Gia phả là nguồn tư liệu lịch sử rất có giá trị, từ nhiều năm nay nó đã trở thành một đối tượng nghiên cứu được nhiều người quan tâm. Chất liệu viết gia phả rất phong phú. Có loại viết trên vải lụa, cũng có loại khắc trên bia đá. Có loại viết hoặc khắc trên ván gỗ, cũng có loại viết hoặc khắc trên lá đồng. Song nhiều nhất vẫn là các cuốn gia phả viết trên giấy dó, đóng thành sách. Về hình thức văn tự cũng có nhiều loại, có bản chép bằng chưc Nôm, có bản chép bàng chữ Quốc ngữ, song vẫn nhiều nhất là các bản chép bằng chữ Hán. Nói cách khác, các gia phả chép bằng chữ Quốc ngữ và chữ Hán là tương đối phổ biến, các bản chép bằng chữ Nôm thì rất hiếm. Ngay ở kho sách của thư viện Viện Hán Nôm cũng có đến hàng trăm cuốn gia phả, nhưng gia phả chép bằng chữ Nôm thì chỉ có mấy cuốn.

Song chính sự hiếm hoi đã khiến các bản gia phả chép bằng chữ Nôm được các nhà nghiên cứu quan tâm tìm kiếm nhiều hơn. Do vậy chúng tôi muốn giới thiệu một bản gia phả chép bằng chữ Nôm trong kho sách Hán Nôm. Đó là bản Sơn Đồng Nguyễn tộc thế phả.

Đây là bản chép tay, kí hiệu VHv.1408, chép về gia thế của Tiến sĩ Nguyễn Viết Thứ ở làng Sơn Đồng, xã Sơn Đồng, huyện Hoài Đức, tỉnh Hà Tây. Trong bản gia phả này có bản tóm lược viết bằng chữ Nôm, theo thể thơ lục bát, tất cả gồm 122 câu. Văn bản không ghi rõ năm biên soạn, song căn cứ vào ngôn ngữ văn tự và thể thơ lục bát, chúng tôi đoán định bản diễn Nôm tóm lược thể phả họ Nguyễn làng Sơn Đồng này ra đời vào khoảng thế kỉ XVIII.

Toàn văn là:

Vốn ta sinh ở đời sau,
Biết chi đời trước đã lâu mà truyền.
Song le nhớ đức tổ tiên,
Cức bèn thu thập gia truyền một hai.
Vẳng nghe mảng tiếng bên tai,
Có ông Thận Đức nên trai ngõ ngàng.(1)
Lấy bà Từ Thuận một nàng,
Cửi canh tần tảo mỗi đường mỗi hay,
Ông thì Hậu Tắc(2) là tay,
Đêm đêm cuốc nguyệt, ngầy ngầy cày mây.
Lại thêm gốc đức cao xây,
Nền nhân cao đắp non tây sánh vời.
Thiêng thay trên thấu lòng trời.
Hùng bi(3) sớm ứng, trọn đời hòa hai.
Sinh ông Phúc Thọ là trai,
Dâu bà Từ Ý trong ngoài mặc con.
Ông thời hòa mục hương thôn,
Bà thời hiền thảo cháu con vỗ về.
Trai gái một con một nghề,
Gái thời thêu vóc, trai thời văn thơ.
Tông tử(4) sinh ông Phúc Cơ,
Cửa Trình mến đạo, sớm khuya quen nhà.
Bảng thu ngày dự chiếm ba,
Người người đều tiếng khắc gia(5) con lành.
Đã mừng kim bảng quải danh(6)
Lại mừng hoa trúc ngâm bình rạng soi.
Diệu Hạnh từ bà sánh đôi,
Văn Trưng ông ấy nối đời hiệu sinh.
Từ Bảo bà kết duyên lành,
Phúc nhà thêm hậu con sinh nối truyền.
Qui Sơn hai chữ là tên,
Phúc Lệ là hiệu, con hiền nên danh.
Ngõ ngàng dường thể trời sinh,
Nhan Uyên(7) ấy đức, Giả Sinh(8) ấy tài.
Hoá công nào lọ một ai,
Dây hồng bỗng kết một người tiên nhân.
Từ Tú ấy bà tiểu quân,
Khuyên chồng lập chí nên thân làm kỳ.
Từ ấy chẳng dời mỗ ly(9),
Vui thay đèn sách, lánh bề nguyệt hoa.
Thu vầy bỗng mảng(10) mở khoa,
Bốn ngày đều dự chẳng sai một ngày.
Nền văn cao giá từ đây.
Càng lâu càng thịnh, càng ngày càng hơn.
Dãy dãy con phượng cháu loan,
Vẻ hiền vẻ thảo thế gian dễ tày.
Phúc trạch ông ấy liền thay,
Càng cao gốc đức, càng dày nền nhân.
Ra tay mở rộng nguồn ân,
Mặc ai lành dữ chẳng phân tranh hành.
Từ Quang bà cả là tên,
Từ Thục bà bé, hóa lành hòa khôn.
Đêm ngày khuya học Khổng môn,
Thi thư mấy cuổn đọc ôn làm lòng.
Ngõ ngàng một tập một thông,
Ngày ngày học thói Nho phong ý thầy.
Thu Vi(11) đã chiếm bốn ngày,
Quốc Oai dám ví, Sơn Tây khôn bì.
Sơn Nam hiến sát sứ ty,
Gần thì mến đức, xa thì ngóng trông.
Đành hay tạo hóa khéo công,
Cha rồng ắt lại con rồng chằng dưng.
Tuy phúc ông ấy ai bằng,
Thượng tài há ví, đâng hằng khôn so.
Nhà Nho lại sửa nghiệp Nho,
Ví so công nghiệp tiền tu mùi gì.
Tề gia phó mặc hiền phi,
Là bà Từ Quí ông thì lập công.
Hạnh đàn hỏi đạo ba đông.
Khắp xem mọi quyển tạc lòng năm kinh,
Văn trường ai thấy chẳng kinh.
Tăng Tử(12) một mối, Chu Trình(13) nối chân.
Hội lành tự gặp kim xuân,
Vũ môn cao vượt thoát thân nên rồng.
Lập công nay đã nên công,
Tận trung thủ tiết cửu trùng yêu đương.
Dân lành ra vỗ đòi phương.
Quần thần vi đức cam đường nghĩa nhân.
Quan giai lại bước đòi tuần,
Tước năm ở bốn(14), cận thần đảm đương.
Thêm phong quyền Hữu thị lang,
Vẻ cao vẻ lớn hòa sang hoà giàu,
Trắc thất hai bà nối sau.
Ví so liệt truyện nên đầu nữ công.
Ở lành thời gặp chẳng không,
Con sinh dãy dãy rạng thông hay mười.
Trưởng nam tính chịu ở trời,
Có tài có đức trong đời hòa hai.
Bảng thu sớm đã tên bày,
Đã kẻ tôn kính lại người không khen.(15)
Sĩ đồ thoắt thoắt bước lên,
Hoàng hoa(16) nghị đã bước quyền Thị lang.
Vững bằng cột đá miếu đường,
Ngươi Trưng Đường quốc(17), họ Trương Hán triều(18)
Thượng thư Hình bộ càng cao,
Giữa trời Bắc Đẩu ngôi cao rỡ ràng.
Thêm phong Lại thượng(19) quyền sang,
Thêm phong Tử tước danh phương muôn đời.
Lại thêm sau bốn con trai.
Hai người Hương cống, hai người Giải nguyên.
Tuy rằng Tiến sĩ muộn nên,
Song điều chức tước xa miền trần ai.
Em gái nay tuy họ ngoài,
Người cùng ơn phận, cũng người ơn con.
Non mòn họ Nguyễn chẳng mòn,
Còn trời còn đất cháu con hơn người.
Hoà nhà nào một mình ai,
Có tài xuất chúng, có tài khắc gia.
Đời truyền con cháu càng xa,
Công danh càng thịnh, người ta càng nhường.
Rỡ ràng danh để kiêm tương,
Công bày trúc bạch, dao hoàng sánh lâu.
Chẳng hay công đức bởi đâu,
Là chưng đời trước dễ hầu không dưng.
Âu là trên có cao tằng,
Dưới có tổ khảo đức bằng Thái Sơn.
Ta vừa tưởng đến đòi cơn,
Bút hoa muốn chép tổ tiên sử nhà.
Bút ta chép tích nhà ta,
Cứ đời sau trước vậy hòa riêng biên.
Ấy là gia sử để truyền,
Dầu ai xem thấy chê khen mặc lòng.

N.T.T
CHÚ THÍCH
(1) Ngõ ngàng: còn đọc “ngõ ngang”, nghĩa là tài giỏi, có năng lực.
(2) Hậu Tắc: tên một nhân vật trong truyền thuyết cổ của Trung Quốc. Tương truyền ông là người lo việc nông trang đời Nghiêu. Đây ý nói Thận Đức làm nghề nông.
(3) Hùng bi: điềm sinh con trai.
(4) Tông tử: dòng dõi.
(5) Khắc gia: giữ được nếp nhà.
(6) Kim bảng quải danh: đề tên ở bảng vàng, ý nói thi đỗ.
(7) Nhan Uyên: học trò của Khổng Tử, là người học rất giỏi, có đức hạnh, được xếp vào hàng tứ phối thờ ở Văn miếu.
(8) Giả sinh: người đời Hán, là người có tài trí nổi danh một thời.
(9) Mỗ li: một chút, một tí.
(10) Mảng: nghe thấy.
(11) Thu vi: thi Hương.
(12) Tăng, Tư: tức Tăng tử và Tử Tư, học trò của Khổng tử, cũng được xếp ở hàng tứ phối.
(13) Chu, Trình: tức Chu Hy và Trình Di, Trình Hiệu, những ông tổ của Tống Nho.
(14) Tước năm dự bốn: tước năm bậc thì được dự vào bậc 4, nghĩa là được phong đến tước Hầu.
(15) Khong khen: khen ngợi, ca ngợi.
(16) Hoàng hoa: ý nói đi sứ.
(17) Ngươi Trưng: chỉ Ngụy Trưng, một đại thần nổi tiếng về mặt can gián đối với vua Đường.
(18) Họ Trương: chỉ Trương Lương, bậc khai quốc công thần đời Hán.
(19) Lại Thượng: Thượng thư bộ Lại.