+ Trả lời Chủ đề

Chủ đề: Sách nghiên cứu

Trang 1 của 5 1 2 3 ... CuốiCuối
Kết quả 1 đến 10 của 42
  1. #1
    Vượt ngàn trùng sóng yenminh0210 has a brilliant future yenminh0210 has a brilliant future yenminh0210 has a brilliant future yenminh0210 has a brilliant future yenminh0210 has a brilliant future yenminh0210 has a brilliant future yenminh0210 has a brilliant future yenminh0210 has a brilliant future yenminh0210 has a brilliant future yenminh0210 has a brilliant future yenminh0210 has a brilliant future yenminh0210's Avatar
    Ngay tham gia
    Apr 2009
    Bài viết
    3,705
    Rep Power
    29

    Sách nghiên cứu

    GÓC NHÌN BÁT QUÁI

    Nhà văn, nhà báo Nguyễn Xuân Cang đã xuất bản nhiều tiểu thuyết, truyện vừa, biên khảo và được Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật năm 2012.

    Góc nhìn bát quái (NXB Văn hóa Văn nghệ) là tập sách mới nhất của ông được viết từ góc nhìn của một người nghiên cứu về Kinh Dịch.
    Từ Kinh Dịch, Xuân Cang nghiên cứu về số phận của nhiều nhà văn, nhân vật nổi tiếng, ông cho rằng: “Con người có số phận, số phận ấy hình thành trong giờ phút ta lọt lòng mẹ. Số phận ấy đi với ta suốt đời, làm nên tính cách ta, tâm hồn ta, phong độ ta, từng thời của ta, nhiều hành động của ta có sự xui khiến của số phận. Văn chương của nhà văn là bản sao của hành trình số phận nhà văn”. Thế nhưng ở đây, ông không xét họ theo lá số tử vi như ta đã từng biết mà từ am hiểu, nghiên cứu về Kinh Dịch.

    Theo tác giả, “Kinh Dịch là một học thuyết của phương Đông nghiên cứu về sự sinh thành và biến đổi của vũ trụ và xã hội loài người. Kinh là học thuyết. Dịch là biến đổi. Kinh Dịch bao trùm mọi sự vật trong vũ trụ và trong đời sống. Kinh Dịch chỉ dẫn cho ta mọi đường đi nước bước, làm theo Kinh Dịch thì tồn tại và thăng tiến. Kinh Dịch trình diễn bằng một thứ ngôn ngữ biểu tượng. Hàng nghìn bộ sách đã nghiên cứu Kinh Dịch nhưng chưa khám phá hết. Kinh Dịch đến với người Việt ta từ bao giờ không ai biết, nhưng thể hiện một cách phong phú trong ca dao, tục ngữ của người Việt ta. Hóa ra người Việt đã lưu giữ một Dịch học bất thành văn trong kho tàng chuyện cổ, ca dao tục ngữ, trong lối sống, trong ứng xử minh triết hàng ngày”.

    Điều hấp dẫn là tuy đề tài khô khan, khó hiểu nhưng tác giả diễn ra rành mạch, giúp ta dễ tiếp thu. Chẳng hạn, về cái chết của nhà thơ Cao Bá Quát, lâu nay sử sách ghi ông chết chém, nhưng căn cứ vào “Hà Lạc”, nhà văn Xuân Can khẳng định không phải vậy. Ông lý giải như sau: “Sau những tai ương dồn dập, thì ông Cao vẫn là “con rồng ẩn dưới hang” đúng như mệnh của mình. Những năm sau đó cũng không có tín hiệu chết. Năm thì hòa đồng với người dưới ánh mặt trời, chỉ khác là hòa đồng với người họ hàng, làm khách nơi rừng núi. Năm thì nguồn thơ vẫn như mạch nước dưới giếng, chỉ tiếc là không được dùng. Phải đến năm Nhâm Tuất (1862) mới có tín hiệu chết. Năm này ông được quẻ Trạch Thủy Khốn hào 4: Khốn là nguy khốn. Lời hào 4 nói rằng: Bị cỗ xe bằng kim khí chặn (nên nguy khốn), có điều ân hận đấy, nhưng được trọn vẹn về sau. Lại còn xung khắc Can Chi nữa: Tuổi Mậu Thìn xung khắc với năm Nhâm Tuất (Mậu Thổ khắc Nhâm Thủy, Thìn Tuất tương xung) gọi là Thiên khắc Địa xung. Đấy là nói trong tín hiệu quẻ hào. Còn trong hiện thực, chúng tôi nhận thấy có đến hơn 30 bài thơ tả cảnh khốn cùng, nơi rừng núi, tâm trạng cô đơn, lo buồn, ẩn nhẫn, chắc chắn được sáng tác trong thời gian ông trốn lánh”.
    Sau đó, căn cứ vào thơ của cao Bá Quát, ông kết luận: “Trong bài thơ có địa danh (thôn) Đồng Tỉnh (xã) Nghĩa Trụ, nơi đây có nhà của Phạm Văn Chính là bạn thân cao tuổi của Cao Bá Quát. Rất có thể đây cũng là một trong những nơi ẩn náu đầu tiên sau sự kiện Mỹ Lương”.
    Không chỉ về Cao Bá Quát mà còn nhiều nhân vật khác cũng được “khám phá” như vậy. Do am hiểu về văn học nên ông có nhiều dẫn chứng về thơ, văn của các nhân vật đó. Nhờ vậy, ở một góc độ khác, khi đọc Góc nhìn bát quái, ta còn có cảm tưởng như đọc tập sách văn chương.
    T.P (phunuonline)

  2. #2
    Vượt ngàn trùng sóng yenminh0210 has a brilliant future yenminh0210 has a brilliant future yenminh0210 has a brilliant future yenminh0210 has a brilliant future yenminh0210 has a brilliant future yenminh0210 has a brilliant future yenminh0210 has a brilliant future yenminh0210 has a brilliant future yenminh0210 has a brilliant future yenminh0210 has a brilliant future yenminh0210 has a brilliant future yenminh0210's Avatar
    Ngay tham gia
    Apr 2009
    Bài viết
    3,705
    Rep Power
    29

    Re: Sách nghiên cứu

    NGUYỄN TRƯỜNG TỘ VỚI TRIỀU ĐÌNH TỰ ĐỨC

    Nguyễn Trường Tộ với triều đình Tự Đức (NXB Trẻ) là tác phẩm nghiên cứu công phu của học giả Nguyễn Đình Đầu. Về nhân vật lẫy lừng Nguyễn Trường Tộ đến nay vẫn còn có nhiều ý kiến trái chiều.

    Nhà nghiên cứu Trần Hữu Tá cho rằng: “Bi kịch của Nguyễn Trường Tộ, ngẫm ra là một nghịch lý khó tin nhưng có thật. Yêu nước nhưng không được giúp nước vượt qua đại họa ngoại xâm; thực sự có tài năng xuất chúng nhưng vấp phải vật cản quá lớ n- sự trì trệ bảo thủ, dị ứng với chủ trương duy tân, tự cường của triều đình Tự Đức và sự nghi ngờ dai dẳng của họ với những người tin theo Kitô giáo. Bi kịch lớn lao ấy bình thường ra có thể nhấn sâu những con người nặng lòng với đất nước vào tình trạng trầm cảm, u uất, bế tắc. Nhưng với Nguyễn Trường Tộ thì không. Ông đã bộc lộ một phẩm chất đáng tôn trọng: sự kiên trì nhẫn nại - nhẫn nại đến mức phi thường”.

    Chúng ta có thể chia sẻ suy nghĩ xác đáng này qua tập sách Nguyễn Trường Tộ với triều đình Tự Đức của Nguyễn Đình Đầu. Ở đó tác giả tập trung vào khía cạnh quan hệ giữa Nguyễn Trường Tộ với triều đình Tự Đức từ các tư liệu lịch sử đáng tin cậy. Chẳng hạn, các di thảo được trích dẫn, trong đó có các bản điều trần gửi lên triều đình như bài trừ giặc bể; kế hoạch nội công ngoại kích để thu hồi 6 tỉnh Nam kỳ; bổ sung kế hoạch sai sứ đi Tây và đánh úp Gia Định; về việc giao tiếp với người nước ngoài;về việc gởi học sinh sang Singapore học sinh ngữ; về tu chỉnh võ bị v.v….
    Thật thú vị khi ta biết Nguyễn Trường Tộ đã từng viết: “Hiện nay tình hình trong nước rối loạn... tiền của sức lực của dân đã kiệt quệ, việc cung ứng cho quân binh đã mệt mỏi, trong triều đình quần thần chỉ làm trò hề cho vui lòng vua, che đậy những việc hư hỏng trong nước, ngăn chặn những bậc hiền tài, chia đảng lập phái khuynh loát nhau, những việc như vậy cũng đã nhiều; ngoài các tỉnh thì quan tham lại nhũng xưng hùng xưng bá tác phúc tác oai, áp bức tàn nhẫn kẻ cô thế, bòn rút mỡ dân, đục khoét tuỷ nước, việc đó đã xảy ra từ lâu rồi. Những kẻ hận đời ghét kẻ gian tà, những kẻ thất chí vong mạng, phần nhiều ẩn núp nơi thảo dã, chính là lúc Thắng, Quảng sẽ thừa cơ nổi dậy. Thế mà sao đối ngoại thì không có cách nào để động đến một mảy may lông của quân Pháp, cũng chẳng thuyết phục được ai để giải vây cho, lại đi tàn sát dân mình, giận cá chém thớt, khiến cho dân bị cái hại “cháy nhà vạ lây”. Thật đúng như câu nói: “đào ao đuổi cá”, “nối giáo cho giặc”. Cây cối trước hết tự nó hủ mục sau mới bị sâu đục; nước mình trước hết không biết tự giữ thể diện thì người ta mới khinh mình; dân loạn bên trong, rồi kẻ địch mới nhân đó mà vào. Như thế loạn không phải chỉ từ bên ngoài mà ở ngay trong nước vậy. Than ôi! Dân chúng phụng sự quan trên, đóng thuế nạp tô, để mong được sống yên thân, thế mà bây giờ lại lấy những thứ nuôi sống người đó để làm hại người, nỡ khiến dân chúng vấp phải họa binh đao, nỡ tranh giành cái nhỏ mà bỏ cái lớn, cũng như muốn bảo tồn cành lá mà lại đem đẵn cả cội gốc. Cho nên mới nói: không sợ thế giặc ngang tàng mà sợ lòng người rời rạc. Lòng người đã rời rạc, đã muốn chóng mất, thì dù có thành trì bằng kim loại, có ao nước sôi cũng phải bỏ mà chạy, ai ở đó chịu chết mà giữ cho!”.
    Dù việc làm của Nguyễn Trường Tộ bị trở ngại như ta đã biết, nhưng ta không thể không chia sẻ với nỗi niềm của một trí thức lớn. “Người xưa xét người không xét ở thành bại mà xét ở chỗ có hay không có tấm lòng. Có lòng mà gặp thời đắc dụng là điều may. Có lòng mà gặp thời không tốt, đến phải cô quạnh không chỗ nương thân lại còn mắc tội là điều rất không may. Nhưng nếu lấy điều khoan dung nhân hậu mà xét, thì nhìn vào lầm lỗi của một người có thể biết được lòng nhân hậu của người đó”.
    Từ các tài liệu đáng tin cậy, tập sách Nguyễn Trường Tộ với triều đình Tự Đức của nhà ngiên cứu Nguyễn Đình Đầu đã giúp bạn đọc thấy được phần nào chân dung đặc biệt của Nguyễn Trường Tộ.

    N.L (phunuonline)

  3. #3
    Vượt ngàn trùng sóng yenminh0210 has a brilliant future yenminh0210 has a brilliant future yenminh0210 has a brilliant future yenminh0210 has a brilliant future yenminh0210 has a brilliant future yenminh0210 has a brilliant future yenminh0210 has a brilliant future yenminh0210 has a brilliant future yenminh0210 has a brilliant future yenminh0210 has a brilliant future yenminh0210 has a brilliant future yenminh0210's Avatar
    Ngay tham gia
    Apr 2009
    Bài viết
    3,705
    Rep Power
    29

    Re: Sách nghiên cứu

    Ra mắt sách về trang phục VN thời phong kiến


    ‘Ngàn năm áo mũ’ là công trình nghiên cứu trang phục Việt Nam công phu của nhà nghiên cứu trẻ tuổi Trần Quang Đức.
    Cuốn sách dựng lại bức tranh trang phục Việt Nam trong cung đình và trang phục dân gian trong khoảng một nghìn năm từ thời Lý đến thời Nguyễn (1009 - 1945).
    "Ngàn năm áo mũ" chỉ ra sự khác biệt nhất định trong sự phát triển của trang phục cung đình và dân gian. Trang phục cung đình luôn được quy định nghiêm ngặt và có nhiều đổi thay qua các triều đại. Trong khi đó, trang phục dân gian Việt Nam thời phong kiến tự chủ nhìn chung khá ổn định về kiểu dáng và hình thức.
    Cuốn sách lý giải nguyên do và phân tích mức độ mô phỏng trang phục Trung Hoa trong quy chế trang phục của các triều đại Việt Nam. Coi thể chế và văn hiến Trung Hoa là nguồn tham khảo chính thống, chế độ trang phục cung đình Việt Nam đã chủ động mô phỏng trang phục của Trung Quốc để có được sự uy nghiêm, chuẩn mực tương tự. Tuy nhiên, ở mỗi thời kỳ, trang phục cung đình Việt Nam đều có những nét cách tân độc đáo, làm tôn thêm vẻ uy nghi, sang trọng của vua quan nước Việt.
    "Ngàn năm mũ áo" đã mô tả chi tiết, tỉ mỉ, sống động nhiều dạng trang phục như bộ Lễ phục Cổn Miện uy nghi của các vị hoàng đế, các bộ Triều phục, Thường phục Lương Quan, Củng Thần, Ô Sa, Bổ phục trang trọng của bá quan, hay Lễ phục Vĩ Địch, Phượng quan lộng lẫy của hoàng hậu...
    Bìa cuốn sách "Ngàn năm áo mũ".

    Trang phục của tầng lớp thường dân phổ biến là kiểu áo giao lĩnh, tứ thân, hay lối ăn mặc cởi trần đóng khố của đàn ông và yếm, váy giản tiện của đàn bà. Cuộc cải cách trang phục dân gian diễn ra năm 1744, khi chúa Nguyễn Phúc Khoát thực thi các sắc lệnh thay đổi toàn bộ triều nghi phẩm phục trong cung đình cũng như ngoài dân gian ở Đàng Trong, cấm tất cả các kiểu áo quần, yếm váy, khăn mũ thời trước, bắt buộc mặc quần chân áo chít (tức áo năm thân, áo dài). Đến thời vua Minh Mạng, lối ăn mặc này được áp dụng cho toàn cõi nước Việt và trở thành trang phục dân gian tiêu biểu của Việt Nam.
    Buổi ra mắt sách "Ngàn năm áo mũ" và giao lưu cùng tác giả diễn ra từ 10h - 12h ngày 27/6 tại Phòng Triển lãm, Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam, 36 Lý Thường Kiệt, Hà Nội. Trần Quang Đức cùng Thạc sĩ Phạm Văn Ánh, Viện Nghiên cứu Văn học Việt Nam và MC - Biên tập viên Nguyễn Hoàng Diệu Thủy - sẽ bàn về quá trình thực hiện nghiên cứu, những đóng góp của cuốn sách đối với nghiên cứu về văn hoá và lịch sử Việt Nam.
    Trần Quang Đức sinh năm 1985 tại Hải Phòng. Năm 2004, khi đang là sinh viên năm thứ nhất Đại học Quốc gia Hà Nội, anh đoạt giải nhất cuộc thi Cầu Hán Ngữ lần thứ ba dành cho sinh viên chuyên ngành tiếng Hán trên toàn thế giới. Năm 2009, anh tốt nghiệp Đại học Bắc Kinh Trung Quốc. Hiện anh là nghiên cứu viên thuộc Viện Nghiên cứu Văn học Việt Nam. Trần Quang Đức đồng thời là dịch giả của các tác phẩm "Trà kinh" (2008), "Chuyện tình giai nhân" (2011) và "Trường An loạn" (2012).
    Song Ngư

  4. #4
    Vượt ngàn trùng sóng yenminh0210 has a brilliant future yenminh0210 has a brilliant future yenminh0210 has a brilliant future yenminh0210 has a brilliant future yenminh0210 has a brilliant future yenminh0210 has a brilliant future yenminh0210 has a brilliant future yenminh0210 has a brilliant future yenminh0210 has a brilliant future yenminh0210 has a brilliant future yenminh0210 has a brilliant future yenminh0210's Avatar
    Ngay tham gia
    Apr 2009
    Bài viết
    3,705
    Rep Power
    29

    Re: Sách nghiên cứu

    Các công dụng của đại học

    Các công dụng của đại học (nguyên tác: The Uses of the University) là tác phẩm nổi tiếng của Clark Kerr - một học giả, một nhà lãnh đạo giáo dục đại học hàng đầu của Hoa Kỳ.

    Quyển sách này được xuất bản lần đầu tiên năm 1963, tập hợp các bài giảng của Clark Kerr tại Harvard năm 1963; cứ mỗi thập niên, ông bổ sung thêm các chương mới và chương cuối được bổ sung năm 2001, hai năm trước khi ông mất. Quyển sách giá trị này vừa được NXB Tri Thức ấn hành qua bản dịch của Tô Diệu Lan.

    Có thể xem Các công dụng của đại học là một trong những quyển sách có tầm ảnh hưởng lớn trong hệ thống giáo dục và phản ảnh sự phát triển thần kỳ của đại học Hoa Kỳ sau Thế chiến thứ hai. Không phải ngẫu nhiên mà cựu chủ tịch Đại học Chicago Hanna H. Gray từ năm 2012 đánh giá “là quyển sách hay nhất về giáo dục đại học Mỹ được viết trong thế kỷ hai mươi”. Và học giả Derek Bok, Chủ tịch Emeritus, Đại học Harvard ghi nhận: “Chưa một quyển sách nào được viết trong quá khứ lại cung cấp một sự mô tả thấu suốt như thế của đại học nghiên cứu hiện đại và cung cấp những lời bình luận sâu sắc như thế về những căng thẳng và vấn đề đặc thù của nó... Những ai muốn hiểu đại học nghiên cứu Hoa Kỳ - quá khứ, hiện tại, và tương lai - phải bắt đầu bằng việc đọc kỹ cuốn sách này.”
    Các công dụng của đại học cung cấp những kiến thức về lịch sử đại học Hoa Kỳ với những vấn đề then chốt, quan trọng nằm trong hệ thống lịch sử giáo dục đại học thế giới xưa và nay. Ở đó, Clark Kerr nghiên cứu về sứ mệnh mới của đại học tạo ra tri thức phục vụ cho nền kinh tế dựa trên tri thức; mô hình tài trợ mới đại học với cơ cấu mới của “đa đại học” v.v…

    “Chúng ta giờ đây đang nhận thức rằng sản phẩm vô hình của đại học, tri thức, có lẽ là nhân tố duy nhất, mạnh mẽ nhất trong nền văn hóa của chúng ta, tác động sự vươn lên và suy tàn của các nghề nghiệp, và ngay cả của các giai tầng xã hội, các khu vực và các quốc gia” như Clark Kerr đã khẳng định.

    P.T (phunuonline)

  5. #5
    Vượt ngàn trùng sóng yenminh0210 has a brilliant future yenminh0210 has a brilliant future yenminh0210 has a brilliant future yenminh0210 has a brilliant future yenminh0210 has a brilliant future yenminh0210 has a brilliant future yenminh0210 has a brilliant future yenminh0210 has a brilliant future yenminh0210 has a brilliant future yenminh0210 has a brilliant future yenminh0210 has a brilliant future yenminh0210's Avatar
    Ngay tham gia
    Apr 2009
    Bài viết
    3,705
    Rep Power
    29

    Re: Sách nghiên cứu

    Đặc khảo về tín ngưỡng thờ gia thần

    Đặc khảo về tín ngưỡng thờ gia thần là tác phẩm mới nhất của hai nhà nghiên cứu Huỳnh Ngọc Trảng và Nguyễn Đại Phúc (NXB Văn hóa Văn nghệ).

    Nhằm giúp người đọc dễ nắm rõ vấn đề, tác giả chia tập sách thành các chương như Tập tục thờ cúng tổ tiên; Táo quân - Nhất gia chi chủ; Các thần độ mạng; Thần bản gia - bản thổ; Các thần linh thượng giới của ngôi dương cơ… Qua đó, ta có được cái nhìn tổng quan về văn hóa thờ tự của người Việt. Điều thú vị là tác giả còn lý giải đặc trưng văn hóa tâm linh của người Việt với nhiều nguồn tư liệu từ sách vở và nghiên cứu điền dã.

    Theo tác giả: “Việc thờ tự tổ tiên ở xứ ta không chỉ là chuẩn mực luân lý mà còn nhằm chỉ rõ "ta là một nhân vị có cội nguồn, chứ không phải là một tay ma cà bông... không có gia phả!". Phụng thờ tổ tiên là một nghĩa vụ của đạo hiếu được chế định trong cổ luật hẳn hoi nên không gian thờ tự năm đời (ngũ đại mai thần chủ) ở mỗi gia đình là một thiết chế cụ thể. Đó là quy phạm của thế gian, còn ở khía cạnh tín ngưỡng, tập hợp vong hồn tổ tiên là một bộ gia thần có công năng chứng giám và phù hộ cho con cháu trong mọi việc làm ăn sinh sống.
    Chính vì vậy, nơi thờ tự tổ tiên là không gian thiêng liêng nhất trong nhà, ở đó diễn ra sự thông linh của con cháu ở trần thế với cõi trên của những người khuất mày khuất mặt. Tín ngưỡng này bắt nguồn từ quan niệm "vạn vật hữu linh" (animism), đó là niềm tin về sự bất tử của linh hồn: thác là thể phách, còn là tinh anh. Thể phách hiểu là vía, tinh anh là hồn. Nhưng còn có niềm tin khác vào sự "kính thành" như Kinh Thư viết đại ý: Trời không thân với ai, chỉ thân với người hay kính(...). Quỷ thần thường không chứng giám cho ai, chỉ chứng giám cho kẻ có lòng thành. Hiểu nôm na là "có thờ có thiêng, có kiêng có lành”.
    Đặc khảo về tín ngưỡng thờ gia thần còn giúp cho người đọc hiểu thêm về rất nhiều nghi thức thờ cúng vốn quen thuộc như các tập tục thờ cúng tổ tiên với quan niệm hiếu của Nho gia pha trộn với Đạo giáo, Phật giáo; thờ táo quân khởi từ quan niệm thờ thần lửa, thần bếp, và quan niệm “nhất gia chi chủ”; thờ các thần độ mạng với quan niệm về các thần bảo hộ việc thai sản...
    Có thể nói, tập sách này đã đáp ứng phần nào nhu cầu tìm hiểu về triết lý, văn hóa thờ gia thần của người Việt xưa nay.

    H.T (phunuonline)

  6. #6
    Vượt ngàn trùng sóng yenminh0210 has a brilliant future yenminh0210 has a brilliant future yenminh0210 has a brilliant future yenminh0210 has a brilliant future yenminh0210 has a brilliant future yenminh0210 has a brilliant future yenminh0210 has a brilliant future yenminh0210 has a brilliant future yenminh0210 has a brilliant future yenminh0210 has a brilliant future yenminh0210 has a brilliant future yenminh0210's Avatar
    Ngay tham gia
    Apr 2009
    Bài viết
    3,705
    Rep Power
    29

    Re: Sách nghiên cứu

    Nỗi oan thì, là, mà

    Dù chỉ bàn về tiếng Việt nhưng khi đã cầm sách trên tay, ta có thể khó dứt ra được. Đó là quyển Nỗi oan thì, là, mà (NXB Trẻ) của nhà ngôn ngữ học Nguyễn Đức Dân.

    Lâu nay, về ý nghĩa các từ “thì, là, mà” ai mà không rõ chức năng của nó. Nay tác giả đưa ra một hội thoại chỉ với một từ“mà” như sau:
    Sinh viên A: Có mỗi từ MÀcũng làm một đề tài luận văn!
    Sinh viên B: nào có khó!
    Sinh Viên A: Hơn nữa, hay gì hay!
    Sinh viên C: Ấy thế mà…
    Câu hỏi đặt ra: “Phân tích cách dùng từ MÀ trong đoạn hội thoại trên. Tìm đặc điểm khái quát của từ MÀ”. Trả lời rốt ráo ắt không dễ chút nào.

    Lại nữa, một bà người nước ngoài đi chợ Đồng Xuân, mấy bàn bán bún ốc riêu chỉ chỏ: “Khiếp, xấu quá! Béo ơi là béo!”. Ai dè, bà này quay lại đốp ngay: “Vâng, các bà thì đẹp!”. Có anh chàng ngốc nọ đi mua 6 con lừa. Ngồi trên lưng cỡi một con, về đến nhà, đếm đi đếm lại anh vẫn thiếu một con. Chị vợ mỉa: “Thôi, xuống đi, thừa một con thì có!”.
    Thử hỏi, tiếng Việt chính xác hay mơ hồ? Đơn giản hay rắc rối?
    Tác giả lại đưa ra mẩu đối thoại: Có anh chàng nha sĩ nọ sang đất nước có cả nửa tỉ người hành nghề, bạn bè nghĩ ắt giàu sụ. Anh này đáp: “Có ai dám hé răng ra mà chữa!”. Vậy mẩu chuyện này nói về chữa răng hay tự do ngôn luận?
    Lại chuyện mẹ chồng dặn con dâu góa chồng: “Số mẹ con mình rủi ro thôi đành cắn răng mà chịu con ạ!”. Dặn vậy những ít lâu sau bà mẹ chồng tằng tịu nọ kia, cô dâu nhắc lại lời khuyên của bà, bà đáp: “Ấy là mẹ dặn con chứ mẹ thìcòn răng đâu mà cắn!”. Rõ ràng, có hai cách hiểu khác nhau. Lại có chuyện đồng âm khiến ta có những cách hiểu không giống nhau: “Đi xe cố vấn, mặc áo chuyên gia, ăn uống qua loa là anh cán bộ”.
    Ta hiểu như thế nào? “Nghĩa thứ nhất: cuộc đời cán bộ thật là sang, vào cỡ cố vấn, chuyên gia mà lại đạo đức và thanh đạm; ăn uống qua loa. Nghĩa thứ hai: cuộc đời cán bộ thật cực khổ”. Xe đạp mà phải cố vấn, mà buộc cho khỏi bể vỏ, nổ lốp. Ăn mặc rách rưới hở cả da thịt (chuyên “da” mà!)”.
    Cái giỏi “chơi chữ” ở đây chắc chắn thuộc về lời ăn tiếng nói của nhân dân nhưng tác giả đã biết “chộp” đúng lúc để minh họa cho sự ngoắc ngoéo của tiếng Việt. Đọc tập Nỗi oan thì, là, mà ta được tiếp cận với nhiều kiểu nói đa nghĩa, lắt léo cực kỳ thú vị của người Việt.
    “Tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời” (P.D). Yêu đã đành, nhưng để thấu hiểu là điều không đơn giản. Trên mặt báo hiện nay, ta thấy vô thiên lủng các từ bị dùng sai, chẳng hạn: “Hỗ trợ người nghèo”. Tác giả phân tích: “Đây là một từ gốc Hán. “Trợ” là “giúp”, còn “hỗ” là “lẫn nhau”.Vậy thì đây là một sự giúp đỡ hai chiều, giúp đỡ qua lại. Nghĩa là cần nói “giúp đỡ người nghèo” chứ sao lại “hỗ trợ người nghèo”? Những ví dụ tương tự còn nhiều khiến ta giật mình và qua đó, có thể “rút kinh nghiệm” tự điều chỉnh…
    Thử đặt câu hỏi đâu là từ “đặc Việt”? Theo nhà ngôn ngữ học Nguyễn Đức Dân, đó là từ “nước” bởi những lý do mà ông lập luận: Người Việt dùng từ nước để chỉ lãnh thổ dân tộc: Nước Việt Nam; “làng nước” để chỉ người cùng làng. “Thú vị là từ làng cũng gắn với “những dải nước lớn” vì người Việt cổ “quần cư quanh những dải nước lớn (cũng như đồng bào miền núi thường quần cư bên bờ suối, bờ sông) mà ngày xưa gọi là LANG và sau này khi tiếng Việt đã có thanh điệu, cơ sở quần cư ấy gọi là LÀNG)…
    Những thông tin có tính chất gợi mở thế này còn nhiều trong Nỗi oan thì, là, mà. Thiết nghĩ, những tập sách như thế này thời nào cũng cần và nhiều người cần, nếu muốn giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt.

    N.V (phunuonline)

  7. #7
    Vượt ngàn trùng sóng yenminh0210 has a brilliant future yenminh0210 has a brilliant future yenminh0210 has a brilliant future yenminh0210 has a brilliant future yenminh0210 has a brilliant future yenminh0210 has a brilliant future yenminh0210 has a brilliant future yenminh0210 has a brilliant future yenminh0210 has a brilliant future yenminh0210 has a brilliant future yenminh0210 has a brilliant future yenminh0210's Avatar
    Ngay tham gia
    Apr 2009
    Bài viết
    3,705
    Rep Power
    29

    Re: Sách nghiên cứu

    “Phá rào” trong kinh tế vào đêm trước Đổi mới

    Sau tập sách Tư duy kinh tế Việt Nam - Chặng đường gian nan và ngoạn mục 1975-1989, “Phá rào” trong kinh tế vào đêm trước Đổi mới (NXB Tri Thức) của GS Đặng Phong vừa ấn hành.

    Tập sách được ghi nhận là tập hợp sử liệu đầy đủ nhất cho đến nay về quá trình chuyển đổi của Việt Nam sang nền kinh tế thị trường.

    Tại sao gọi là “phá rào”?
    Tác giả giải thích: “Ở Việt Nam và cả nước ngoài, giới nghiên cứu thường coi năm 1986 với Đại hội Đảng lần thứ VI là thời điểm bắt đầu công cuộc Đổi mới. Trong thực tế, trước đó nhiều năm đã có hàng loạt mũi đột phá can đảm, gian nan, trầy trật, mưu trí, sáng tạo, mà theo cách gọi thời đó là những cuộc “phá rào”. Phá rào tức là vượt qua những hàng rào về quy chế đã lỗi thời để chủ động tháo gỡ nhiều ách tắc trong cuộc sống, đồng thời cũng góp phần từng bước dẹp bỏ hàng loạt rào cản cũ kỹ để mở đường cho công cuộc Đổi mới.

    Mục tiêu của cuốn sách này là góp phần dựng lại một bức tranh sống động, phong phú về những tìm tòi, tháo gỡ trong thời kỳ “phá rào” đó.
    Nói đến phá rào, trước hết cần trả lời câu hỏi: Hàng rào là những gì? Đó chính là những thể chế, những nguyên tắc của mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung được hình thành ở Liên Xô và sau đó được áp dụng tại hầu hết các nước xã hội chủ nghĩa (XHCN)”.
    Trong tập sách này, GS Đặng Phong đề cập đến các trường hợp “phá rào” của nền kinh tế Việt Nam thời trước Đổi mới ở nhiều lãnh vực. Chẳng hạn, lãnh vực nông nghiệp: bắt đầu từ khoán ở tỉnh Vĩnh Phú cho đến nông trường Sông Hậu; công nghiệp: từ Nhà máy dệt Nam Định đến Nhà máy thuốc lá Vĩnh Hội; phân phối lưu thông: từ Công ty lương thực TP.HCM đến cơ chế một giá và xóa bỏ tem phiếu của tỉnh Long An v.v… Mục tiêu của cuốn sách này là góp phần dựng lại một bức tranh sống động, phong phú về những tìm tòi, tháo gỡ trong thời kỳ "phá rào" đó.
    Từ các trường hợp cụ thể, GS Đặng Phong đã rút ra “những bài học lịch sử từ những mũi đột phá”, đó là: “Xả lũ” chứ không “vỡ bờ”; Sức sống của kinh tế thị trường; Bắt đầu từ cuộc sống, từ dân, từ dưới lên; Những điểm tựa lịch sử; Từ mâu thuẫn đến đồng thuận; Vừa đi vừa mở đường…
    Để làm nên công trình này, tác giả và các cộng sự đã phải dành nhiều thời gian tìm kiếm tư liệu, khảo sát thực tiễn và gặp gỡ nhiều nhân chứng, gặp những người thật, nắm bắt những việc thật. Ngoài ra, tác giả còn cho biết, các đồng nghiệp là những nhà nghiên cứu kinh tế và nghiên cứu lịch sử đã có nhiều đóng góp trực tiếp quý báu như GS.TS. Đỗ Hoài Nam, Giáo sư Trần Đình Bút, Giáo sư Đào Xuân Sâm, Tiến sĩ Lê Đăng Doanh, nhà kinh tế Vũ Quốc Tuấn, Tiến sĩ Trần Đình Thiên, nhà sử học Dương Trung Quốc cùng rất nhiều bạn bè thân thiết trong các ngành khoa học xã hội trong và ngoài nước…

    B.N (phunuonline)

  8. #8
    Vượt ngàn trùng sóng yenminh0210 has a brilliant future yenminh0210 has a brilliant future yenminh0210 has a brilliant future yenminh0210 has a brilliant future yenminh0210 has a brilliant future yenminh0210 has a brilliant future yenminh0210 has a brilliant future yenminh0210 has a brilliant future yenminh0210 has a brilliant future yenminh0210 has a brilliant future yenminh0210 has a brilliant future yenminh0210's Avatar
    Ngay tham gia
    Apr 2009
    Bài viết
    3,705
    Rep Power
    29

    Re: Sách nghiên cứu

    UFO - Bí ẩn về vật thể bay không xác định

    Cuốn sách là những giải đáp về các vật thể bay không xác định mà hàng tỷ người trên thế giới quan tâm.

    Cuốn sách này của tác giả Leslie Kean. Bà là một ký giả điều tra hiện đang sống tại Mỹ, là người đồng sáng lập Liên minh vì tự do thông tin.
    Dựa trên các nguồn tin, tài liệu chính thức được công bố theo Luật tự do thông tin, các báo cáo điển hình đã được chứng thực, các bằng chứng có thật, và vô số các cuộc phỏng vấn với nhân chứng quân sự cũng như dân sự và các nhân viên điều tra của Chính phủ Mỹ trên khắp thế giới, Leslie Kean chứng minh rằng những UFO đã từng xuất hiện thực sự gắn liền với một nền văn minh khác ngoài thế giới.
    Bìa sách cuốn sách UFO.
    Cuốn sách này trả lời những câu hỏi cơ bản về UFO mà rất nhiều người quan tâm. Chúng ta thực sự biết gì về chúng? Liệu thực sự có khả năng một vài vật thể trong số đó đến từ hành tinh khác? Phi công đã bao giờ nhìn thấy chúng chưa? Chính phủ và lực lượng quân sự giải quyết các vụ nhìn thấy chúng như thế nào? Tại sao ở Mỹ lại có quá nhiều lời giễu cợt và phủ nhận UFO đến vậy? Qua lời kể của các nhân chứng, độc giả sẽ được trực tiếp tiếp cận với tài liệu và tự mình đưa ra kết luận khi đã có thông tin.

    Nguyễn PhươngTheo Tri Thức

  9. #9
    Vượt ngàn trùng sóng yenminh0210 has a brilliant future yenminh0210 has a brilliant future yenminh0210 has a brilliant future yenminh0210 has a brilliant future yenminh0210 has a brilliant future yenminh0210 has a brilliant future yenminh0210 has a brilliant future yenminh0210 has a brilliant future yenminh0210 has a brilliant future yenminh0210 has a brilliant future yenminh0210 has a brilliant future yenminh0210's Avatar
    Ngay tham gia
    Apr 2009
    Bài viết
    3,705
    Rep Power
    29

    Re: Sách nghiên cứu

    Hát bội, đờn ca tài tử và cải lương cuối TK19 đầu TK 20

    Trên bước đường mở cõi về phương Nam, một dấu ấn văn hoá độc đáo của Nam bộ đã được hình thành.

    Dấu ấn đó được cho là kết quả của cuộc “hôn phối” giữa nhã nhạc cung Huế với âm nhạc dân gian, dân ca Trung bộ, Nam bộ. Công trình biên khảo Hát bội, đờn ca tài tử và cải lương cuối TK 19 đầu TK 20 (NXB Văn hóa Văn nghệ TP.HCM) của Nguyễn Lê Tuyên - Nguyễn Đức Hiệp đã góp phần lý giải và chứng minh luận điểm đó.
    Được biết, tác giả Nguyễn Lê Tuyên, hiện Giảng viên của trường Đại học Quốc gia Úc; Nguyễn Đức Hiệp là nhà nghiên cứu văn hóa người Úc gốc Việt. Ngoài sự kế thừa các công trình nghiên cứu trong nước, hai tác giả còn tiếp cận được một số nguồn tài liệu đáng tin cậy hiện được lưu trữ tại Bảo tàng và Thư viện ở Paris (Pháp). Chính nhờ nguồn tài liệu đó, họ đã góp phần hé mở sự định hình và phát triển của hát bội, đờn ca tài tử và cải lương ở Nam bộ.
    Chẳng hạn, tài liệu về Hội chợ Thế giới Paris năm 1900. Lúc đó, tài tử Nguyễn Tống Triều cùng ban nhạc tài tử Nam bộ được mời sang biểu diễn và hòa tấu cho Cléo de Mérode múa; nhà nhạc học Julien Tiersot đã ký âm Vũ khúc Đông Dương - được xem là bản ký âm đầu tiên của đờn ca tài tử trên năm dòng kẻ theo kỹ thuật thanh nhạc Tây phương. Sự kiện quan trọng này, nhà văn Maurice Talmeyr đã viết chi tiết:


    “Tôi đến dự buổi trình diễn ở Nhà hát Đông Dương, được xây dựng chu toàn đầy kỹ lưỡng, tráng lệ và không phải là không có phong cách. Ở sân khấu, trên tấm màn fond vẽ một phong cảnh to lớn làm binh phong có những nhân vật khác thường đang chạy trốn trong cảnh trí thiên nhiên ảo tưởng dị thường. Ở hai bên sân khấu, nơi mà xưa kia các ngài chức vị ngồi trong rạp hát xưa của chúng ta, có mười sáu nhạc công người An Nam, ngồi dưới đất khoanh chân, và chơi giữa hai đầu gối của họ, các dụng cụ âm nhạc chua chát và lạ lùng. Họ trình diễn vở múa “Bague enchantée” (Chiếc nhẫn kỳ diệu)…
    Dàn nhạc thì quả thật đúng là An Nam. Bạn không thể lầm được, cũng như không thể lầm về diện mạo của những nhạc sĩ, và nhất là diện mạo của ông trưởng đoàn của họ. Ông mặc áo dài màu đen, người mảnh khảnh đến ngạc nhiên, mảnh khảnh như cây vĩ (archet) sống động, với một hình thù như một ngà voi già và cong. Nhưng mà ông ta nói được tiếng Pháp và cho tôi biết về những nhạc sĩ của đoàn ông ta. Tất cả các nhạc sĩ cũng mặc áo dài đen như ông. Có tám người chơi đàn tranh, hay đàn guitare mười sáu dây, một người chơi đàn kim (kìm), hay đàn guitare bốn dây (xưa là 4 dây, ngày nay đàn kìm chỉ có 2 dây), một người chơi đàn co (cò), hay đàn violon hai dây, hai người chơi đàn doc (độc huyền cầm/ đàn bầu) hay violon một dây, một người thổi tieu (tiêu) hay sáo, một người chơi đàn ty (tỳbà) hay guitare chơi với móng tay, một người chơi liou (?) hay đàn violon có vĩ dài (grand archet), một người chơi đàn tam (tam) hay mandoline chơi bằng cách bấm ở đầu một phím lõm (corne)...
    Ông trưởng đoàn, rất chiều lòng, giải thích cho tôi tất cả các nhạc cụ này, và với các ngón tay dài và nhọn của ông ta, ông đã viết tên những nhạc sĩ của các nhạc cụ này lên tờ giấy trong cuốn sổ”.
    Rõ ràng, ngay từ đầu thế kỷ 20 loại hình âm nhạc đại chúng đờn ca tài tử và cải lương đã thu hút người Pháp. Về tên gọi “tài tử”, Nguyễn Lê Tuyên và Nguyễn Đức Hiệp cho biết từ điển Đại Nam quấc âm tự vị (in năm 1895 và 1896) của Huình Tịnh Paulus Của, Hán - Việt từ điển giản yếu (thập niên 1930) của Đào Duy Anh, Việt Nam tự điển của Hội Khai trí Tiến đức… đều định nghĩa xoay quanh “người có tài”. Trước đó, Nguyễn Du cũng viết “dập dìu tài tử giai nhân”, Nguyễn Công Trứ thì “tài tử, giai nhân tế ngộ nan”…
    Khi nghiên cứu, biên soạn tập sách này, hai tác giả tâm sự: “Mục đích của chúng tôi là đóng góp vào công cuộc nghiên cứu và tôn vinh loại hình Âm nhạc tài tử Nam bộ - hiện đang được tổ chức UNESCO xét duyệt để trở thành Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của thế giới”.


    T.P (phunuonline)

  10. #10
    Vượt ngàn trùng sóng yenminh0210 has a brilliant future yenminh0210 has a brilliant future yenminh0210 has a brilliant future yenminh0210 has a brilliant future yenminh0210 has a brilliant future yenminh0210 has a brilliant future yenminh0210 has a brilliant future yenminh0210 has a brilliant future yenminh0210 has a brilliant future yenminh0210 has a brilliant future yenminh0210 has a brilliant future yenminh0210's Avatar
    Ngay tham gia
    Apr 2009
    Bài viết
    3,705
    Rep Power
    29

    Re: Sách nghiên cứu

    'Bài học điện ảnh', lời khuyên về lối tư duy thông minh


    Theo tác giả David Mamet, đạo diễn nên rèn thói quen tư duy súc tích để cô đọng những chi tiết đắt giá, cảm xúc nhất trong từng cảnh phim.
    Tên sách: Bài học đạo diễn
    Tác giả: David Mamet
    Dịch giả: Nguyễn Lệ Chi
    Đại học Hoa Sen và NXB Hồng Đức ấn hành
    Giá bìa: 72.000 đồng
    Cuốn sách Bài học đạo diễn ra đời dựa trên nội dung những bài giảng của David Mamet tại Học viện điện ảnh, Đại học Columbia mùa thu năm 1987. Lúc đó, Mamet vừa hoàn tất việc đạo diễn bộ phim thứ hai và môn học ông giảng dạy có tên Phương pháp đạo diễn.
    "Do vậy cũng giống như một phi công đã được hành nghề nhưng mới chỉ có 200 giờ bay, tôi là một nhân vật nguy hiểm nhất. Đương nhiên tôi cũng không đến nỗi chỉ có những cách nghĩ và những thủ pháp của kẻ mới bước vào nghề, tuy vậy vẫn chưa đủ kinh nghiệm để đạt tới trình độ có thể lý giải được những thứ mà mình không biết", ông khiêm tốn viết trong Lời mở đầu cuốn sách.
    Bìa sách "Bài học đạo diễn".

    "Bài học điện ảnh" gồm sáu chương: Kể chuyện, Ống kính cần được đặt ở đâu?, Kết cấu kịch bản và kiến trúc văn hóa phản truyền thống, Bài học của đạo diễn, Một bộ phim có liên quan đến "lợn", phần Kết luận đi kèm với cùng phụ lục giúp độc giả hiểu thêm về sự nghiệp sân khấu - điện ảnh của David Mamet.
    Với lối viết pha trộn giữa những lý luận dựa trên nền tảng kiến thức sâu rộng về điện ảnh, văn học, sân khấu song song với trải nghiệm thực tế, Mamet mang đến nhiều cách lý giải thú vị về các công đoạn thực hiện một bộ phim. Cách trình bày của ông về các vấn đề làm phim cũng rõ ràng, súc tích, theo lối tư duy hiện đại giúp người trong nghề lẫn độc giả hình dung được công việc bếp núc của người đạo diễn.
    Theo Mamet, khi đạo diễn bắt tay thực hiện một bối cảnh phim, anh ta không nên chỉ nghĩ đến vấn đề trang hoàng cho bối cảnh đó như thế nào. Mà điều quan trọng trước tiên, anh ta phải hiểu bối cảnh này mang ý nghĩa như thế nào. Khi nắm rõ được mục đích, ý nghĩa công việc mình đang làm, người đạo diễn sẽ tiết kiệm được thời gian, cắt bỏ những cái thừa thãi hoặc vô tình bị cuốn vào chuyện chỉ dựng bối cảnh cho giống thật mà thiếu chiều sâu nội dung.
    Ông cho rằng, sáng tác kịch bản là một kỹ thuật lấy logic làm cơ sở. Nó bao gồm những câu hỏi rất cơ bản: Nhân vật chính là gì? (what). Cái gì đang cản trở anh ta thỏa mãn nhu cầu của mình? (what). Nếu anh ta không đạt được những nhu cầu đó, sẽ xảy ra chuyện gì? (what). Nếu các nhà biên kịch tôn trọng quy tắc trình tự logic giống như các câu hỏi trên, chắc chắn rằng họ sẽ có một kết cấu mang tính logic rất mạnh mẽ, một đề cương câu chuyện có thể phát triển và xây dựng được.
    David Mamet tên đầy đủ là David Alan Mamet, sinh ngày 30/11/1947 tại Chicago, Mỹ. Ông là thạc sĩ chuyên ngành nghệ thuật điện ảnh của Học viện Nghệ thuật diễn xuất và nghe nhìn, trực thuộc Đại học Syracus U.New York (1989), thạc sĩ nghệ thuật điện ảnh thuộc Viện nghiên cứu sáng tác điện ảnh, Đại học New York (1992). Giảng viên Học viện điện ảnh thuộc Đại Học Columbia, Mỹ.
    David Mamet được xem là nhà lý luận phê bình điện ảnh, nhà biên kịch đương đại nổi tiếng của điện ảnh và kịch nói Mỹ. Kịch bản điện ảnh đầu tiên của ông là The Postman always Rings Twice (1981). Sau đó là một loạt kịch bản như: The Verdict (1982), About last Night (1986), The Untouchables (1987), Things Change (1988)... Trong đó, The Verdict About last Night được đề cử OscarKịch bản chuyển thể xuất sắc.
    Năm 1987, David Mamet biên kịch và đạo diễn bộ phim đầu tay House of Games(giải vàng LHP Venice). Tiếp theo là The Homicide (đề cử Cành cọ vàng Cannes 1992), Oleanna ( 1995), The Spanish Prisoner (1998), Spartan ( 2004)... Bộ phim mới nhất của ông là Redbelt, sản xuất năm 2007. Ngoài sáng tác, David Mamet còn được xem là nhà lý luận điện ảnh với hàng chục đầu sách nghiên cứu, sư phạm.
    Đạo diễn Hà Bình, người Trung Quốc, chia sẻ về cuốn sách: "Sau khi đọc xong, tôi tự nói hai việc: Một, mình phải dùng cuốn sách này làm giáo trình dạy học cho sinh viên. Bởi vì nó mỏng, ngắn gọn nhưng lời lẽ, ý tứ sâu sắc, có hiệu quả phát huy rất lớn đối với những người đang cần tư duy thị giác. Hai, đây là cuốn sách có tính thực tiễn rất cao. Nó nói cho chúng ta biết 'Làm thế nào để làm được phim hay', chứ không hề tranh luận với chúng ta 'Điện ảnh là gì' ".
    Bạch Tiên

+ Trả lời Chủ đề
Trang 1 của 5 1 2 3 ... CuốiCuối

Các Chủ đề tương tự

  1. Vai trò và ý nghĩa của nghiên cứu Hán Nôm đối với nghiên cứu văn hóa Việt Nam
    Bởi matbiec trong diễn đàn Kiến thức về chữ Nôm
    Trả lời: 3
    Bài viết cuối: 12-03-2013, 08:55 AM
  2. Trả lời: 1
    Bài viết cuối: 15-09-2012, 10:45 AM
  3. Sách điện tử và sách giấy trong thế kỷ 21
    Bởi banhdacua trong diễn đàn Sự kiện Văn hoá - Giáo dục - Nghệ thuật
    Trả lời: 0
    Bài viết cuối: 19-04-2012, 02:19 PM
  4. Chín cuốn sách nên tìm đọc trong Hội sách TP.HCM 2012
    Bởi yenminh0210 trong diễn đàn Sách
    Trả lời: 1
    Bài viết cuối: 24-03-2012, 11:13 AM
Quyền viết bài
  • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
  • Bạn Không thể Gửi trả lời
  • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
  • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình