trù của các từ, tức là những ý nghĩa nào có giá trị ngữ pháp, thể hiện quan những chế ước về hình thức cú pháp có thể quan sát được” (Lê Hoàng 2002b). Ðối với một ngôn ngữ đơn lập, không biến đổi hình thái như tiếng Việt, cách tiếp cận của tác giả tỏ ra rất có triển vọng. Vấn đề đặt ra là có bao nhiêu loại ý nghĩa phạm trù sẽ được xác định, và từ đó, có bao nhiêu qui tắc cú pháp sẽ được khái quát từ sự chế ước của những ý nghĩa phạm trù đó. Ðây quả thật là một công việc rất lí thú nhưng không hề dễ dàng.
    Trong một thử nghiệm gần đây nhất, Diệp Quang Ban (2004) đã áp dụng mô hình ngữ pháp chức năng của Halliday (1985) để phân tích câu tiếng Việt theo ba siêu chức năng (siêu chức năng kinh nghiệm, siêu chức năng liên nhân và siêu chức năng văn bản). Trong công trình này, lần đầu tiên, tác giả đề cập đến vấn đề thức của câu tiếng Việt. Tác giả cho rằng trong những ngôn ngữ biến hình từ, cấu trúc thức thể hiện trước hết ở sự biến hình của động từ theo thức và thức của động từ là hiện tượng thuộc phạm trù cú pháp-hình thái học. Còn trong những ngôn ngữ như tiếng Việt, động từ không biến hình, người ta phải nói đến thức của câu (sentence mood: “Thức của câu là giá trị tình thái của các kiểu câu trong sử dụng” (tr. 39). Tác giả cho rằng thức của câu tiếng Việt được diễn đạt bằng những dấu hiệu hình thức (những yếu tố ngôn ngữ) ít nhiều có tính chất chuyên dụng, với tên gọi là biểu thức thức (mood expressions), đó là “một số hư từ, một số phụ từ và một số bán thực từ” (tr 40). Phần còn lại trong câu có quan hệ với biểu thức thức được gọi là phần dư (Residue). Tác giả phân tích một số ví dụ như sau:
    Anh tìm cái gì?
    Phần dư Biểu thức nghi vấn

    Hãy đi tìm Giáp đi
    Phần dư
    Biểu thức cầu khiến
    Chúng tôi đồng ý rằng hoàn toàn có thể nói đến thức của câu trong tiếng Việt nói riêng và trong các ngôn ngữ đơn lập nói chung, bởi vì khái niệm này có lợi cho việc miêu tả chức năng liên nhân của câu. Phạm trù thức không nên bó hẹp trong ngôn ngữ biến hình, như một phạm trù ngữ pháp của động từ. Huleddston (1984) đã từng đề nghị cái gọi là thức phân tích tính (Analytic Mood), mang tính cú pháp, phân biệt với thức tổng hợp tính, mang tính hình thái học, vốn quen thuộc trong các ngôn ngữ biến hình(1).
    Sự phân tích của Diệp Quang Ban về các loại cấu trúc khác nhau của câu tiếng Việt: cấu trúc cú pháp, cấu trúc nghĩa biểu hiện (chức năng biểu hiện), cấu trúc thức (chức năng liên nhân), cấu trúc đề (chức năng văn bản) là một nỗ lực rất đáng ghi nhận, vì đã cho thấy cấu trúc nhiều chiều kích của câu. Tuy nhiên, cũng như Hoàng Văn Vân (2002) trước đó, với công trình miêu tả cú tiếng Việt theo bình diện nghĩa kinh nghiệm, chúng ta thấy tất cả mới chỉ là những phác thảo, có tính thử nghiệm: tiếng Việt được lấy làm dữ liệu để kiểm nghiệm cho một đường hướng lí thuyết mới. Liệu lí thuyết ấy có làm sáng tỏ được những đặc điểm của tiếng Việt hay không, đó là một câu hỏi vẫn đang còn để ngỏ và đang chờ đợi những nghiên cứu tiếp theo.
    Thật khó có thể điểm lại tất cả những công trình đã có về cú pháp tiếng Việt (hoặc dưới dạng sách, hoặc dưới dạng chuyên luận, hoặc dưới dạng các bài nghiên cứu). Trên đây chỉ là một số rất ít tác giả và công trình được dẫn có liên quan trực tiếp đến vấn đề miêu tả cấu trúc cú pháp của câu tiếng Việt. Ngoài ra, còn rất nhiều tác giả và công trình quan trọng khác, mà chúng tôi xin được nêu ra như sau: Lê A, Lê Cận, Mai Ngọc Chừ, Nguyễn Cao Ðàm, Ðinh Văn Ðức, Hoàng Văn Vân, Nguyễn Lai, Hồ Lê, Vũ Ðức Nghiệu, Ðái Xuân Ninh, Hoàng Trọng Phiến, Nguyễn Anh Quế, Nguyễn Thị Quy, Hữu Quỳnh, Lê Xuân Thại, Phan Thiều, Hoàng Văn Thung, Bùi Minh Toán... Danh sách này, dù có cố gắng đến mấy, chắc chắn vẫn còn thiếu sót (2). Và việc điểm lại toàn bộ những đóng góp của các nhà Việt ngữ chắc chắn phải là công việc dài hơi, của cả một tập thể, trong tương lai.
    Nhìn lại lịch sử nghiên cứu cú pháp tiếng Việt, có thể nói hầu như tất cả những lí thuyết cú pháp quan trọng của thế giới đều đã có ảnh hưởng đến việc nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt ở một mức độ nào đó và các nhà Việt ngữ học, mỗi người mỗi vẻ, đã đóng góp phần công sức của mình vào công cuộc nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt nói chung. Việc trình bày toàn bộ những đóng góp như vậy, thiết nghĩ, là một nhiệm vụ quá khó đối với chúng tôi. Phần tổng quan này, vì vậy, chỉ là một sự trình bày hồi cố hết sức giản lược, theo tinh thần “ôn cố tri tân” trước khi chúng tôi đi đến xác định cách tiếp cận của riêng chúng tôi đối với cú pháp tiếng Việt.
    _______________
    (1) Tương tự, cũng không nên bó hẹp ‘bị động’ chỉ như là một phạm trù ngữ pháp gắn với động từ trong các ngôn ngữ châu Âu. Hoàn toàn có thể nói đến câu bị động hoặc cấu trúc bị động trong các ngôn ngữ đơn lập. Miêu tả của Huang ( 1999 ) về câu bị động trong tiếng Trung Quốc là một ví dụ cho chúng ta tham khảo.
    (2) Chẳng hạn, gần đây qua mạng Internet chúng tôi mới biết đến công trình nghiên cứu cú pháp tiếng Việt của Dũng Vũ (“Tiếng Việt và ngôn ngữ học hiện đại – Sơ thảo về cú pháp” trên talawas.org), công trình ngữ pháp của Phạm Văn Hải (“Tìm hiểu tiếng Việt - Tiếng kèm” trên viethoc.org)
    Dream as if you'll live forever, live as if you'll die today.

  6. #6
    Vượt ngàn trùng sóng vntruongson has a brilliant future vntruongson has a brilliant future vntruongson has a brilliant future vntruongson has a brilliant future vntruongson has a brilliant future vntruongson has a brilliant future vntruongson has a brilliant future vntruongson has a brilliant future vntruongson has a brilliant future vntruongson has a brilliant future vntruongson has a brilliant future vntruongson's Avatar
    Ngay tham gia
    Aug 2008
    Bài viết
    1,351
    Rep Power
    32

    Tài liệu tham khảo

    1. Bùi Đức Tịnh (1952). Văn phạm Việt Nam. Sài Gòn: P. Văn Tươi.
    2. Bulteau B. (1950). Cours d'annamite. Paris: Larouse.
    3. Bưxtrov I.X., Nguyễn Tài Cẩn, Xtankêvich N.V. (1975). Ngữ pháp tiếng Việt. Nxb: Nauka (tiếng Nga).
    4. Cadiere L. (1958). Syntaxe de la langue Vietnamienne. Paris: Ecole FranVaise d' Extreme Orient.
    5. Cao Xuân Hạo (1991). Tiếng Việt-Sơ thảo ngữ pháp chức năng (tập 1). Tp Hồ Chí Minh: Nxb Khoa học Xã hội.
    6. Dik S.M. (1989). The Theory of Functional Grammar, Part 1: The Structure of the Clause. Dordrecht, Foris.
    7. Diệp Quang Ban (1972). Xung quanh việc phân biệt câu ghép với câu đơn. T/c Ngôn ngữ, số 4/1972.
    8. Diệp Quang Ban (1980). Một số vấn đề về câu tồn tại trong tiếng Việt ngày nay (Luận án phó tiến sĩ khoa học ngữ văn). Hà Nội: Đại học sư phạm I Hà Nội.
    9. Diệp Quang Ban (1984). Bàn về vấn đề thành phần câu ứng dụng vào tiếng Việt. In trong Những vấn đề ngữ pháp tiếng Việt (Lưu Vân Lăng chủ biên). Hà Nội: Nxb Khoa học Xã hội.
    10. Diệp Quang Ban (1987). Câu đơn tiếng Việt. Hà Nội: Nxb Giáo Dục.
    11. Diệp Quang Ban (1989). Ngữ pháp tiếng Việt phổ thông, tập 2. Hà Nội: Nxb ĐH và THCN.
    12. Diệp Quang Ban (2000). Thử điểm qua việc nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt trong nửa thế kỉ qua. T/c Ngôn ngữ, số 9/2000, trang 41–47.
    13. Dyvik H.J.J. (1984). Subject or Topic in Vietnamese?. Bergen: University of Bergen.
    14. Đái Xuân Ninh (1973). Có nên xem "Câu đơn có trạng ngữ" là một kiểu câu ghép không?. T/c Ngôn ngữ, số 3/1973, trang 49–55.
    15. Đinh Văn Đức (1986). Ngữ pháp tiếng Việt: Từ loại. Hà Nội: Nxb ĐH và THCN.
    16. Emeneau M.B. (1951). Studies in vietnamese (annamese) grammar. Barkeley and Los Angeles.
    17. Gage William W. & Jackson Merrill H. (1953). Verb Construction in Vietnamese. In: Southeast Asia Program. Data Paper N.9 mineographed. Itcatha, New York: Department of Far Eastern Studies, Cornell University.
    18. Givón T. (1984). Syntax, a functional-typological introduction (volume 1). Amsterdam/Philadenlphia: John Benjamins publishing company.
    19. Hoàng Trọng Phiến (1980). Ngữ pháp tiếng Việt: Câu. Hà Nội, Nxb ĐH và THCN.
    20. Hoàng Tuệ, Lê Cận, Cù Đình Tú (1962). Giáo trình về Việt ngữ. Hà Nội: Đại học sư phạm.
    21. Hồng Dân (1972). Nên xem "Câu đơn có trạng ngữ" là một kiểu câu ghép. T/c Ngôn ngữ, số 4/1972, trang 26–36.
    22. Huỳnh Mai (1971). Về vấn đề trạng ngữ trong tiếng Việt. T/c Ngôn ngữ, số 3/1971, trang 13–21.
    23. Jakhontov X.E. (1971). Những nguyên tắc phân xuất thành phần câu trong tiếng Hán. In trong: "Những ngôn ngữ Trung Quốc và Đông Nam Á. M: Nxb Nauka.
    24. Jones Robert B.Jr & Huỳnh Sanh Thông (1960). Introduction to Spoken Vietnamese. Washington D: American Council of Learned Societies.
    25. Le Van Li (1948). Le parler Vietnamien. Paris.
    26. Lê Xuân Thại (1969). Cụm từ và phân tích câu theo cụm từ. T/c Ngôn ngữ, số 2/ 1969, trang 32–42.
    27. Lê Xuân Thại (1995). Câu chủ vị trong tiếng Việt. Hà Nội: Nxb Khoa Học Xã Hội.
    28. Lekomtsev Yu.K. (1964). Cấu trúc câu đơn tiếng Việt. M: Nxb Nauka (tiếng Nga).
    29. Li Ch.N. và Thompson S.A. (1976). Subject and Topic: A new typology of language. In Li (ed): Subject and Topic. New-York: Academic Press, trang 445–455.
    30. Lưu Vân Lăng (1970). Nghiên cứu tiếng Việt theo quan điểm ngữ đoạn tầng bậc có hạt nhân. T/c Ngôn ngữ, số 3/ 1970, trang 35–44.
    31. Lưu Vân Lăng (1987). Phương pháp phân tích theo tầng bậc hạt nhân. (Báo cáo tại Hội nghị ngôn ngữ học quốc tế tại Berlin)
    32. Lyons J. (1968). Introduction to the theoretical linguistics. Cambridge University Press.
    33. Lyons J. (1977). Semantics, 2 volumes. Cambridge University Press.
    34. Lí Toàn Thắng (1981). Giới thiệu lí thuyết phân đoạn câu. T/c Ngôn ngữ, số 1/1981, trang 45–54.
    35. Lí Toàn Thắng, Nguyễn Thị Nga (1982). Tìm hiểu thêm về loại câu "N2-N1-V" . T/c Ngôn ngữ, số 1/1982, trang 21–29.
    36. Nguyễn Kim Thản (1964). Nghiên cứu về ngữ pháp tiếng Việt, tập 2. Hà Nội: Nxb Khoa học Xã hội.
    37. Nguyễn Kim Thản (1977). Động từ trong tiếng Việt. Hà Nội: Nxb Khoa học Xã hội.
    38. Nguyễn Kim Thản (1981). Cơ sở ngữ pháp tiếng Việt. Tp Hồ Chí Minh: Nxb Tổng hợp.
    39. Nguyễn Lân (1956). Ngữ pháp tiếng Việt, Lớp 5, lớp 6, lớp 7. Hà Nội.
    40. Nguyễn Minh Thuyết (1981a). Câu không chủ ngữ với tân ngữ đứng đầu. T/c Ngôn ngữ, số 1/1981, trang 40–46.
    41. Nguyễn Minh Thuyết (1981b). Chủ ngữ trong tiếng Việt. (Luận án phó tiến sĩ khoa học ngữ văn). Lê-nin-grat: LGU (Tiếng Nga).
    42. Nguyễn Minh Thuyết (1988). Cách xác định thành phần câu tiếng Việt. In trong : Tiếng Việt và các ngôn ngữ Đông Nam Á. Hà Nội: Nxb KHXN, trang 207–212.
    43. Nguyễn Minh Thuyết (1994). Thử giải đáp hai vấn đề cơ bản về thành phần câu. In trong Những vấn đề ngữ pháp tiếng Việt hiện đại (Lưu Vân Lăng chủ biên). Hà Nội: Nxb Khoa học Xã hội, trang 57–67.
    44. Nguyễn Minh Thuyết, Nguyễn Văn Hiệp (1998). Thành phần câu tiếng Việt. Hà Nội: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.
    45. Nguyễn Minh Thuyết, Nguyễn Văn Hiệp (1994). Về khái niệm nòng cốt câu. T/c Ngôn ngữ, số 4/1994, trang 51–57.
    46. Nguyễn Minh Thuyết (1995). Các tiền phó từ chỉ thời-thể trong tiếng Việt. T/c Ngôn ngữ, số 2/1995, trang 1–11.
    47. Nguyễn Tài Cẩn (1981). Ngữ pháp tiếng Việt: Tiếng – Từ ghép – Đoản ngữ. Hà Nội: Nxb ĐH và THCN.
    48. Nguyễn Thị Quy (1995). Vị từ hành động tiếng Việt và các tham tố của nó (so sánh với tiếng Nga và tiếng Anh). Tp HCM: NXB Khoa học Xã hội.
    49. Panfilov V.X. (1980). Sự phân đoạn thực tại trong câu tiếng Việt. T/c Những vấn đề ngôn ngữ học, Số 1–1980. (tiếng Nga).
    50. Panfilov V.X. (1984). Các khái niệm xuất phát của cú pháp tiếng Việt. T/c Những vấn đề ngôn ngữ học, Số 1–1984. (tiếng Nga).
    51. Panfilov V.X. (1993). Cơ cấu ngữ pháp tiếng Việt. Saint Peterburg: Trung tâm Đông phương học Saint Peterburg. (tiếng Nga).
    52. Phạm Tất Đắc (1953). Phân tích từ loại và phân tích mệnh đề. Hà Nội.
    53. Phan Khôi (1955). Việt ngữ nghiên cứu. Hà Nội.
    54. Phan Ngọc (1957). Góp ý kiến về từ loại thuật từ (verbe). Tập san Đại học (Văn khoa), số 8. Hà Nội.
    55. Thompson L.C (1965). A vietnamese Grammar. Seattle and London: University of Washington Press.
    56. Trà Ngân (1943). Khảo cứu về tiếng Việt Nam. Hà Nội.
    57. Trần Ngọc Thêm (1985). Hệ thống liên kết văn bản tiếng Việt. Hà Nội: Nxb Khoa học Xã hội.
    58. Trần Trọng Kim, Bùi Kỉ, Phạm Duy Khiêm (1940). Văn Phạm Việt Nam. Sài Gòn: Nxb Tân Việt (in lại lần thứ 4, năm 1960)
    59. Trương Văn Chình & Nguyễn Hiến Lê (1963). Khảo luận về ngữ pháp Việt Nam. Huế: Đại học Huế.
    60. Uỷ ban Khoa học Xã hội (1983). Ngữ pháp tiếng Việt. Hà Nội: Nxb Khoa học Xã hội.
    61. Van Valin R.D (1993). A synopsis of role and reference grammar. Amsterdam/Philadenlphia: John Benjamins publishing company.
    62. Võ Huỳnh Mai (1973). Bàn thêm về phạm vi của trạng ngữ trong tiếng Việt. T/c Ngôn ngữ, số 2/1973, trang 54–62.
    Dream as if you'll live forever, live as if you'll die today.

  7. #7
    Vượt ngàn trùng sóng emcungyeukhoahoc has a reputation beyond repute emcungyeukhoahoc has a reputation beyond repute emcungyeukhoahoc has a reputation beyond repute emcungyeukhoahoc has a reputation beyond repute emcungyeukhoahoc has a reputation beyond repute emcungyeukhoahoc has a reputation beyond repute emcungyeukhoahoc has a reputation beyond repute emcungyeukhoahoc has a reputation beyond repute emcungyeukhoahoc has a reputation beyond repute emcungyeukhoahoc has a reputation beyond repute emcungyeukhoahoc has a reputation beyond repute emcungyeukhoahoc's Avatar
    Ngay tham gia
    Dec 2008
    Bài viết
    4,187
    Rep Power
    75

    Tiếng Việt: Sơ thảo ngữ pháp chức năng

    Ở trên có nói đến cuốn Tiếng Việt-Sơ thảo ngữ pháp chức năng của cố giáo sư Cao Xuân Hạo. Mình đã đọc cuốn này và thấy đây là cuốn sách viết về tiếng Việt mà mình thích nhất!

    xem thêm:

    Giáo sư Cao Xuân Hạo
    http://www.vietgle.vn/diendan/showth...u-Cao-Xuan-Hao

    Tiếng Việt: Sơ thảo ngữ pháp chức năng
    * Tác giả: Cao Xuân Hạo

    * Thông tin xuất bản:
    • Lần in: Tái bản lần thứ nhất (có sửa chữa, bổ sung)
    • Nxb: Giáo dục
    • Nơi in: Công ti in Quảng Nam
    • Giấy phép xuất bản: 276/61-04/CXB do Cục Xuất bản cấp ngày 15 tháng 3 năm 2004
    • In xong và nộp lưu chiểu tháng 8 năm 2004
    • Số trang: 487
    Trích “Lời nói đầu” trong lần in thứ nhất

    Tập sách này trình bày những kết quả của một quá trình nghiên cứu tiếng Việt trên quan điểm ngữ pháp chức năng.
    Một mặt, tác giả nhận thấy quan điểm này có cơ soi sáng những vấn đề mấu chốt của ngành Việt ngữ học, nó cho phép nhận rõ những đặc trưng loại hình học của tiếng Việt, trình bày hệ thống ngữ pháp của nó một cách chân xác và giản dị hơn, lí giải được nhiều sự kiện hơn so với những quan điểm đã vận dụng trước đây. Mặt khác, tác giả hi vọng rằng những sự kiện của tiếng Việt cung cấp được những căn cứ chắc chắn để xác minh và chỉnh lí một số điểm còn mơ hồ hoặc sai lệch trong lí thuyết ngữ pháp chức năng hiện thời.
    "Sơ thảo" không phải là một cách nói khiêm tốn. Là một công trình có tính chất dò đường, sách này không có tham vọng trình bày một hệ thống hoàn chỉnh, bao quát hết các vấn đề của tiếng Việt. Trong sách còn có nhiều điều mới chỉ được phác thảo, có nhiều vấn đề còn bị bỏ lại hoặc còn để lửng, có nhiều quy tắc được nêu ra mà chưa rõ phạm vi hiệu lực. Bổ cứu cho những thiếu sót này là công việc của tương lai.
    Tuy vậy tác giả cũng hi vọng rằng những phát hiện còn ít ỏi và ngay cả những sai lầm nữa trong cuốn sách này cũng sẽ có ích ít nhiều cho những bạn đồng nghiệp đang tìm hướng đi trên con đường nghiên cứu và giảng dạy tiếng Việt.
    (...)
    Trích “Lời nói đầu” trong lần in năm 2004

    (...) sau khi cuốn sách ra đời, tôi càng ngày càng nhận thức được một cách rõ ràng rằng nó có một nhược điểm rất lớn mà khi biên soạn tôi chưa ý thức được: nó có nhiều tiền giả định sai lầm, và do đó hoàn toàn chưa phù hợp với tình hình thực tế của ta. Nó đòi hỏi người đọc một siêu ngôn ngữ chung cho những người đã từng đọc qua một vài cuốn sách cũ có tính chất khai tâm của những tác giả kinh điển như F. de Saussure hay E. Sapir, mà về sau, kể cho đến bây giờ, đã có tới hàng ngàn cuốn sách phổ thông trình bày lại, dưới những hình thức có bổ sung và đổi mới, cho lớp trẻ học.
    (...) tôi đã xem lại bản thảo cũ in từ cách đây 13 năm, không phải để sửa lại cho hay hơn, mà trái lại, chỉ để hiệu chỉnh những chỗ sai sót hay những cách trình bày thiếu minh xác, cốt sao phản ánh cho thật trung thành những ý nghĩ đã hình thành lúc viết ra với sự góp ý của tập thể – theo đúng ý nguyện của những người biên tập (đều là những người đã tham gia xây dựng nền tảng lí luận của cuốn sách kể từ năm 1985), vốn nhất trí với nhau mà nghĩ rằng tốt hơn cả là phản ánh cho đúng một giai đoạn đã qua nhưng chưa lỗi thời, của một lí thuyết đã được xây dựng một cách công phu trong một không khí cộng tác chân thành, và đã có ích cho bản thân tôi cũng như cho họ trên con đường tìm hiểu linh hồn của tiếng Việt.
    (...)
    MỤC LỤC

    Lời nói đầu
    Lời nói đầu cho lần xuất bản năm 2004
    Phần thứ nhất
    DẪN LUẬN MẤY VẤN ĐỀ LÍ THUYẾT CHUNG
    1. Ngữ pháp chức năng là gì?
    2. Các mô hình lí thuyết ba bình diện trong ngôn ngữ học hiện đại
    3. Câu
    3.1. Câu là gì?
    3.2. Câu và các đơn vị của ngôn ngữ
    4. Cấu trúc chủ vị
    4.1. Khái niệm chủ ngữ ngữ pháp
    4.2. Từ đề-thuyết đến chủ-vị
    5. Cấu trúc đề-thuyết trong ngôn ngữ học hiện thời
    5.1. Vấn đề vị trí của cấu trúc đề-thuyết
    5.2. Cái "cũ" và cái "mới", cường điệu và tương phản
    6. Cấu trúc nghĩa của câu
    6.1. Cấu trúc tham tố
    6.2. Các loại câu xếp theo cấu trúc nghĩa
    6.3. Tình thái
    6.4. Nghĩa và sở chỉ
    7. Vài nét về dụng pháp
    7.1. Sở chỉ của câu và các yếu tố chỉ xuất
    7.2. Cấu trúc thông báo, tiêu điểm và vế tương phản
    7.3. Tiền ước, tiền giả định và hàm ngôn
    7.4. Những hành động ngôn từ
    Phần thứ 2
    CÂU TRONG TIẾNG VIỆT
    Chương I: CẤU TRÚC CÚ PHÁP CƠ BẢN
    1. Cái gì làm cho một câu nói thành câu?
    1.1. Cấu trúc cơ bản của câu
    1.2. Sở biểu lô-gích của câu
    2. Đề và thuyết trong câu trần thuật
    2.1. Định nghĩa và phân loại đề
    2.2. Đề và các chức năng xoay quanh vị ngữ
    3. Những thuộc tính ngữ pháp của đề
    3.1. Vị trí của đề
    3.2. Tính xác định
    3.3. Thuộc tính cú pháp của đề
    3.4. Những mối quan hệ về nghĩa giữa đề và thuyết
    4. Những phương tiện đánh dấu sự phân chia đề và thuyết trong câu
    4.1. Thì
    4.2. Những phương tiện bổ sung để phân biệt đề và thuyết
    5. Vấn đề cấu trúc cơ bản của câu trong các sách vở viết về tiếng Việt
    Chương II: CÁC KIỂU CẤU TRÚC CÂU &danh; CÂU TRONG VĂN BẢN (NGÔN BẢN)
    1. Câu chỉ có phần thuyết trên bề mặt
    2. Cấu trúc của các câu trần thuật có hai phần đề và thuyết
    2.1. Câu một bậc
    2.2. Câu hai bậc trở lên
    3. Những yếu tố biểu thị tình thái của câu trong cấu trúc câu cơ bản
    3.1. Những yếu tố tình thái làm thành đề của câu
    3.2. Những yêú tố tình thái được xử lí như một phần thuyết
    3.3. Những yếu tố tình thái khác của câu
    3.4. Khẳng định và phủ định
    4. Những phương tiện ngôn ngữ học có tác dụng liên kết câu với văn bản (ngôn bản)
    4.1. Câu ngôn bản và câu phi ngôn bản
    4.2. Các yếu tố hồi chỉ và khứ chỉ
    4.3. Các kết tố ("liên từ") cấp câu
    5. Câu ghép
    6. Câu đặc biệt
    6.1. Thán từ
    6.2. Hô ngữ và ứng ngữ
    6.3. Tiêu đề
    Chương III: PHÂN LOẠI CÂU THEO LỰC NGÔN TRUNG VÀ THEO NGHĨA BIỂU HIỆN
    1. Các loại hành động ngôn trung
    1.1. Câu nghi vấn
    1.2. Câu trần thuật có những giá trị ngôn trung được đánh dấu
    1.3. Câu ngôn hành
    2. Phân loại câu theo nghĩa biểu hiện của khung vị ngữ
    2.1. Ba loại nghĩa biểu hiện cơ bản
    2.2. Câu chỉ hành động
    2.3. Câu chỉ quá trình
    2.4. Câu chỉ trạng thái
    2.5. Câu chỉ quan hệ
    THƯ MỤC

    xem thêm:
    Giáo sư Cao Xuân Hạo
    http://www.vietgle.vn/diendan/showth...u-Cao-Xuan-Hao
    Lần sửa cuối bởi emcungyeukhoahoc, ngày 08-01-2013 lúc 06:06 PM.
    I am not a scientist. I am, rather, an impresario of scientists.

+ Trả lời Chủ đề

Các Chủ đề tương tự

  1. Trả lời: 4
    Bài viết cuối: 20-02-2013, 10:41 AM
  2. Trả lời: 0
    Bài viết cuối: 19-01-2012, 12:12 PM
  3. Ngữ pháp tiếng Việt
    Bởi bagiahonnhien trong diễn đàn Ngữ pháp - Ngữ âm - Ngữ nghĩa
    Trả lời: 4
    Bài viết cuối: 12-08-2011, 11:52 PM
  4. Tìm hiểu về chữ "mỗi" trong ngữ pháp tiếng việt
    Bởi takun1905 trong diễn đàn Từ ngữ
    Trả lời: 2
    Bài viết cuối: 08-03-2011, 06:25 AM
Quyền viết bài
  • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
  • Bạn Không thể Gửi trả lời
  • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
  • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình