+ Trả lời Chủ đề

Chủ đề: Chữ Nôm miền Nam trước thời Cận đại

Kết quả 1 đến 5 của 5
  1. #1
    Vượt ngàn trùng sóng matbiec is a splendid one to behold matbiec is a splendid one to behold matbiec is a splendid one to behold matbiec is a splendid one to behold matbiec is a splendid one to behold matbiec is a splendid one to behold matbiec is a splendid one to behold matbiec's Avatar
    Ngay tham gia
    Aug 2008
    Bài viết
    1,169
    Rep Power
    21

    Chữ Nôm miền Nam trước thời Cận đại

    Nguyễn Ngọc Quận

    (Bài tham luận trình bày tại Hội thảo quốc tế "Việt Nam và Trung Quốc: những quan hệ văn hoá, văn học trong lịch sử", tháng 9.2011, tại Trường ĐHKHXH và NV TP.HCM. Bài viết có chỉnh sửa, tháng 3.2015.)


    Chữ Nôm là hệ thống chữ viết của người Việt, dùng để ghi tiếng Việt, ra đời trên cơ sở hệ thống văn tự gốc là chữ Hán. Chữ Nôm hình thành và phát triển trong môi trường toàn xã hội đang sử dụng chữ Hán như công cụ văn tự duy nhất có tính hàn lâm và quan phương. Thực tế cho thấy, trong quá trình sử dụng chữ Nôm, người Việt không ngừng sáng tạo thêm chữ mới nhằm đáp ứng nhu cầu ghi tiếng Việt ở mọi vùng đất nước. Khối lượng chữ sáng tạo theo nghĩa rộng, nằm ngoài phạm vi ngôn ngữ văn tự Hán, vì thế ngày càng tăng. Riêng đối với khu vực Sài Gòn - Nam Bộ, chữ Nôm ở đây phát triển mau lẹ cùng sự phát triển xã hội trên vùng đất mới này, đã sản sinh một lượng chữ mới đáng
    kể.

    Chữ Nôm từ khi ra đời cho thấy nhằm thoả mãn nhu cầu ghi tên riêng (tên người, tên đất) và từ ngữ Việt không có nguồn gốc từ chữ Hán như cái lý của sự phát sinh và phát triển của nó. Do đó, nhìn chung, bên cạnh kho chữ sử dụng chung cả nước còn có những mảng chữ Nôm được hình thành phản ánh từ ngữ địa phương và đặc điểm phát âm địa phương khá rõ nét. Xét trên các khía cạnh này thì chữ Nôm miền Nam trước thời Cận đại(1) là đối tượng còn hàm chứa khá nhiều điều mới mẻ, lạ lẫm về cách viết, cần được khảo cứu toàn diện hơn. Sở dĩ tách chữ Nôm miền Nam trong dòng chảy của văn học viết để xét nó trong giai đoạn trước thời Cận đại là vì giai đoạn này ở miền Nam có nhiều tác phẩm Nôm ra đời, và cũng là giai đoạn cuối cùng thuần tuý sử dụng chữ Hán chữ Nôm trong sáng tác, giai đoạn còn thuộc phạm trù văn học Trung đại ở Việt Nam. Tuy nhiên, giai đoạn được nêu chỉ có giá trị tương đối, vì về mặt văn tự Nôm, sẽ không có nhiều khác biệt giữa chữ Nôm giai đoạn này và chữ Nôm giai đoạn Cận đại sau đó.
    Lần sửa cuối bởi matbiec, ngày 17-08-2015 lúc 05:25 PM.

  2. #2
    Vượt ngàn trùng sóng matbiec is a splendid one to behold matbiec is a splendid one to behold matbiec is a splendid one to behold matbiec is a splendid one to behold matbiec is a splendid one to behold matbiec is a splendid one to behold matbiec is a splendid one to behold matbiec's Avatar
    Ngay tham gia
    Aug 2008
    Bài viết
    1,169
    Rep Power
    21

    Re: Chữ Nôm miền Nam trước thời Cận đại

    1. Từ ngữ địa phương miền Nam thể hiện qua chữ Nôm.

    Từ ngữ địa phương thể hiện qua chữ Nôm bao gồm 2 loại: một là danh từ riêng chỉ tên người, tên đất; và hai là các đơn vị từ vựng và các ngữ cố định chỉ thường xuất hiện
    phổ biến trong dân gian vùng miền.


    1.1. Danh từ riêng chỉ tên người, tên đất ở nước ta phần lớn dùng từ Hán Việt. Chữ Nôm thuộc loại này không có gì đặc biệt, người đọc chỉ cần dựa vào ngữ cảnh mà nhận ra. Điều đáng chú ý ở đây là tên người tên đất không đọc theo âm Hán Việt (HV) quen thuộc mà là đọc theo thói quen âm Việt chỉ có ở miền Nam. Các địa danh phổ biến như Cần Thơ (芹苴), Sóc Trăng (蓄臻), Mỹ Tho (美萩), Cao Lãnh (句領)… đều viết bằng chữ Hán (có âm HV tương ứng: Cần Tra/Tư, Súc Trăn, Mỹ Thu, Câu/Cú Lãnh…). Cũng có địa danh không thể viết bằng chữ Hán, mà phải viết bằng chữ Nôm sáng tạo, như Sa Đéc (沙 ), Đéc được viết bằng chữ Nôm. Tên người xuất hiện trên các tác phẩm văn học thường viết bằng chữ Hán, và người đọc căn cứ vào âm HV để đọc. Do tên người mang tính cá thể và cá biệt, nên đương thời hay đời sau dẫu có ai đọc tên người bằng âm
    HV mà vẫn sai tên gọi của người ấy đi nữa thì vẫn có thể chấp nhận được(2).

    1.2. Từ ngữ địa phương miền Nam khá phong phú, có đặc tính chung là bình dân, mộc mạc, dí dỏm, hay khôi hài, cường điệu, giàu tính hình tượng và sắc thái biểu cảm, nhất là các từ song tiết có cấu tạo theo lối song thanh, điệp vận. Trong các văn bản chữ Nôm miền Nam ta thường bắt gặp lớp từ ngữ địa phương này, và nếu người đọc không có những hiểu biết nhất định về phương ngữ Nam Bộ sẽ khó lòng xác định được âm đọc của chúng. Sau đây là một vài ví dụ tiêu biểu.

    Bá láp 伯溚: không nghiêm túc, nhảm nhí, xằng bậy. Việc làm bá láp sao qua sách mình (KCKQ(3) - Tiền Giang).

    Bảng lảng bơ lơ扳狼波 : thờ ơ, lơ là, lạnh nhạt. Ngó đâu bảng lả n g bơ lơ (KCKQ -
    Thừa nhàn)

    Bần xừ / bần sừ 貧徐: nghèo khổ, rách rưới khó coi; rất mệt mỏi. Chớ chê chài lưới thói bần xừ (DTHM). Ở dưới làng chảnh hoảnh, lên trên tỉnh bần xừ (KTKD).
    Bậu 倍và Qua 戈: Bậu, tiếng đối xưng thân mật bạn trai gọi người yêu, hoặc của người lớn tuổi đối với người ít tuổi hơn; Qua, tiếng tự xưng của người lớn tuổi, hoặc của người chồng. Qua xem tướng bậ u thơ ngây đã đành (LVT). Thuở nghiêng nghèo có bậ u với qua (DTHM).

    Cành hông : đầy bụng, dồn ứ trong lòng. Ăn cành hông nói phách nhiều công
    (KCKQ - Kiểng tiên).

    Chàng ràng 払 /払 : quanh quẩn bên cạnh; dàng dênh, dênh dang. Lao xao lũ bảy chàng ràng đàng ba (KCKQ - Thừa nhàn). Lao xao lũ bảy chàng ràng đoàn ba (LVT).



    Chảnh hoảnh / choảnh hoảnh : tỉnh táo, tươi tắn; kiêu kỳ, phớt lờ. Ở dưới làng chảnh hoả nh; lên trên tỉnh bần xừ (KTKD).

    Chun : chui vào, lòn vào. Ngặt mình phải liệu tìm đàng chun ra (DTHM)

    Hản 罕 : biết rõ (mượn âm HV 罕 hãn). Trước sau chưa hả n dạ này (LVT). Mạch nọ
    coi qua cho hản (KTKD).

    Khứng(4) 肯: vui lòng, ưng thuận. Di Tề chẳng khứ ng giúp Châu (LVT). Con không khứ ng ta toan nói ngược (KTKD).
    Lày quày 淶跪 : thấm thoát, loay hoay. Cứ lẩn thẩn lày quày (KTKD). Lày quày chưa
    kịp hạ sa (DTHM).

    Lủng : thủng lỗ. Lủ ng chài mất cá làm om (KCKQ - Thừa nhàn).

    Nẩu / nẫu : nó, hắn, bọn họ (đại từ chỉ số nhiều, dùng rất phổ biến ở vùng trung
    Trung Bộ). Bằng theo nhà nẩu thời quan dằn thúc (KTKD).

    Nhát 戛: doạ, làm cho sợ. Rung cây nhát lão làm đàng hại nhơn (LVT).

    Nong nả 農那: rất khẩn thiết, nôn nóng muốn làm ngay, hăm hở cố sức. Ông nong nả tìm cho đặng ngọc (KTKD).

    Rân : ầm ĩ, ran, rộn lên ở nhiều nơi. Tụng sao đánh mõ la làng vang rân (KCKQ -
    Thừa nhàn)

    Rình : (phó từ chỉ mức độ nhiều chỉ dùng tu sức cho từ "hôi") rất, lắm. Thượng thanh hạ trược gốc cây hôi rình (KCKQ - Thừa nhàn)

    Thày lay 柴 : vớ vẩn lắm mồm, hay bàn chuyện người khác, hay nói lung tung; hay làm việc vớ vẩn không thuộc phận sự của mình. Thằng sao lúc láo; ai mượn thày lay? (KTKD).
    Tráo chác 到卓 : tráo trở lừa dối. Chữ duyên tráo chác chữ tình lãng xao (LVT). Nào ai tráo chác cho người hiệp tan (KTKD).
    Trớ trinh 詐貞: dối trá, lừa gạt. Võ công làm sự trớ trinh (LVT). [Mà hắn] chịu những việc trớ trinh (KTKD).
    Tua(5) 須: nên, phải. Khá tua gắng gượng về nhà cùng ta (LVT). Bề khuê khổn khá tua vẹn vẻ (KTKD).


    Vếnh cướng / vính cướng 幹: phách lối, ngang ngược. (Trẻ tớ) điếu đãy đôi ba
    thằng (cho) vế nh cư ớ ng (KTKD).

    Xuê 吹 : xinh đẹp. Đã tươi khí tượng lại xuê tinh thần (LVT). Phấn vinh hoa, giồi trung hiếu mới xuê (SV).

    Xuồng : thuyền nhỏ. Ngày sau thời cũng có ghe xuồng (KCKQ - Kiểng tiên).

  3. #3
    Vượt ngàn trùng sóng matbiec is a splendid one to behold matbiec is a splendid one to behold matbiec is a splendid one to behold matbiec is a splendid one to behold matbiec is a splendid one to behold matbiec is a splendid one to behold matbiec is a splendid one to behold matbiec's Avatar
    Ngay tham gia
    Aug 2008
    Bài viết
    1,169
    Rep Power
    21

    Re: Chữ Nôm miền Nam trước thời Cận đại

    2. Chữ Nôm miền Nam phản ánh ngữ âm đặc thù vùng miền.

    Về phương thức cấu tạo, có thể phân Chữ Nôm thành nhiều loại dựa trên tiêu chí hình, âm và ý(6). Phần lớn các loại đều có liên quan về tiêu chí âm, tức giữa âm Nôm toàn chữ và âm thành phần(7), được coi là âm xuất phát, có mối tương quan nhất định. Trong các mặt hình, âm, ý, thì mặt âm là quan trọng nhất, và phức tạp nhất. Đại đa số chữ Nôm hiện có đều phải dựa vào tiêu chí âm để xác định âm đọc.

    Đối với các loại chữ Nôm có sử dụng âm thành phần, ta thường quan tâm nhiều về âm HV của âm thành phần ấy. Âm thành phần (là âm HV khi thành phần biểu âm là chữ Hán, và là âm Nôm khi thành phần biểu âm là chữ Nôm) và âm đọc toàn chữ (âm Nôm) thường có mối tương quan nhất định cả về âm đầu, vần và thanh điệu. Người đọc chữ Nôm thường căn cứ vào đó mà xác lập một âm tiết mới sao cho có nghĩa phù hợp với ngữ cảnh, song phải bảo đảm giữ được các mối tương quan ngữ âm nhất định này. Đó là điều có tính nguyên tắc, được các nhà nghiên cứu chữ Nôm thừa nhận. Trong thực tế, tình hình có phực tạp hơn nhiều. Chữ Nôm do chưa được Nhà nước các triều đại phong kiến quan tâm điển chế, nên về phương diện cấu tạo còn khá tự do, phản ánh sự sáng tạo linh hoạt của cá nhân người viết, và đặc điểm ngữ âm vùng miền. Một số vùng ở Bắc Bộ không phân biệt âm đầu l- với n-, Nam Bộ không phân biệt âm cuối -n với -ng (-nh) /- ŋ/… đều có thể tìm thấy trên cách viết chữ Nôm.

    Ngữ âm từ vùng trung Trung Bộ trở vào miền Nam có đặc điểm chung là: không phân biệt một số phụ âm đầu (như cặp phụ âm gi- và d-. Riêng khu vực Sài Gòn - Nam Bộ còn không phân biệt v- với gi- và d-), một số phụ âm cuối, như -n và -ng (-nh), -t và -c (-ch) và hai thanh hỏi và ngã. Các đặc điểm này nhìn chung đều thể hiện qua chữ Nôm miền Nam, tạo nên một kiểu viết đặc thù địa phương Nam Bộ.

    - Không phân biệt âm đầu d-/gi-: 加 da [da thịt] (HV: gia), 翼 giựt [giựt đồ] (HV:
    dực), 弋 giựt [giựt mình] (HV: dặc), 與 giữ [giữ gìn] (HV: dữ)…

    - Không phân biệt âm đầu v- với gi-/d-: 夜 v[nằm vạ] (HV: dạ), 盈 vinh [vinh mặt] (HV: dinh], 角vác [vác mỏ nói chuyện] (HV: giác), 望 giọng [giọng nói] (HV: vọng), 位[không biết ] (mượn âm gốc Hán “vì”)…


    - Không phân biệt âm cuối -c (-ch) /-k/ và -t trong một số vần: 弋 dt [dứt dây] (HV:
    dặc), dắt [dắt tay] (HV thành phần: dặc), 六 lụt [nước lụt] (HV: lục), 菊 cút [côi cút] (HV: cúc), 伯 bát [chén bát] (mượn âm Nôm “bác”), ích [có ích] (mượn âm Nôm “ít”, song có khi viết đúng từ HV 益), 的 đít [từ đầu đến đít] (HV: đích)…

    - Không phân biệt âm cuối -n và -ng (-nh) /-ŋ/: 问vắng [vắng bặt] (HV: vấn), 乾càng [càng lúc càng] (HV: càn), 嗔 xinh [tốt xinh] (mượn âm Nôm “xin”), 徵 chưn (chân) [chưn trời] (HV: trưng), 雄hùn [hùn vốn] (HV: hùng), 扳 bảng [bảng lảng bơ lơ] (HV: bản), 贈tặn [tiện tặn] (HV: tặng), 信 tính [liệu tính, tính toán] (HV: tín)…

    - Nhiều vần bị mất âm đệm, hoặc còn giữ âm đệm thì âm đầu bị biến đổi. Chẳng hạn, chiến đò (chuyến đò), thả mãn (thoả mãn), oa (hoa/qua)… và thể hiện qua chữ Nôm như sau: 且thoả [thoả tình] (HV: thả, thay vì 妥), 碩thoạt (HV: thạc, thay vì 脫), 戰 chuyến (có nghĩa: lần, lượt) (HV: chiến, thay vì 傳,轉,專), 設 thuyết [thuyết giáo] (HV: thiết, thay vì 說), 傳chiền [chùa chiền] (HV: truyền, thay vì ), 散 toan [lòng toan làm dữ] (HV: tán/tản)… Các trường hợp vừa kể không giống với chữ Nôm 倘 thoảng (HV: thảng) trong chữ Nôm toàn dân mà âm Nam Bộ vẫn đọc thảng (“thỉnh thảng” thay vì “thỉnh thoảng”).

    - Về thanh điệu, phát âm từ trung Trung Bộ trở vào đều không phân biệt thanh hỏi và thanh ngã, đánh đồng 2 thanh này, kiểu như nửa = nữa, nở = nỡ, ngủ = ngũ: nữa [nữa chăng?] (mượn âm Nôm “nửa”), nỡ [chẳng nỡ nghe] (mượn âm Nôm “nở”), ngủ [đi ngủ] (âm thành phần “ngũ”) … Tuy nhiên, nếu xét ngữ âm tiếng Việt trong sự phát triển lịch sử thì 2 thanh này đã từng chuyển hoá cho nhau về cao độ. Ngay trong chữ Nôm toàn dân, ta đã thấy người xưa từng sử dụng chữ Hán có thanh hỏi để ghi chữ Nôm có thanh ngã, chữ Hán có thanh ngã để ghi chữ Nôm có thanh hỏi. Chẳng hạn, trẻ (âm thành phần “lễ”), nửa (âm thành phần “nữ”), 擬nghỉ (HV: nghĩ), 者 giã (HV: giả), 俸bỗng (HV: bổng), 拱cũng (HV: củng)… Do vậy, về phương diện cấu tạo chữ Nôm, không nhất thiết xem đây là một nét riêng của chữ Nôm miền Nam.

  4. #4
    Vượt ngàn trùng sóng matbiec is a splendid one to behold matbiec is a splendid one to behold matbiec is a splendid one to behold matbiec is a splendid one to behold matbiec is a splendid one to behold matbiec is a splendid one to behold matbiec is a splendid one to behold matbiec's Avatar
    Ngay tham gia
    Aug 2008
    Bài viết
    1,169
    Rep Power
    21

    Re: Chữ Nôm miền Nam trước thời Cận đại

    3. Dùng chữ Hán hoặc chữ Nôm (sáng tạo) đồng âm(8) thay cho một chữ Hán thông dụng khác.

    Hiện tượng khá phổ biến này trong chữ Nôm miền Nam nhìn chung không thấy trong chữ Nôm thuộc vùng miền khác. Ví dụ: chính [chính chuyên] (mượn âm Nôm “chín”, thay vì 正), 諭預dụ dự (biến âm của “do dự”, thay vì viết 猶豫), 計kế [kế đến] (thay vì 繼), 敕sắc [đồ sắc phục] (thay vì色), thế [thay thế] (thay vì替), 往 vãn [tảo vãn] (thay vì 晚), 藏 tàn [gió mưa mới tàn] (thay vì殘), ích [có ích] (mượn âm Nôm “ít”, thay vì益)… Tuy nhiên, trong chữ Nôm miền Nam cũng vừa có cách viết bình thường: chính正chuyên, do dự猶豫, kế繼đến, sắc 色phục, thay thế , tảo vãn, ngày tàn , ích Điều đó cho thấy người viết thuận đâu viết đó, không tuân theo quy tắc chính tả nghiêm ngặt nào.

    4. Chữ Nôm miền Nam có thể không thể hiện phụ âm đầu cụ thể.

    Như đã đề cập ở mục [2.] bên trên, trong chữ Nôm toàn dân, nếu là loại chữ có sử dụng âm thành phần thì âm thành phần và âm Nôm toàn chữ nhất thiết phải có mối quan hệ ngữ âm về cả 3 lãnh vực âm đầu, vần (gồm âm đệm, âm chính, âm cuối) và thanh điệu. Thông thường, phụ âm đầu của âm thành phần và âm Nôm có cùng vị trí phát âm, hoặc ví trí phát âm gần nhau(9). Người đọc chữ Nôm xem đây là kinh nghiệm quan trọng. Theo vị trí phát âm, phụ âm đầu chia làm 5 nhóm:

    - Nhóm phụ âm môi: b, m, ph, v.

    - Nhóm phụ âm đầu lưỡi: th, t, tr, đ, n, x, s, d, l, gi, r.

    - Nhóm phụ âm mặt lưỡi: ch, nh.

    - Nhóm phụ âm gốc lưỡi: k (c), ng (ngh), kh, g (gh).
    - Nhóm phụ âm thanh hầu: h, / /(10).

    Trong thực tế, 2 phụ âm ch- và nh- thuộc nhóm phụ âm mặt lưỡi có sự chuyển đổi qua lại nhất định với một số phụ âm đầu lưỡi gần đó là thường gặp nhất. Chẳng hạn, chữ 種 có âm HV “chủng” chuyển sang Nôm đọc “giống” hay “trồng”, chữ 家 có âm HV “gia” chuyển sang Nôm đọc “nhà”…

    Khi áp dụng kinh nghiệm có tính nguyên tắc trên dây để đọc chữ Nôm miền Nam, chúng tôi thấy không hoàn toàn đúng như vậy. Nhiều chữ Nôm nếu căn cứ trên âm thành phần thì việc chuyển âm chỉ đúng với phần vần và thanh điệu, còn âm đầu thật khó lòng tìm thấy mối quan hệ ngữ âm nào. Đây là hiện tượng lạ, chưa được các nhà nghiên cứu văn tự Nôm đề cập và lý giải. Hiện tượng này cho thấy chữ Nôm chỉ ghi vần và thanh điệu, còn phụ âm đầu hoàn toàn mang tính ngữ cảnh, tính lâm thời mà thôi. Qua khảo sát
    3 quyển Kiểng tiên, Thừa nhàn,Tiền Giang trong bộ Kim cổ kỳ quan, chúng tôi sơ bộ ghi nhận một số trường hợp tiêu biểu sau:

    - ẵm. ( Ẵ m bồng dơ dáy thở than nhiều đằng. KCKQ - Tiền Giang). Bộ khẩu
    口chỉnh âm lẫm 廪 > ẵm (âm đầu lưỡi l- chuyển sang âm tắc thanh hầu > / /).


    - bặt (Trông thơ nhạn duyên sao vắng bặ t. KCKQ - Kiểng tiên). Bộ trúc 竹 chỉnh
    âm tặc 賊 > bặt (âm đầu lưỡi t- > âm môi b-).

    - 浡giọt (Tràn trề tuôn giọ t lệ giang hồ. KCKQ - Kiểng tiên). Âm bột 浡 > giọt (âm môi b- > âm đầu lưỡi gi-).
    - 妾hiếp (Xử thế húng hiế p quan làng. KCKQ - Thừa nhàn). Âm thiếp 妾 > hiếp (âm
    đầu lưỡi th- > âm thanh hầu h-).

    - khạc (Kẻ hay khạ c nhổ nhơn cường chẳng soi. KCKQ- Tiền Giang). Âm đạt
    > khạc (âm đầu lưỡi đ- > âm gốc lưỡi kh-).

    - ( Ợ ợ ngáp ngáp có cơn. KCKQ - Tiền Giang). Âm trợ > ợ (âm đầu lưỡi tr -
    > âm tắc thanh hầu / /).
    - 挹sắp (Từ nay sắ p tới âm binh dấy loàn. KCKQ - Tiền Giang). Âm ấp > sắp
    (âm tắc thanh hầu / / > âm đầu lưỡi s-)…
    Trường hợp dùng âm thành phần “tặc” để ghi âm Nôm “bặt”, “bột” để ghi âm Nôm “giọt”, xét thấy phụ âm đầu các âm này có vị trí phát âm gần nhau, tuy nhiên chưa từng được các nhà nghiên cứu chữ Nôm nói đến.

  5. #5
    Vượt ngàn trùng sóng matbiec is a splendid one to behold matbiec is a splendid one to behold matbiec is a splendid one to behold matbiec is a splendid one to behold matbiec is a splendid one to behold matbiec is a splendid one to behold matbiec is a splendid one to behold matbiec's Avatar
    Ngay tham gia
    Aug 2008
    Bài viết
    1,169
    Rep Power
    21

    Re: Chữ Nôm miền Nam trước thời Cận đại

    5. Kết luận.

    Trong kho tàng thư tịch Hán Nôm Việt Nam, văn bản thơ văn viết bằng chữ Nôm truyền lại khá nhiều, trong đó một bộ phận đáng kể ra đời trên địa bàn Nam Bộ. Nhiều tác phẩm Nôm miền Nam xuất hiện trước thời Cận đại có giá trị không chỉ về phương diện tư tưởng, văn học mà còn về phương diện ngôn ngữ văn tự. Ngoài các tác phẩm được công bố lâu nay như Lục vân Tiên, Dương Từ hà Mậu, Kim Thạch kỳ duyên, Sãi Vãi, Lâm Sanh tân thơ, Phú bần truyện diễn ca…, gần đây nhiều văn bản chữ Nôm ở địa bàn Sài Gòn - Nam Bộ đã được sưu tầm, như Phát Bồ đề tâm văn diễn nghĩa, bộ Kim cổ kỳ quan gồm 9 quyển… Chữ Nôm miền Nam về phương diện ngôn ngữ văn tự, ngoài những tính chất chung còn mang những nét riêng của địa phương Nam Bộ, nhìn chung chưa được nghiên cứu và giới thiệu nhiều. Bài viết này ngoài việc khẳng định lại kiểu viết chữ Nôm miền Nam phản ánh tình hình phát âm vùng miền từng được nói đến, còn khám phá một vài điều mới mẻ khá phổ biến khác. Đó là việc dùng chữ Hán hoặc chữ Nôm sáng tạo để thay cho một chữ Hán thông dụng khác. Đó còn là hiện tượng viết chữ Nôm không quan tâm thể hiện phụ âm đầu, buộc người đọc phải dựa vào vần và thanh điệu để đoán, sao cho hợp với ngữ cảnh… Những điều này cần được giới chuyên môn tiếp tục nghiên cứu, cho thấy cha ông ta đã có nhiều sáng tạo trong việc xây dựng hệ thống chữ Nôm làm công cụ ghi tiếng mẹ đẻ - tiếng Việt.


    Các tên sách viết tắt sử dụng trong bài viết:

    KTKD : Kim Thạch kỳ duyên của Bùi Hữu Nghĩa

    SV : Sãi Vãi của Nguyễn Cư Trinh

    LVT : Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu

    DTHM : Dương Từ Hà Mậu của Nguyễn Đình Chiểu

    TP. HCM, tháng 8.2011


    KCKQ : bộ Kim cổ kỳ quan của ông Ba Thới, gồm 9 quyển: Kim cổ, Giác mê, Cáo thị, Vân Tiên, Ngồi buồn, Bổn tuồng, Thừa nhàn, Tiền Giang, Kiểng tiên.

    Chú thích:

    1. Thời Cận đại: chỉ giai đoạn văn học Việt Nam từ khi Pháp xâm lược năm 1858 đến
    Cách mạng tháng Tám năm 1945, tức sau thời Trung đại và trước thời Hiện đại.

    2. Tương tự trường hợp nhân vật lịch sử Trưng Trắc, Trưng Nhị; có tài liệu nói đúng ra tên hai bà là Chưng Chắc, Chưng Nhì.

    3. KCKQ: viết tắt tên bộ sách Kim cổ kỳ quan của ông Ba Thới. Các tên tác phẩm có trích dẫn đều viết tắt, xin xem cuối bài.

    4. Khứng: từ Việt cổ, gốc Hán, đọc chệch âm Hán Việt khẳng, vẫn giữ nghĩa Hán.

    5. Tua: từ Việt cổ, gốc Hán, đọc chệch âm Hán Việt tu, vẫn giữ nghĩa Hán (tương tự như
    khứng nói trên).

    6. Phân loại chữ Nôm dựa trên các tiêu chí hình, âm, ý có nhiều thuận lợi trong việc nhận diện, vì 3 tiêu chí này cũng là đặc điểm của văn tự Hán, văn tự gốc phái sinh ra chữ Nôm. Có thể trình bày vắn tắt như sau:

    Trước hết, dựa trên tiêu chí hình (hình thể), có thể chia toàn bộ chữ Nôm làm 2 loại: loại A - loại vay mượn, có hình thức chữ viết hoàn toàn trùng khớp với chữ Hán, có thể tìm thấy trong tự điển chữ Hán; và loại B - loại sáng tạo, có hình thức chữ viết mới mẻ, hoàn toàn không thể tìm thấy trong văn tự Hán (hoặc nếu có thì chỉ là sự gặp gỡ tình cờ).

    Dựa trên tiêu chí âm và ý, loại A và loại B có thể chia làm nhiều loại nhỏ như sau: A1. Mượn âm Hán Việt + mượn nghĩa: 才 tài, 命 mệnh, 忠 trung, 孝 hiếu…


    A2. Mượn âm cổ Hán-Việt / âm Hán-Việt Việt hoá + mượn nghĩa: 父 bố, mùa,
    xe, nguồn / 几 ghế, phép, ven,vẽ…

    A3. Mượn âm Hán Việt + không mượn nghĩa: 埃 ai [= người nào], 半 bán [= mua
    bán]…

    A4. Mượn âm Hán Việt đọc chệch + không mượn nghĩa: 折 chết, rồi…

    A5. Mượn âm cổ Hán-Việt / Hán-Việt Việt hoá + không mượn nghĩa: 房 buồng [=
    buồng chuối], 車 xe [= xe chỉ] / 油 dầu [= dầu sao], 巾 khăn [= khó khăn]…

    A6. Mượn âm cổ Hán-Việt / Hán-Việt Việt hoá đọc chệch + không mượn nghĩa: 源 ngùn [= ngùn ngụt] (cổ HV: nguồn), 茶 choè [= chích choè] (cổ HV: chè) / 油 dàu [= dàu dàu] (HV Việt hoá: dầu), 移 rời [= rời rạc] (HV Việt hoá: dời)…

    A7. Mượn nghĩa + không mượn âm: 鮮 tươi, bầy, 馬 ngựa…
    B1. Chữ Hán biểu âm + chữ Hán / Nôm biểu âm (Phần lớn loại này nhằm ghi các từ có tổ hợp âm đầu, như kl, bl, tl, kr, ml… trong tiếng Việt cổ): blăng > trăng, blời > trời; , (di + chi), đến (điển + đán), mở (mỹ + mã)…
    B2. Chữ Hán biểu âm + ký hiệu phụ (thêm/bớt) chỉnh âm: (雉trĩ + 口) trẻ,

    (木 mộc + ) mọc / (其 其kỳ kỳ + bỏ bớt nét bên dưới) khề khà
    B3. Chữ Hán 1 biểu âm + chữ Hán 2 biểu âm theo lối phiên thiết: (sá + lao) sao.

    B4. Mượn âm 1 chữ Nôm (sáng tạo) có sẵn + không mượn nghĩa: chín (sống chín), là mượn chữ Nôm “chín” có nghĩa “số 9”.

    B5. Mượn âm 1 chữ Nôm có sẵn đọc chệch + không mượn nghĩa: 坦 đứt, là mượn chữ
    Nôm “đất”.

    B6. Chữ Hán / bộ thủ Hán biểu ý + chữ Hán biểu ý: trời trở…

    B7. Chữ Hán biểu ý + ký hiệu phụ biểu ý: đĩ (女 thêm nét chấm), cụt (木 cắt bỏ
    phần trên).

    B8. Chữ Hán biểu ý + chữ Hán / bộ thủ Hán chỉ tương quan nghĩa: dưới ( 下biểu ý
    + 辶chỉ tương quan nghĩa với trên, viết tắt của ).

    B9. Chữ Hán / bộ thủ Hán biểu ý + chữ Hán biểu âm: trên (上biểu ý + 連biểu âm) /
    lau (扌biểu ý + 劳 biểu âm)…


    B10. Chữ Hán / bộ thủ Hán biểu ý + chữ Nôm biểu âm: lời (口 + trời), lườm
    (目 + làm), trộm (盜 + trùm)…

    B11. Chữ Hán biểu âm + chữ Hán / bộ thủ Hán chỉ tương quan nghĩa: gần (斤biểu âm + 貝chỉ tương quan nghĩa với 賒 xa)…

    7. Âm thành phần sẽ trùng với âm toàn chữ nếu chữ Nôm thuộc loại A, loại vay mượn, và là một trong ba âm cổ Hán Việt, Hán Việt, Hán Việt Việt hoá. Âm thành phần có thể là âm Nôm nếu chữ Nôm thuộc loại B4, B5 và B10 nói trên (xem chú thích 6. ngay trên).

    8. Đồng âm ở đây được hiểu là theo cách phát âm Nam Bộ; theo đó, những cặp từ sau đây được coi là đồng âm: chín/chính, tín/tính, xin/xinh, đít/đích, vì/gì, da/gia, vòng/dòng, ban/bang, tiên/tuyên, chiến/chuyến, thả/thoả, đoàn/đàn/đàng, hùn/hùng, chun/chung, cũng/củng…

    9. Trường hợp chữ Hán “hoàng” đọc thành Nôm “vàng”, “hoạ” đọc thành “vạ”, “hoạ” đọc thành “vẽ”…, thoạt nhìn thấy lạ vì âm /h/ là âm thanh hầu, còn âm /v/ là âm môi răng, có vị trí phát âm rất xa. Nhà ngữ học Nguyễn Tài Cẩn chỉ ra rằng, đây là hiện tượng thuộc ngữ âm lịch sử: /hw-/ > /w-/ > /v-/ (vốn /h/ đứng trước âm đệm /w/ diễn biến rụng /h/, chỉ còn /w/, tiếp tục /w/ diễn biến thành /v/).

    10. / /: ký hiệu chỉ phụ âm tắc thanh hầu, thể hiện trên chữ viết Quốc ngữ là khuyết mẫu tự, ví dụ: ai ơi.

    Nguồn: http://khoavanhoc-ngonngu.edu.vn

+ Trả lời Chủ đề
Quyền viết bài
  • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
  • Bạn Không thể Gửi trả lời
  • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
  • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình