+ Trả lời Chủ đề

Chủ đề: Đố chữ Hán trong câu đố tiếng Việt

Kết quả 1 đến 3 của 3
  1. #1
    Xoải cánh honghue will become famous soon enough honghue will become famous soon enough honghue's Avatar
    Ngay tham gia
    Mar 2012
    Bài viết
    160
    Rep Power
    10

    Đố chữ Hán trong câu đố tiếng Việt

    Thời gian trước đây, nhiều người học chữ Hán thường được “đố chữ” bằng những câu như: “Chim chích mà đậu cành tre, thập trên tứ dưới nhất đè chữ tâm”; “Ba xe kéo lê trên đàng, tiếng vang như sấm” đố chữ “đức” và chữ “oanh”.


    Chúng ta biết câu đố là một bộ phận của văn học dân gian. Trước khi được ghi thành văn bản, mà ngay cả sau khi đã được ghi lại, chúng được phổ biến chủ yếu bằng truyền miệng. Truyền miệng là một phương tiện để phổ biến lưu truyền, đồng thòi cũng là phương tiện đào thải. Những câu hay được bảo lưu, có thể được trau chuốt thêm, những câu yếu kém về nội dung và hình thức sẽ bị quên lãng. Theo chỗ chúng tôi biết, cuốn Tục ngữ phong dao (Viết tắt TNPD) của Nguyễn Văn Ngọc, in lần thứ nhất năm 1928 là tập sách đầu tiên công bố một lượng khá lớn những câu đố, trong đó có nhiều câu lấy chữ Hán làm đối tượng đố (ở tập 2, sau phần sưu tầm phong dao tức ca dao). Câu đố trong sách này được tập hợp theo thứ tự ABC của từ đầu tiên. Lời giải không ghi kèm ngay sau lời đố mà được đưa vào một phần riêng biệt cuối sách. Lời giải hết sức vắn tắt, không kèm theo chú thích gì, ngoài 2 từ “chữ Hán” đặt trong dấu ngoặc đơn sau lời giải câu đố về chữ Hán.


    Sau TNPD, có nhiều sách sưu tầm riêng về câu đố. Ở miền Nam có những cuốn Thai ngữ của Nguyễn Văn Xứng (1949); Câu đố thai của Phạm Văn Giao (1950); Thai đố phổ thông dẫn giải của Từ Phát (1971). Miền Bắc có cuốn Câu đố Việt Nam của Ninh Viết Giao (Nxb Văn Sử Địa Hà Nội, 1958, viết tắt CĐVG). Sách này sau phần 1 “Vài ý kiến về câu đố Việt Nam” trình bày vắn tắt nhưng khá đầy đủ về nguồn gốc, đặc tính và tác dụng câu đố (tr. 7-21), đã dành hơn 100 trang sau (tr. 23-133) sưu tầm các câu đố, sắp xếp theo phân loại (sự vật nông thôn, sự việc nông thôn, sinh vật) và “những câu đố linh tinh khác” (tr.97-120), trong đó có mục “đố chữ”, câu 32 đến câu 62, trừ câu 62 đố về chữ Quốc ngữ, còn lại là những câu đố về chữ Hán (sách CĐVG không ghi rõ chữ Hán hay chữ Quốc ngữ, người xem tự phân biệt lấy).

  2. #2
    Xoải cánh honghue will become famous soon enough honghue will become famous soon enough honghue's Avatar
    Ngay tham gia
    Mar 2012
    Bài viết
    160
    Rep Power
    10

    Re: Đố chữ Hán trong câu đố tiếng Việt

    Gần đây, kho tàng câu đố khá phong phú đã là đề tài cho cuốn sách Câu đố Việt Nam của Nguyễn Văn Trung 494tr. Nhà xuất bản thành phố Hồ Chí Minh 1986 (viết tắt CĐVT). Những công trình về câu đố in ở Miền Nam trước 1975 vừa ghi ở trên là dựa vào bảng “Tài liệu tham khảo” in trong sách này (tr. 219). Sách CĐVT gồm 2 phần lớn. Phần đầu “một lối nhìn câu đố” khảo luận về nguồn gốc, chức năng, phân loại, khía cạnh văn chương, nội dung phản ánh phong tục nếp sống của câu đố trên 200 trang.

    Phần sau “Sưu tầm phân loại câu đố” trên 250 trang, tập hợp 1512 câu đố, xếp theo bảng phân loại, kèm ngay lời giải sau mỗi câu. Sách có ưu điểm lớn, hơn TNPD và CĐVG là có phần chú thích ở cuối sách để làm sáng tỏ những chỗ xét ra cần thiết. Câu đố thường dùng ngôn từ cô đọng, nhiều hình ảnh và thủ pháp tu từ học, lại thường đề cập nhiều sự vật, sự việc trong xã hội cũ đã trở thành phần nào xa lạ đối với hiện tại nên những lời chú giải thường rất hữu ích có đối tượng chữ Hán, chú thích lại càng cần thiết đối với nhiều người chưa thật am tường lối chữ hình khối này.


    Sách CĐVT viết rất công phu. Tuy nhiên riêng về mảng câu đố về chữ Hán - CĐVT gọi là “xuất Hán tự” - có nhiều chỗ cần bàn lại. Bài viết này nhằm góp một số ý kiến về những câu đố loại trên, được ghi trong CĐVT dưới mục “chữ nho (xuất Hán tự)” tr. 407-415, câu đố số 1425-1488, kèm phần chú thích tr. 489-492. Thứ nhất, có khá nhiều lỗi ấn loát (Sách CĐVT có kèm 1 tờ đính chính những lỗi từ tr. 19 đến tr. 222, phần câu đố về chữ Hán nằm ở tr. 407-415, có thể có đính chính ở 1 tờ khác, mà sách trong tay chúng tôi không có). Sau nữa, có nhiều chỗ cần làm sáng tỏ thêm ở hai mặt: lời ra đố và lời giải.

    Chúng tôi cũng ghi thêm một số câu đố mà chúng tôi được biết về loại này, và cuối cùng có một số nhận xét khái quát nhỏ, mong góp thêm chút ít tư liệu tìm hiểu thêm về mảng câu đố loại này (Bài viết này có ghi tư liệu so sánh lấy ở các sách TNPD (Q2, bản in, Nxb Minh Đức, Hà Nội, 1957) và CĐVG (sđd). Khi dẫn TNPD, không ghi rõ số câu số trang, vì câu đố được sắp xếp theo mẫu tự ABC của từ đầu nên tìm kiếm dễ dàng; còn khi dẫn CĐVG, có ghi số câu (viết tắt: c) nằm trong khoảng những trang 101-104 cuốn sách).

  3. #3
    Xoải cánh honghue will become famous soon enough honghue will become famous soon enough honghue's Avatar
    Ngay tham gia
    Mar 2012
    Bài viết
    160
    Rep Power
    10

    Re: Đố chữ Hán trong câu đố tiếng Việt

    1 - Một số ý kiến nhằm sơ bộ đính chính bổ sung phần câu đố về “chữ Nho” (theo thứ tự số câu trong CĐVT tr. 407-415).

    - Câu 1426:

    Hình như con nhạn bay phi
    Một bên xấu một bên phì
    Mỗi niên tiến nhất nguyệt
    Mỗi nguyệt tiến tam kỳ
    Lưỡng nhạn, lưỡng nhạn song phi
    Nhứt nhạn xấu, nhứt nhạn phì
    Mỗi nhứt niên phùng nhứt nguyệt
    Mỗi nhứt nguyệt, ngộ tam kỳ


    - Chữ Bát

    Câu này có chú thích (tr.489): “Bát”: tám; đôi nhạn bay đôi, một nhạn ốm, một nhạn mập, mỗi năm gặp một tháng, mỗi tháng gặp ba lần:”. Thực ra đây là 2 câu đố, mỗi câu 4 dòng, nhưng rất giống nhau, có thể coi chỉ là một câu với vài ba chữ khác biệt không quan trọng. Bốn dòng câu dưới hoàn toàn chữ Hán, được dịch ở phần chú thích. Câu trên có 2 dòng cuối cũng hoàn toàn chữ Hán nhưng không được dịch.

    Trong 2 câu này, chữ “tiền” có lẽ là chữ “kiến” nghĩa hợp hơn. Mỗi niên kiến nhất nhất nguyệt, mỗi nguyệt kiến tam kỳ” có nghĩa “mỗi năm thấy một tháng, mỗi tháng thấy 3 lần”. Chữ “xấu” ở những dòng trên cần sửa là “sấu” (chữ Hán nghĩa là “gầy”) cho đúng chính tả (TNPD và CĐVG c 41 đều chỉ ghi 4 câu đầu, và cùng ghi “tiến” và “xấu xa”). chữ “Sấu” được CĐVT dịch là “ốm” là tiếng miền nam, trương đương với “gầy” ngoài Bắc.

    Về câu đố này, có thể ghi thêm một dị bản ngắn gọn và súc tích, được giải bằng chữ “bát” đồng âm chỉ đồ dùng trong bữa ăn: “Nhất diện dưỡng mi, Nhất sấu nhất phì. Nhất niên nhất nguyệt. Nhất nhật tam kỳ” (một mặt hai lông mày, một gầy một béo, một năm một tháng, một ngày 3 lần). Câu này tương truyền của người Tàu đố Mạc Đĩnh Chi (X. Giai thoại văn học Việt Nam của Hoàng Ngọc Phách - Kiều Thu Hoạch, Nxb Văn học, Hà Nội, 1965, tr. 84).

    T.T (còn tiếp)

+ Trả lời Chủ đề

Các Chủ đề tương tự

  1. Tiếng Việt và Tiếng Nhật trong khu vực văn hóa Hán
    Bởi matbiec trong diễn đàn Chữ Quốc ngữ
    Trả lời: 2
    Bài viết cuối: 28-06-2013, 12:13 PM
  2. Tao và mày trong tiếng Việt
    Bởi yenminh0210 trong diễn đàn Từ ngữ
    Trả lời: 1
    Bài viết cuối: 15-05-2012, 10:24 AM
  3. Các dấu câu trong tiếng Việt
    Bởi matbiec trong diễn đàn Chữ Quốc ngữ
    Trả lời: 3
    Bài viết cuối: 12-12-2011, 09:06 AM
  4. Qui tắc viết hoa trong tiếng Anh
    Bởi Clementine trong diễn đàn Phương pháp học tiếng Anh
    Trả lời: 0
    Bài viết cuối: 29-11-2011, 09:05 AM
Quyền viết bài
  • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
  • Bạn Không thể Gửi trả lời
  • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
  • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình