+ Trả lời Chủ đề

Chủ đề: Tìm hiểu các chỉ số trong xét nghiệm

Trang 2 của 2 Đầu tiênĐầu tiên 1 2
Kết quả 11 đến 20 của 20
  1. #11
    Vượt ngàn trùng sóng obaasan has a reputation beyond repute obaasan has a reputation beyond repute obaasan has a reputation beyond repute obaasan has a reputation beyond repute obaasan has a reputation beyond repute obaasan has a reputation beyond repute obaasan has a reputation beyond repute obaasan has a reputation beyond repute obaasan has a reputation beyond repute obaasan has a reputation beyond repute obaasan has a reputation beyond repute obaasan's Avatar
    Ngay tham gia
    Aug 2008
    Bài viết
    3,442
    Rep Power
    10

    Re: Tìm hiểu các chỉ số trong xét nghiệm

    Xét nghiệm cặn trong nước tiểu
    Urine Sediment


    - Bình thường không có hoặc rất ít hồng cầu trong nước tiểu

    - Nếu lấy mẫu nước tiểu khi đang có kinh nguyệt sẽ có hồng cầu trong nước tiểu cũng là bình thường.

    - Hồng cầu trong nước tiểu có trong một số bệnh lý sau: sỏi thận, sỏi bàng quang, viêm cầu thận, viêm bàng quang, chấn thương đường tiết niệu, lao thận, ung thư thận, khối u đường tiết niệu,...

    - Tế bào biểu mô: bình thường trong nước tiểu cũng có nhưng sẽ tăng khi có nhiễm khuẩn tiết niệu.

    Khi các chỉ số này có số lượng trong nước tiểu càng nhiều thì nghĩ tới yếu tố bệnh lý càng rõ ràng. Tuy nhiên, để chấn đoán chính xác cần dựa thêm vào khám lâm sàng và làm thêm một số xét nghiệm khác nữa.

    Nên hàng ngày uống nhiều nước để tăng đào thải các thành phần trong nước tiểu (đặc biệt là vi khuẩn nếu có nhiễm khuẩn tiết niệu) . Nếu vẫn có nhiều hồng cầu trong nước tiểu thì đến khám tại các bệnh viện chuyên khoa hoặc đa khoa.


    Chỉ số xét nghiệm nước tiểu sau có bình thường không?


    Bác sĩ cho em hỏi em có đi xét nghiệm nước tiểu có kết quả như sau: leucocytes 25 leuko/ul nitrite neg - urobilinogen normal mg/dl protein neg - mg/dl ph 7,0 blood neg - ery/ul density 1,010 ketone neg- bilirubin neg- mg/dl glucose neg- mg/dl Bác sĩ cho em hỏi em có cần uống thuốc gì không? sao em cứ mắc tiểu khoảng 15 phút là đi một lần em có siêu âm thì Bác sĩ nói em có sạn nhỏ uống nước nhiều là hết. Em xin cám ơn Bác sĩ ạ.

    Chào bạn!
    Nước tiểu được hình thành liên tục từ hai quả thận, đó là sản phẩm dịch lọc của máu trong quá trình chuyển hoá các chất mà cơ thể ăn uống, cơ thể sản sinh ra. Vì vậy thành phần, tính chất, màu sắc của nước tiểu hoàn toàn phụ thuộc vào chế độ ăn uống, sinh hoạt hàng ngày của chúng ta.
    Trường hợp của bạn, các chỉ số xét nghiệm nước tiểu đều trong giới hạn bình thường, Leucocytes là tế bào bạch cầu thường có trong nước tiểu từ 10- 25 LEU/UL. Khi có viêm đường niệu thì chỉ số LEU thường tăng, đi tiểu nhiều lần, có thể biểu hiện tiểu buốt, tiểu dắt. Theo tôi bạn có biểu hiện nhiễm khuẩn tiết niệu do bạn đi tiểu lên tục, nước tiểu xét nghiệm có LEU25/ul là chỉ số cao trong giới hạn cho phép, bạn nên uống một đợt kháng sinh: Noroxin 400mg, ngày 2 viên chia 2 lần, uống liên tục trong 5 ngày.
    Bạn nên uống nhiều nước hàng ngày, khoảng 2 lít/ 24h, giữ vệ sinh sạch sẽ bộ phận sinh dục sau mỗi lần sinh hoạt, vệ sinh đại tiểu tiện…Khi bạn biết giữ gìn vệ sinh và sinh hoạt điều độ, cơ thể khoẻ mạnh thì chỉ số nước tiểu sẽ trở về hoàn toàn bình thường. Chúc bạn luôn luôn khoẻ mạnh.
    Lần sửa cuối bởi obaasan, ngày 01-12-2015 lúc 10:27 AM.
    Woman of short-lived passions

  2. #12
    Vượt ngàn trùng sóng obaasan has a reputation beyond repute obaasan has a reputation beyond repute obaasan has a reputation beyond repute obaasan has a reputation beyond repute obaasan has a reputation beyond repute obaasan has a reputation beyond repute obaasan has a reputation beyond repute obaasan has a reputation beyond repute obaasan has a reputation beyond repute obaasan has a reputation beyond repute obaasan has a reputation beyond repute obaasan's Avatar
    Ngay tham gia
    Aug 2008
    Bài viết
    3,442
    Rep Power
    10

    Re: Tìm hiểu các chỉ số trong xét nghiệm

    Những điều cần biết về sỏi đường tiết niệu

    Tôi có người nhà ở Việt Nam bị sỏi đường tiểu. Xin cho biết vì sao bị sỏi đường tiểu, có những loại sỏi gì, tác hại của sỏi đường tiểu, chẩn đoán và điều trị hiện nay ở Việt Nam như thế nào? Người bị sỏi cần ăn uống theo chế độ như thế nào? Xin cảm ơn nhiều.

    (Nguyễn Văn Nhân, USA)



    - Trả lời:
    Chào anh,
    Sỏi đường tiết niệu là một bệnh lý phổ biến, chiếm 30-40% số bệnh nhân tiết niệu. Phẫu thuật sỏi đường tiết niệu đứng hàng đầu trong các phẫu thuật tiết niệu (50-60%). Tuổi mắc bệnh thường là 20-60, nam nhiều hơn nữ.





    Hiện nay, tại Việt Nam có đầy đủ phương tiện chẩn đoán và điều trị hiện đại mà chúng tôi trình bày dưới đây.
    Chúng tôi xin trả lời anh theo trình tự như sau:
    1. Có các loại sỏi nào trong đường tiết niệu?
    Sỏi đường tiết niệu được chia ra sỏi đường tiết niệu trên gồm sỏi thận và sỏi niệu quản, sỏi đường tiết niệu dưới gồm sỏi bàng quang và sỏi niệu đạo.
    Các loại sỏi: sỏi calci chiếm 80% gồm calcium oxalate (monohydrate và dihydrate), calcium phosphate, calcium oxalate and phosphate; sỏi struvite (magnesium ammonium phosphate) 10%; sỏi uric acid 8%; sỏi cystine 1%; các loại khác chiếm 1% gồm triamterene, xanthine, matrix.

    2. Vì sao bị sỏi đường tiết niệu?
    Quá trình hình thành sỏi đường tiết niệu rất phức tạp, do nhiều yếu tố gây ra.
    Hòn sỏi có một cấu trúc đặc thù gồm 2 yếu tố:
    - Chất mucoprotein có tác dụng như chất keo kết dính các tinh thể với nhau để tạo sỏi.
    - Các tinh thể của các chất bình thường được hòa tan trong nước tiểu, chủ yếu là calci và oxalate, ngoài ra còn có phosphate, magne, urat, cystine.

    Khi nước tiểu bị cô đặc quá mức hoặc khi pH nước tiểu thay đổi thì các chất hòa tan trong nước tiểu sẽ kết tinh lại thành các tinh thể, và các tinh thể sẽ bị loại trừ theo dòng nước tiểu, cần phải có chất mucoprotein thì các tinh thể mới liên kết được với nhau để tạo ra hòn sỏi. Nhiễm trùng tiết niệu dễ gây kết tụ sỏi. Những bất thường ở đường tiết niệu làm chậm hoặc bế tắc dòng nước tiểu dễ gây kết tụ sỏi.
    Các yếu tố nguy cơ tăng tạo sỏi:
    - Rối loạn về chuyển hóa.
    - Rối loạn về nội tiết.
    - Yếu tố môi trường.
    - Chế độ ăn.
    - Các bất thường về giải phẫu của đường tiết niệu.

    3. Hòn sỏi trong đường tiết niệu diễn tiến ra sao?


    Sau khi được hình thành trong đường tiết niệu, hòn sỏi khi còn nhỏ thông thường sẽ đi theo dòng nước tiểu và được tống ra ngoài. Nhưng nếu hòn sỏi bị vướng lại ở một vị trí nào đó trên đường tiết niệu nó sẽ to ra gây bế tắc ứ đọng nước tiểu, lâu ngày sẽ đưa đến các biến chứng là:
    - Ứ nước thận niệu quản.
    - Nhiễm trùng.
    - Phát sinh thêm các hòn sỏi khác.
    Và cuối cùng sẽ phá hủy dần phần thận đã sản sinh ra nó gây ra thận mất chức năng, suy thận, thận mủ.
    Trong trường hợp sỏi niệu quản 2 bên, có thể gây ra suy thận cấp, vô niệu.

    4. Khi bị sỏi đường tiết niệu thì có dấu hiệu gì?


    Trong nhiều trường hợp sỏi thận, sỏi có thể rất to, thậm chí thành sỏi san hô mà bệnh nhân không có triệu chứng gì, hoặc chỉ đau âm ỉ vùng hông lưng bên có sỏi, do đó nhiều bệnh nhân đến bệnh viện khi đã có biến chứng nhiễm trùng hoặc suy thận.
    Sỏi không tắc nghẽn thường được phát hiện tình cờ khi bệnh nhân đi khám bệnh tổng quát, hoặc đôi khi bệnh nhân có dấu hiệu tiểu máu.
    Sỏi gây tắc nghẽn thường có triệu chứng đau vùng hông lưng. Trường hợp điển hình sẽ có cơn đau quặn thận do sỏi. Cơn đau có thể lan xuống bẹn, đùi tùy vị trí và mức độ bế tắc. Trong lúc đau quặn thận thường có kèm tiểu máu đại thể hoặc vi thể, buồn nôn, nôn, triệu chứng nhiễm trùng.
    Sỏi bàng quang thường có biểu hiện lâm sàng là đau ở vùng hạ vị, tiểu ngắt quãng, tiểu khó, bí tiểu hoặc tiểu máu. Bệnh nhân có thể bị nhiễm trùng tiểu nhiều lần.

    5. Làm gì để khẳng định có sỏi đường tiết niệu?


    Cần chụp phim hệ niệu không sửa soạn (KUB) và làm tổng phân tích nước tiểu, cấy nước tiểu. Khoảng 80% trường hợp là sỏi cản quang nên có thể thấy trên phim KUB. Siêu âm bụng cũng rất hữu ích, nhất là trong việc đánh giá mức độ ứ nước của thận. Siêu âm có thể giúp phát hiện sỏi đường tiết niệu.
    Chụp phim hệ niệu nội tĩnh mạch (UIV) cho phép đánh giá chức năng và hình ảnh hệ niệu. Đôi khi cần phải chụp các phim muộn (sau 4-6 giờ, thậm chí 24 giờ) nhất là trong trường hợp sỏi không cản quang hoặc thận chậm bài tiết.
    Hiện nay, chụp điện toán cắt lớp (CTscan và mới hơn là MSCT) với ưu điểm là nhanh không cần rửa ruột và một số trường hợp không cần dùng thuốc cản quang, giúp xác định chính xác sỏi đường tiết niệu, chức năng và hình dạng đường tiết niệu.

    6. Điều trị sỏi đường tiết niệu như thế nào?


    Các nguyên tắc chính trong điều trị sỏi đường tiết niệu như sau:
    - Điều trị nội khoa (không cần mổ) được áp dụng đối với sỏi không gây bế tắc, không gây triệu chứng, không có nhiễm trùng. Sỏi nhỏ hơn 4-5mm có thể tự ra theo dòng nước tiểu, bệnh nhân được khuyên nên uống nhiều nước. Sỏi niệu quản có kích thước nhỏ hơn 4mm thì 90% sẽ tự tiểu ra. (Tuy nhiên, nếu sỏi lớn hơn 6mm thì khả năng tiểu ra sỏi chỉ khoảng 20%).
    - Sỏi đường tiết niệu gây nhiễm trùng hoặc bế tắc có chỉ định can thiệp ngoại khoa càng sớm càng tốt.
    - Tùy kích thước và vị trí của sỏi trên đường tiết niệu và đặc điểm bệnh nhân mà có những phương pháp điều trị khác nhau như: mổ mở, tán sỏi ngoài cơ thể (ESWL), phẫu thuật nội soi lấy sỏi qua da (PCNL), nội soi bàng quang niệu quản tán sỏi, phẫu thuật nội soi sau phúc mạc lấy sỏi niệu quản. Mỗi phương pháp có những chỉ định cũng như ưu nhược điểm khác nhau.

    7. Chế độ ăn uống cho bệnh nhân sỏi đường tiết niệu:


    Uống nhiều nước: nên uống khoảng 2,5-3 lít nước lọc mỗi ngày hoặc ăn uống làm sao để có lượng nước tiểu đạt trên 2,5 lít trong một ngày sẽ giúp tránh bị sỏi niệu.
    Ăn lạt, ăn ít thịt động vật: ăn thực phẩm chứa ít muối, ăn ít các loại thịt.
    Ăn uống điều độ thực phẩm chứa calci như sữa, phômai… Mỗi ngày có thể dùng khoảng 3 ly sữa tươi hoặc một số lượng tương đương các sản phẩm từ sữa như bơ, phômai (khoảng 800-1.300mg chất calci). Không nên kiêng cữ quá mức những thực phẩm chứa calci vì như thế sẽ gây ra mất cân bằng trong việc hấp thu calci, khiến cơ thể hấp thu nhiều hơn oxalate từ ruột và sẽ tạo sỏi niệu, ngoài ra kiêng cữ thực phẩm chứa calci sẽ bị bệnh loãng xương.
    Kiêng cữ thực phẩm chứa nhiều oxalate như trà đặc, bột cám, ngũ cốc, rau muống, sôcôla, cà phê… khi lượng oxalate bài tiết trong nước tiểu gia tăng hơn bình thường (khoảng 45mg/24giờ).

    Nên uống nhiều nước cam, nước chanh tươi, nước bưởi: những loại thức uống này chứa nhiều citrat giúp chống lại sự tạo sỏi niệu.
    Nên ăn nhiều rau tươi có chất xơ: giúp tiêu hóa nhanh, giảm hấp thu các chất gây sỏi niệu.
    Tránh ăn nhiều thực phẩm chứa chất purine gây sỏi niệu như cá khô, thịt khô, khô mực, tôm khô, lạp xưởng, các loại mắm nêm, mắm thái, lòng heo, lòng bò…


    Woman of short-lived passions

  3. #13
    Vượt ngàn trùng sóng obaasan has a reputation beyond repute obaasan has a reputation beyond repute obaasan has a reputation beyond repute obaasan has a reputation beyond repute obaasan has a reputation beyond repute obaasan has a reputation beyond repute obaasan has a reputation beyond repute obaasan has a reputation beyond repute obaasan has a reputation beyond repute obaasan has a reputation beyond repute obaasan has a reputation beyond repute obaasan's Avatar
    Ngay tham gia
    Aug 2008
    Bài viết
    3,442
    Rep Power
    10

    Re: Tìm hiểu các chỉ số trong xét nghiệm

    Epithelial Cells

    Ngày 29/10/2013 tôi làm xét nghiệm tại trung tâm y khoa medic 254 hòa hảo TPHCM. Trong phiếu xét nghiệm (Cột tên xét nghiệm: Epithelial Cells; kết quả = 45 H ; CSBT (0-10)/ul). (Cột tên xét nghiệm: Ca; kết quả = 2.15 L ; CSBT (2.20-2.80mmol/L). Vậy tôi bị bệnh gì? cần điều trị ở đâu? để có kết quả tốt. Rất mong câu trả lời của Bác sĩ. Xin chân thành cảm ơn!.

    - Epithelial Cells là tế bào biểu mô trong xét nghiệm cặn nước tiểu. Đây là những tế bào chết tại các biểu mô của hệ tiết niệu, nhưng nếu thấy nhiều, kết hợp với có hồng cầu và bạch cầu trong nước tiểu là viêm nhiễm đường tiết niệu. Chị cần nuôi cấy nước tiểu để tìm vi khuẩn gây bệnh.

    - Ca: 2.15 mmol/L, bình thường (2.20-2.80mmol/L): Kết quả của chị giảm nhẹ.

    Nguyên nhân hạ canxi máu là do ăn thiếu calci hoặc thiếu vitamin D hoặc cả hai; bị cắt đoạn ruột; rối loạn nội tiết (như suy giáp, ung thư giáp, giảm đạm máu, tăng phosphat máu, dùng thuốc lợi tiểu Furosemide hoặc kháng sinh Aminoside…). Canxi rất cần được cung cấp cho cơ thể trong suốt các giai đoạn của cuộc sống.

    Chị nên ăn uống thêm sữa và chế phẩm sữa, phô mai là nguồn cung cấp calci quan trọng, sau đó là đậu hũ, hải sản (cá nhỏ nguyên xương, tôm tép nguyên vỏ, đậu các loại, mè, rau xanh,…). Trong đó, calci trong sữa dễ hấp thu hơn là từ các nguồn thực phẩm khác. Đặc biệt, thường xuyên tắm nắng.

    Chúc chị và gia đình khỏe mạnh, hạnh phúc.

    Khoa Xét nghiệm
    Woman of short-lived passions

  4. #14
    Vượt ngàn trùng sóng obaasan has a reputation beyond repute obaasan has a reputation beyond repute obaasan has a reputation beyond repute obaasan has a reputation beyond repute obaasan has a reputation beyond repute obaasan has a reputation beyond repute obaasan has a reputation beyond repute obaasan has a reputation beyond repute obaasan has a reputation beyond repute obaasan has a reputation beyond repute obaasan has a reputation beyond repute obaasan's Avatar
    Ngay tham gia
    Aug 2008
    Bài viết
    3,442
    Rep Power
    10

    Re: Tìm hiểu các chỉ số trong xét nghiệm

    Hỏi:

    Vui lòng cho tôi hỏi ý nghĩa kết quả xét nghiệm:
    HP Test-IgG (Elisa):
    POS 265.79 U/mL.KHOẢNG THAM CHIẾU( < 20; GZ: 20 - 30 U/mL )

    HP Test-IgM (Elisa): NEG 20.64 U/mLKHOẢNG THAM CHIẾU( < 30; GZ: 30 - 40 U/mL )

    Trả lời:

    Xét nghiệm này nhằm tìm hiểu xem bạn đã từng nhiễm virus HP trong quá khứ hay không.
    Để xác định có còn Hp hay không thì cần đi xét nghiệm thổi hơi và nội soi dạ dày sẽ chính xác hơn xét nghiệm máu.



    Vi khuẩn HP (Helicobacter polory) là một nguyên nhân gây viêm loét dạ dày, hành tá tràng.
    Vi khuẩn HP lây truyền qua đường tiêu hóa.

    Để xác định vi khuẩn HP có nhiều phương pháp:
    - Test HP thực hiện trong khi soi dạ dày;
    - Test HP qua hơi thở;
    - Test HP qua máu;
    - Định lượng HP IgG, IgM qua máu.

    Lấy máu làm xét nghiệm đánh giá nhiễm Hp là xét nghiệm tìm kháng thể kháng vi khuẩn Hp trong máu.

    Kết quả xét nghiệm cho thấy HP máu của bạn dương tính có nghĩa bạn bị nhiễm vi khuẩn H.Pylory là một vi khuẩn có vai trò quan trọng trong cơ chế gây bệnh viêm loét ở dạ dày - tá tràng.

    Bạn cần khám nội tiêu hóa để được chẩn đoán bệnh và điều trị đúng phác đồ.


    (
    BS. Nguyễn Thị Hòa, Bác sĩ đa khoa, Bệnh viện đa khoa Đống Đa )


    ---------------------------------------

    Bài đọc thêm:


    Cách loại bỏ vi khuẩn Hp gây bệnh dạ dày triệt để


    Vi khuẩn Hp (Helicobacter pylori, hay H.pylori) là loại xoắn khuẩn sinh sống trong dạ dày người. Chúng có thể gây bệnh trên cả người lớn và trẻ em, xu hướng mắc trên trẻ em ngày càng gia tăng. Vi khuẩn Hp là tác nhân hàng đầu gây Ung thư dạ dày. Vì vậy, loại bỏ được loại vi khuẩn này cũng có thể giúp bảo vệ hàng triệu người khỏi tử vong hàng năm do Ung thư dạ dày gây ra.

    Tham khảo thêm: Vi khuẩn HP là gì ?



    Vi khuẩn Hp là mối đe dọa hàng đầu cho sức khỏe dạ dày


    Nguyên nhân chính gây Loét dạ dày tá tràng, Viêm dạ dày mạn tính

    Nhiễm khuẩn Hp và sử dụng các thuốc chống viêm giảm đau (NSAIDs) là hai nguyên nhân chính dẫn tới loét dạ dày tá tràng. Điều này đã được y học hiện đại chứng minh và bác bỏ quan niệm cũ cho rằng thức ăn, thói quen sinh hoạt, sử dụng rượu bia là nguyên nhân gây loét dạ dày tá tràng. Trong khi loét dạ dày tá tràng do sử dụng thuốc có thể hồi phục dễ dàng nhờ việc điều chỉnh thuốc, giảm hoặc ngừng hẳn việc sử dụng thì loét dạ dày tá tràng do vi khuẩn Hp gây ra lại phức tạp hơn.


    Để chứng minh cho tác hại của vi khuẩn Hp, chúng ta đều nhớ tới thí nghiệm y khoa nguy hiểm nhất trên thế giới của bác sỹ Barry Marshall, người đã tự gây nhiễm vi khuẩn Hp cho chính mình và sau đó bắt đầu có triệu chứng nhiễm khuẩn Hp sau 1 tuần với các biểu hiện đau bụng vùng thường vị, buồn nôn và nôn dữ dội, đầy bụng và chán ăn… Cho tới nay, không ai phủ nhận được vai trò chính của loại vi khuẩn này trong bệnh lý Loét dạ dày tá tràng.


    Tác nhân hàng đầu gây Ung thư dạ dày

    Ung thư dạ dày là nguyên nhân thứ hai gây tử vong do Ung thư trên thế giới (xếp sau Ung thư phổi). Loại Ung thư này thường không được phát hiện sớm và chưa có biện pháp phòng ngừa chủ động. Mỗi năm, có khoảng 1 triệu ca mắc Ung thư dạ dày được phát hiện, tỷ lệ sống sót trong 5 năm kể từ khi phát hiện Ung thư dạ dày là rất thấp, nhất là ở các nước đang phát triển như Việt Nam. Những yếu tố nguy cơ dẫn tới Ung thư dạ dày như gen di truyền, chỉ số BMI, chế độ ăn, uống rượu, hút thuốc, tiền sử bệnh dạ dày, nhóm máu, vi khuẩn Hp…. Trong đó, vi khuẩn Hp là yếu tố nguy cơ hàng đầu, theo tổ chức Y tế thế giới WHO.



    Vi khuẩn Hp là tác nhân hàng đầu gây Ung thư dạ dày



    Trong một nghiên cứu rất công phu của các GS.BS đầu ngành tiêu hóa Việt Nam (GS. Tạ Long, GS. Đái Duy Ban…) đã chỉ ra mối quan hệ mật thiết giữa Ung thư dạ dày và nhiễm khuẩn Hp trong 208 bệnh nhân. Các nhà khoa học đã phối hợp giữa trung tâm trường ĐH Y Hà Nội và trường Đại học Y Fukini – Nhật Bản, để hoàn thiện công trình. Trong nghiên cứu này cũng như các nghiên cứu khác trên thế giới đều cho kết quả là tới trên 90% bệnh nhân Ung thư dạ dày có nhiễm vi khuẩn Hp hoặc đã từng nhiễm vi khuẩn Hp trong cuộc đời.

    Bên cạnh đó, nhiễm khuẩn Hp ở trẻ em cũng được cho là nguyên nhân gây gia tăng tỷ lệ Ung thư dạ dày bởi Ung thư dạ dày do vi khuẩn Hp gây ra thường tiến triển theo nhiều năm tháng sau nhiễm khuẩn, đặc biệt với những trường hợp nhiễm khuẩn nhưng không được điều trị triệt để.


    Phương pháp điều trị bệnh lý dạ dày có vi khuẩn Hp

    Kể từ sau năm 1983 tới nay, khi bác sỹ người Úc – Barry Marshall tìm ra vi khuẩn Hp và vai trò chính của loại vi khuẩn này trong các bệnh lý dạ dày, ông cũng đồng thời tìm ra cách để chữa trị bệnh lý dạ dày có vi khuẩn Hp cho tất cả những bệnh nhân tìm đến với ông bằng thuốc kháng sinh. Từ năm 1990 trở đi, việc điều trị bệnh lý dạ dày có vi khuẩn Hp bắt buộc phải tiệt trừ vi khuẩn Hp trong dạ dày.Phác đồ để điều trị bệnh dạ dày có vi khuẩn Hp là phác đồ sử dụng kết hợp ít nhất 2 loại kháng sinh với một thuốc ức chế acid dạ dày. Thuốc kháng sinh có vai trò tiêu diệt nguyên nhân gây bệnh là vi khuẩn Hp, trong đó thuốc giảm tiết acid dạ dày có tác dụng hỗ trợ làm lành vết loét trong dạ dày, giảm viêm dạ dày. Ngoài ra, để tăng cường hiệu quả diệt trừ Hp của kháng sinh, bệnh nhân cũng có thể sử dụng kết hợp kháng thể chống vi khuẩn Hp, một phát minh của người Nhật Bản.

    Tìm hiểu đầy đủ: Phác đồ điều trị đau dạ dày do vi khuẩn HP


    3 thách thức trong việc điều trị vi khuẩn Hp của bệnh nhân


    Bằng cách sử dụng phác đồ điều trị Hp, bệnh dạ dày được chữa trị hiệu quả hơn hẳn so với trước đây, giúp giảm thiểu số ca bệnh biến chứng xuất huyết dạ dày. Tuy nhiên, một vài năm trở lại đây, việc điều trị vi khuẩn Hp gặp nhiều thách thức lớn buộc các nhà khoa học phải tìm ra nhiều khám phá mới để khắc phục khó khăn.


    Thứ nhất là tình trạng Hp đề kháng kháng sinh ngày càng gia tăng. Theo nhiều nghiên cứu tiến hành trên thế giới cũng như ở Việt Nam, tỷ lệ vi khuẩn Hp đề kháng các loại kháng sinh điều trị ngày một gia tăng nhanh chóng, thậm chí có nhiều chủng vi khuẩn Hp đã đề kháng nhiều loại kháng sinh điều trị. Hiện nay tỷ lệ tiệt trừ thành công vi khuẩn Hp trong phác đồ đầu tiên chỉ đạt được khoảng 45%, có tới 55% ca điều trị thất bại sau phác đồ đầu tiên.



    Vi khuẩn Hp kháng thuốc và đa kháng thuốc ngày càng gia tăng



    Thứ hai là tình trạng nhiễm khuẩn Hp ở trẻ em gia tăng cùng tỷ lệ nhiễm bệnh dạ dày. Việc điều trị vi khuẩn Hp ở trẻ em gặp rất nhiều thách thức do tỷ lệ Hp kháng thuốc ở trẻ em cao hơn ở người lớn, kháng sinh lựa chọn trong điều trị Hp ở trẻ em hạn chế, khả năng tuân thủ điều trị bệnh của trẻ em thấp và tỷ lệ tái nhiễm Hp sau điều trị cao do không biết cách phòng tránh nhiễm khuẩn Hp. Hiện nay, ngay cả những trẻ khoảng 2 tuổi, 3 tuổi cũng có thể bị viêm dạ dày do vi khuẩn Hp gây ra, việc điều trị đúng phác đồ kháng sinh cho trẻ ở lứa tuổi này gần như không thể.Thứ ba là tình trạng lây nhiễm vi khuẩn Hp, tái nhiễm vi khuẩn Hp không kiểm soát được. Con đường lây nhiễm phổ biến nhất là con đường ăn uống, do vệ sinh ăn uống kém, do sinh hoạt cùng bệnh nhân nhiễm khuẩn Hp. Do đó, việc phòng ngừa mắc vi khuẩn Hp cũng gặp khó khăn. Thách thức này đặt ra yêu cầu phải nhanh chóng tạo ra một loại vaccine chống lại vi khuẩn Hp hoặc một loại chế phẩm có thể sử dụng được để phòng ngừa lây nhiễm đồng thời chống tái nhiễm vi khuẩn Hp trong quy mô cộng đồng.


    Đột phá mới của Nhật Bản giúp loại bỏ vi khuẩn Hp triệt để

    Như vậy, để điều trị triệt để bệnh lý dạ dày do vi khuẩn Hp gây ra thì phải tiêu diệt triệt để được vi khuẩn Hp. Ngoài ra, cần phải dự phòng tái nhiễm, chống lây nhiễm và phải đảm bảo an toàn cho bệnh nhân đặc biệt là trẻ nhỏ. Khi điều trị bệnh do vi khuẩn Hp gây ra, bệnh nhân cần chú ý:
    • Tránh ăn các thức ăn kích thích như đồ cay, nóng quá, lạnh quá, đồ xào, rán, nhiều mỡ.
    • Không vận động mạnh sau khi ăn.
    • Tránh các stress tâm lý.
    • Không sử dụng rượu, bia, thuốc lá, nhất là trong thời gian uống thuốc.
    • Vệ sinh ăn uống, phòng tái nhiễm vi khuẩn Hp.
    Tuy nhiên, những phương pháp trên về cơ bản không giúp làm tăng hiệu quả của phác đồ điều trị vi khuẩn Hp. Chúng cũng không phải là biện pháp nâng cao khả năng tránh tái nhiễm, lây nhiễm Hp.Hiện nay, để đối phó với tất cả các thách thức trong việc điều trị vi khuẩn Hp ở cả người lớn và trẻ em thì tại Nhật Bản đã áp dụng thành công loại kháng thể OvalgenHP, kháng thể đầu tiên và duy nhất trên thế giới có khả năng ức chế đặc hiệu vi khuẩn Hp. Loại kháng thể OvalgenHP được chiết xuất từ lòng đỏ trứng gà sau khi đã được gây miễn dịch với yếu tố Urease của vi khuẩn Hp, nhờ đó nó có khả năng ức chế sinh trưởng của vi khuẩn Hp trên nhiều cơ chế khác nhau. OvalgenHP có thể sử dụng trong phối hợp điều trị và phòng ngừa bệnh do vi khuẩn Hp gây ra.



    Kháng thể OvalgenHP giúp tăng gấp đôi hiệu quả tiệt trừ Hp của phác đồ điều trị Hp thông thường
    (nghiên cứu tại Việt Nam 2016 bởi PGS.TS.BS. Vũ Văn Khiên)



    OvalgenHP khi được sử dụng cùng phác đồ kháng sinh sẽ làm gia tăng tỷ lệ thành công của việc điều trị vi khuẩn Hp do tác dụng phá vỡ cấu trúc màng tế bào vi khuẩn Hp, làm kháng sinh dễ dàng tiêu diệt vi khuẩn Hp, ngay cả những chủng vi khuẩn trước đây đã kháng thuốc và điều trị đã bị thất bại. Ngoài ra, việc sử dụng OvalgenHP còn giúp tránh lây nhiễm vi khuẩn Hp sang các thành viên trong gia đình.Việc ứng dụng kháng thể OvalgenHP trong điều trị vi khuẩn Hp đã mở ra một thời kỳ mới trong kiểm soát nhiễm khuẩn Hp đồng thời tăng cường thêm các lựa chọn cho bác sỹ, bệnh nhân bị bệnh lý dạ dày. Đặc biệt là các đối tượng như trẻ em, phụ nữ mang thai, người bị viêm dạ dày mạn tính có vi khuẩn Hp, người có vi khuẩn Hp đã đề kháng kháng sinh.

    http://gastimunhp.vn/loai-bo-vi-khuan-hp-gay-benh-da-day-3005/


    ---------------------------


    Phác đồ điều trị đau dạ dày do vi khuẩn Hp

    Phác đồ điều trị vi khuẩn Hp cập nhật nhất

    Các phác đồ điều trị đau dạ dày do vi khuẩn Hp (có vi khuẩn Hp dương tính) cập nhật sau đây được thống nhất bởi hội nghị Masstricht IV (2013) và được các bác sỹ tiêu hóa hàng đầu Việt Nam áp dụng với sự thay đổi không đáng kể theo vùng miền.
    Người bệnh cần phải nắm được sơ bộ các thuốc điều trị, các phác đồ điều trị để tuân thủ việc điều trị Hp tốt nhất. Đây không phải đơn thuần là nhiệm vụ của các bác sỹ mà việc tuân thủ điều trị, trên thực tế, hoàn toàn do hiểu biết và ý thức của bệnh nhân. Điều quan trọng là bệnh nhân cần phân biệt được các thuốc khác nhau, từ đó khi sử dụng đơn thuốc có nhiều thuốc bác sỹ kê, bệnh nhân sẽ biết cách sử dụng thuốc nào vào thời điểm nào, liều dùng và cách dùng chính xác.





    Phác đồ điều trị vi khuẩn ở bệnh nhân loét DD-TT (người lớn)


    Các phác đồ điều trị được Hội tiêu hóa thế giới ban hành cũng được áp dụng tại Việt Nam. Tuy nhiên, tùy theo một số vùng miền, đặc tính kháng thuốc của chủng Hp tại địa phương mà sẽ có những điều chỉnh nhất định. Sau đây là một số điều chỉnh như vậy tại Việt Nam.


    Lưu ý: Tình trạng Hp kháng thuốc gia tăng nhanh chóng, tỷ lệ nhiễm HP ở trẻ em mỗi ngày một tăng cho nên hiện nay, một số nước trên thế giới trong đó có Việt Nam đã kết hợp loại kháng thể GastimunHP của Nhật Bản trong phác đồ điều trị Hp để chống vi khuẩn Hp kháng thuốc, tăng khả năng tiệt trừ hoàn toàn vi khuẩn Hp, đồng thời chống lây nhiễm vi khuẩn Hp mà không gây tác dụng bất lợi với người sử dụng, đặc biệt là trẻ nhỏ.

    Xem thêm: Thuốc điều trị vi khuẩn Hp

    Phác đồ tiệt trừ Hp lần đầu
    • Ở miền Trung và miền Bắc (Khu vực có tỷ lệ vi khuẩn Hp đề kháng Clarithromycin còn ở mức trung bình): Có thể sử dụng phác đồ PPI + Amoxicillin + Clarithromycin trong 14 ngày là phác đồ lần đầu.
    • Ở miền Nam (Khu vực có tỷ lệ vi khuẩn Hp kháng thuốc kháng sinh Clarithromycin, Metronidazol ở mức cao): phác đồ PPI + Amoxicillin + Clarithromycin tỏ ra kém hiệu quả. Nên sử dụng phác đồ nối tiếp hoặc phác đồ 4 thuốc sử dụng đồng thời.

    Phác đồ tiệt trừ Hp lần 2 (sau khi thất bại với lần 1)
    • Sử dụng phác đồ 4 thuốc có Bismuth, nếu trước đó chưa dùng phác đồ này.
    • Sử dụng phác đồ PPI + Amoxicillin + Levofloxacin nếu trước đó đã dùng phác đồ 4 thuốc có Bismuth
    • Không dùng lại kháng sinh đã sử dụng trong phác đồ điều trị bị thất bại trước đó, đặc biệt là Clarithromycin (ngoại trừ Amoxicillin) vì tỷ lệ kháng thuốc rất cao. Vì vậy, người bệnh cần đặc biệt lưu ý: lưu trữ lại các đơn thuốc trước đây đã sử dụng và trình bày với bác sỹ khi đi khám bệnh trong các lần tiếp theo. Điều này là vô cùng quan trọng đối với bác sỹ và bệnh nhân để việc điều trị Hp thành công.

    Phác đồ cứu vãn và sự kết hợp mới nhất


    Trong trường hợp vẫn tiệt trừ thất bại sau hai lần điều trị, cần nuôi cấy vi khuẩn làm kháng sinh đồ rồi mới đưa ra phác đồ điều trị. Tuy nhiên, cũng phải nói rằng, việc nuôi cấy vi khuẩn Hp không phải lúc nào cũng thành công, do khó khăn về mặt kỹ thuật, đặc biệt là tại các trung tâm y tế tuyến tỉnh, thậm chí các thành phố lớn. Chính vì vậy nên việc chẩn đoán Hp kháng thuốc đã số vẫn mang tính kinh nghiệm và cảm giác của bác sỹ điều trị.

    Cách kết hợp mới tại Nhật Bản: Một giải pháp mới gần đây được các chuyên gia tiêu hóa khuyến cáo lựa chọn kết hợp cùng các thuốc diệt vi khuẩn Hp là kháng thể chống vi khuẩn Hp (GastimunHP). Loại kháng thể này được Nhật Bản lựa chọn là vũ khí chống lại vi khuẩn Hp trong thế kỷ mới. Ngoài việc nó giúp đảm bảo sự thành công của phác đồ điều trị Hp cổ điển, loại kháng thể này còn giúp chống lây nhiễm vi khuẩn Hp trong cộng đồng, phòng chống tái nhiễm khuẩn Hp sau khi điều trị. Và đặc biệt, kháng thể OvalgenHP trong GastimunHP là một giải pháp cực kỳ an toàn dành cho các đối tượng đặc biệt như trẻ em, phụ nữ mang thai và đang cho con bú, người có thể trạng yếu,… thường là những đối tượng khó khăn trong tuân thủ điều trị với kháng sinh.

    Hiện nay, ngoài sử dụng tại Nhật Bản, các nhà khoa học Nhật Bản đã đưa loại kháng thể này sang sử dụng phổ biến ở một số nước có tỷ lệ Ung thư dạ dày cao, tỷ lệ nhiễm khuẩn Hp cao như Hàn Quốc, Đài Loan, Trung Quốc, Việt Nam, Ấn Độ…

    Người bệnh cũng cần lưu ý
    : không nên tự ý dùng các bộ kít điều trị vi khuẩn Hp vì tỷ lệ tiệt trừ Hp là chưa được chứng minh, hàm lượng Clarithromycin trong bộ kít thường thấp (thường 250mg) làm tăng nguy cơ đề kháng kháng sinh. Do tỷ lệ Hp kháng thuốc ngày càng gia tăng, đôi khi việc loại bỏ vi khuẩn Hp trong dạ dày không đạt được kết quả như ý, nhưng bệnh nhân tuyệt đối không được tự ý bỏ thuốc, tự ý dùng thuốc hoặc ngừng việc điều trị mà nên phối hợp tốt với thầy thuốc tìm các giải pháp phối hợp hiệu quả hơn, đổi thuốc… nhằm đạt được hiệu quả điều trị. Nếu nghi ngờ có HP kháng thuốc, hãy kết hợp ngay với GastimunHP để tăng khả năng tiệt trừ hoàn toàn vi khuẩn HP, chống lại khả năng kháng thuốc kháng sinh của vi khuẩn HP.

    Trên đây là tổng hợp những lưu ý trong sử dụng các phác đồ điều trị vi khuẩn Hp dành cho bệnh nhân và bác sỹ cùng tham khảo. Tuy nhiên, tiệt trừ thành công Hp, một phần phụ thuộc vào bác sỹ, phần chính vẫn phụ thuộc vào bệnh nhân, yếu tố tính nhạy của của Hp dạ dày. Về phía bệnh nhân, các chuyên gia của chúng tôi có những lời khuyên trong quá trình điều trị vi khuẩn Hp sau đây:



    DS. Bùi Minh Tuệ


    ------------------------------

    Lưu ý khi kiểm tra vi khuẩn Hp bằng test thở UBT

    Rất nhiều bệnh nhân cảm thấy lo lắng mỗi khi nhắc tới xét nghiệm kiểm tra vi khuẩn Helicobacter pylori (H.pylori hay Hp), loại vi khuẩn gây viêm dạ dày mạn tính, loét dạ dày, Ung thư dạ dày. Đối với nhiều bệnh nhân việc kiểm tra nhiễm khuẩn Hp phải đi đôi với nội soi dạ dày, đây là “nỗi ám ảnh” với hầu hết bệnh nhân bị bệnh dạ dày và là một trong những nguyên nhân quan trọng khiến cho việc kiểm tra lại vi khuẩn Hp sau khi điều trị còn hạn chế.Trong nhiều bài viết trước đây, chúng tôi đã nhắc tới test thở kiểm tra vi khuẩn Hp là một trong những xét nghiệm được đánh giá là chính xác nhất hiện nay và thuận tiện hàng đầu cho việc theo dõi kết quả điều trị bệnh lý dạ dày có vi khuẩn Hp. Điều thú vị là, phương pháp kiểm tra vi khuẩn Hp bằng test thở cũng là một phát minh của bác sỹ người Úc, Barry Marshall, người đầu tiên chứng minh được sự tồn tại của vi khuẩn Hp và khả năng gây bệnh của loại vi khuẩn này.

    Test thở kiểm tra vi khuẩn Hp hoạt động như thế nào?

    Trước khi kiểm tra hơi thở, bạn sẽ được cho uống 1 viên thuốc hoặc 1 dung dịch có chứa phân tử Carbon đồng vị C13 hoặc C14. Nếu có vi khuẩn Hp trong dạ dày thì vi khuẩn Hp sẽ phân hủy Ure tạo thành khí Carbonic, bằng cách đo lường lượng phân tử C13 và C14 thoát ra trong khí Carbonic người ta sẽ xác định được vi khuẩn Hp có hoạt động (sinh ra Urease) trong dạ dày hay không.


    Cơ chế kiểm tra vi khuẩn Hp bằng test thở UBT

    Quy trình thực hiện test thở kiểm tra vi khuẩn Hp trong dạ dày


    Bệnh nhân uống một viên thuốc có chứa 14C hoặc dung dịch có chứa C13 13C và ngồi nghỉ. Sau 15 phút, bệnh nhân thổi vào dụng cụ xét nghiệm là thẻ xét nghiệm với 14C hoặc thổi bong bóng với 13C cho đến khi thiết bị hoặc kỹ thuật viên báo hiệu đã đủ lượng CO2 cho một lần xét nghiệm. Thời gian thổi trung bình từ 5 đến 10 phút tùy vào lượng hơi mà người thổi thổi vào. Sau đó, nhân viên kỹ thuật sẽ điều khiển thiết bị đo lường nồng độ Carbon đánh dấu và thông báo kết quả cho bệnh nhân (sau khoảng 3-5 phút).


    Các bước kiểm tra nhiễm khuẩn Hp qua hơi thở

    Ưu điểm của phương pháp kiểm tra vi khuẩn Hp bằng test thở


    • Độ nhạy cao: Độ nhạy của xét nghiệm lên tới 95% cho phép phát hiện lượng vi khuẩn Hp hoạt động ở mức độ rất thấp.
    • Độ chuyên biệt lên tới 96% giúp tránh sai sót do tác động của các loại vi khuẩn sinh Urease khác.
    • Độ chính xác của phương pháp lên tới 88% đưa phương pháp test kiểm tra hơi thở trở thành một phương pháp tin cậy trong kiểm tra và theo dõi nhiễm khuẩn Hp.
    • Tiết kiệm thời gian: Toàn bộ quá trình kiểm tra chỉ diễn ra trong vòng tối đa là 30 phút, bệnh nhân có thể tới các cơ sở thực hiện test thở này và yêu cầu làm ngay.
    • An toàn, không gây đau: Biện pháp kiểm tra nhiễm khuẩn Hp bằng test thở hoàn toàn không gây đau đớn cho bệnh nhân. Mặc dù C14 là đồng vị có tính phóng xạ của Carbon, tuy nhiên, lượng phóng xạ của mỗi lần làm test là cực thấp, không gây ra bất kỳ ảnh hưởng bất lợi đáng kể nào cho cơ thể. Tuy nhiên, trẻ dưới 8 tuổi vẫn được khuyến cáo nên sử dụng test thở với C13 để đảm bao an toàn hơn, nhưng giá thành lại cao hơn nhiều so với test thở C14.
    • Có thể thực hiện để kiểm tra hiệu quả điều trị Hp: Sau khi bệnh nhân điều trị bệnh lý dạ dày có vi khuẩn Hp với một phác đồ điều trị đều cần phải kiểm tra lại tình trạng nhiễm khuẩn Hp, việc kiểm tra lại như vậy trong đa số các trường hợp không cần phải tiến hành nội soi dạ dày mà có thể thực hiện xét nghiệm test thở kiểm tra vi khuẩn Hp.
    • Đánh giá được chính xác lượng Hp đang hoạt động: Vi khuẩn Hp đang hoạt động là đối tượng gây ra tình trạng viêm, tổn thương dạ dày. Test thở UBT có kết quả cao chứng tỏ lượng Urease sinh ra nhiều là lúc vi khuẩn Hp đang hoạt động mạnh và khả năng gây bệnh cao hơn, việc tiệt trừ Hp sẽ khó khăn hơn.

    Những đối tượng nên kiểm tra nhiễm khuẩn Hp qua hơi thở


    Biện pháp kiểm tra nhiễm khuẩn Hp qua hơi thở được thực hiện để kiểm tra tình trạng nhiễm khuẩn Hp trên các bệnh nhân có dấu hiệu rối loạn tiêu hóa, dấu hiệu đau dạ dày như đầy hơi, đau lâm râm vùng thượng vị, thiếu máu thiếu sắt không rõ nguyên nhân…. hoặc những người trong gia đình có người thân bị Ung thư dạ dày.Những đối tượng được chẩn đoán có bệnh dạ dày nhưng không thể hoặc không muốn làm nội soi dạ dày có thể thực hiện test thở để chẩn đoán tình trạng nhiễm khuẩn Hp.Những bệnh nhân đang được điều trị bệnh dạ dày do vi khuẩn Hp gây ra phải kiểm tra lại sau khi dùng hết thuốc để biết được kết quả của quá trình điều trị bệnh có thành công hay không.

    Lưu ý khi thực hiện kiểm tra vi khuẩn Hp qua hơi thở

    Bạn cần phải nhịn ăn, uống đồ uống có gas, đồ ngọt, đồ có tính chất acid hoặc base trong thời gian từ 4-6 tiếng trước khi làm xét nghiệm kiểm tra Hp qua hơi thở. Thời điểm tốt nhất để làm xét nghiệm này là vào buổi sáng sau một đêm không ăn uống gì.Bạn cần lưu ý đặc biệt: xét nghiệm kiểm tra vi khuẩn Hp qua hơi thở cũng giống như các loại xét nghiệm kiểm tra Hp khác, chỉ nên tiến hành sau 2 tuần kể từ ngày ngừng sử dụng thuốc giảm tiết acid dạ dày và 4 tuần kể từ ngày ngừng sử dụng thuốc kháng sinh (kể cả các loại thuốc kháng sinh điều trị bệnh khác như viêm họng, tiêu chảy…)Trong khi tiến hành làm test thở, bệnh nhân cần phải thở đúng cách và đủ thời gian theo hướng dẫn của nhân viên y tế thì kết quả mới có độ chính xác cao.Việc kiểm tra nhiễm khuẩn Hp có thể tiến hành bằng nhiều phương pháp khác nhau, trong đó phương pháp kiểm tra bằng test thở được đánh giá là phương pháp hiện đại nhất hiện nay giúp hạn chế những nhược điểm của các phương pháp khác và là lựa chọn tốt dành cho việc theo dõi kết quả điều trị bệnh do Hp gây ra cả ở người lớn lẫn trẻ em.
    Bs. Như Hoa

    http://gastimunhp.vn/luu-y-khi-kiem-tra-vi-khuan-hp-bang-test-tho-ubt-3562/
    Lần sửa cuối bởi obaasan, ngày 14-09-2017 lúc 03:04 PM.
    Woman of short-lived passions

  5. #15
    Vượt ngàn trùng sóng obaasan has a reputation beyond repute obaasan has a reputation beyond repute obaasan has a reputation beyond repute obaasan has a reputation beyond repute obaasan has a reputation beyond repute obaasan has a reputation beyond repute obaasan has a reputation beyond repute obaasan has a reputation beyond repute obaasan has a reputation beyond repute obaasan has a reputation beyond repute obaasan has a reputation beyond repute obaasan's Avatar
    Ngay tham gia
    Aug 2008
    Bài viết
    3,442
    Rep Power
    10

    Re: Tìm hiểu các chỉ số trong xét nghiệm

    XÉT NGHIỆM CA 72-4

    1. Xét nghiệm CA 72-4 là gì?

    - CA 72-4 (Cancer antigen 72-4) hay TAG 72 (Tumor Assciated Glycoprotein 72) là 1 glycoprotein tìm thấy trên bề mặt nhiều tế bào ung thư, như: tụy, dạ dày, đại tràng, buồng trứng, vú….
    - Bình thường nồng độ CA72-4 < 6,9 IU/mL, nồng độ CA72-4 tăng gặp trong các trường hợp bệnh lý sau:
    + Ung thư đường tiêu hóa như: dạ dày, tụy, đại trực tràng, túi mật (carcinomas of stomach, pancreas, colon, gallbladder), …
    + Ung thư ngoài đường tiêu hóa như buồng trứng, cổ tử cung, niêm mạc tử cung (ovaries, cervix and endometrium)…
    + Một số bệnh lý không ung thư: viêm tụy, xơ gan, rối loạn tiêu hóa, thấp khớp, u nang buồng trứng…
    - Xét nghiệm CA 72-4 là 1 xét nghiệm miễn dịch đo nồng độ CA 72-4 trong huyết thanh hoặc huyết tương người.


    2. Chỉ định xét nghiệm CA 72-4

    - Xét nghiệm CA 72-4 thường được chỉ định trong những trường hợp sau:

    + Những người có triệu chứng bệnh liên quan đến bệnh dạ dày và ruột mạn tính, người có có dấu hiệu nghi ngờ ung thư đường tiêu hóa,.
    + Những người có triệu chứng nghi ngờ liên quan đến ung thư buồng trứng.
    - Xét nghiệm CA 72-4 được sử dụng trong theo dõi điều trị và giám sát tái phát ung thư đường tiêu hóa, ung thư buồng trứng:
    + Đối với ung thư đường tiêu hóa: CA72-4 đóng vai trò hàng đầu, sau mới đến CA 19-9 và CEA. Nồng độ CA 72-4 trong máu giảm thì điều trị có hiệu quả và ngược lại, nồng độ CA 72-4 trong máu tăng lên thì có di căn hay tái phát.
    + Đối với ung thư buồng trứng (đặc biệt là những bệnh nhân có mức CA125 không tăng), CA72-4 là dấu ấn độc lập rất có giá trị để đánh giá khả năng đáp ứng với điều trị và dấu hiệu sớm của khối u tái phát.
    - Xét nghiệm CA 72-4 không được khuyến cáo sử dụng như 1 xét nghiệm sàng lọc ung thư đường tiêu hóa và buồng trứng trong cộng đồng. Tuy nhiên, ở những người tiền sử gia đình có người bị ung thư dạ dày hoặc đại trực tràng, xét nghiệm CA 72-4 được sử dụng để kiểm tra và giám sát nguy cơ của bệnh


    3. Một số lưu ý

    - Ở những bệnh nhân đang dùng thuốc biotin liều cao (>5mg/ngày), lấy mẫu cho xét nghiệm CA 72-4 nên được thực hiện ít nhất 8 giờ sau dùng thuốc.
    - Ngoài ra, không có chú ý gì đặc biệt đối với xét nghiệm CA 72-4, tuy nhiên trước khi được lấy máu xét nghiệm không nên ăn những thức ăn có nhiều đạm, sữa, trứng, uống bia rượu...


    https://www.facebook.com/medelabclinicvietnam/posts/456754441158347



    ------------------------------


    Tìm hiểu về kháng nguyên CA 72-4 (Cancer Antigen 72-4)



    I. Lời mở đầu:
    CA 72-4 là một kháng nguyên liên kết ung thư (Tumor Associated Antgen, TAA) bản chất là glycoprotein thuộc nhóm Carbohydrate Antigen (CA). Kháng nguyên này được xác định bằng kháng thể đơn dòng đặc hiệu B72-3 và CC49 nên có tên gọi là CA 72-4. Nó còn có tên là TAG 72 (Tumor Associated glycoprotein) có trọng lượng phân tử là 400.000 dalton. Những kháng thể này hoạt động trên các tổ chức sau: ung thư vú, ung thư đại tràng, ung thư phổi tế bào không nhỏ, ung thư biểu mô buồng trứng, ung thư nội mạc tử cung, ung thư tuỵ và dạ dày.



    Máy miễn dịch Cobase e 411tại khoa Hoá Sinh bệnh viện Đa Khoa Quảng Nam

    II. Giá trị của CA 72-4 trong bệnh lý

    - Bình thường, nồng độ CA 72-4 nhỏ hơn 6,9 U/ml.
    - Trong ung thư dạ dày, định lượng CA 72-4 có độ đặc hiệu chẩn đoán trên 98% so với những bệnh lý dạ dày ruột lành tính, độ nhạy chẩn đoán từ 28% - 80%, thông thường từ 40% - 46%.
    - Nồng độ CA 72-4 liên quan đến các giai đoạn của bệnh. Sau khi cắt bỏ khối u nồng độ CA 72-4 trở lại bình thường và giữ ở mức độ bình thường nếu bệnh nhân được xạ trị đầy đủ. Trong 70% trường hợp tái phát sự tăng nồng độ CA 72-4 sẽ xuất hiện trước hoặc đi kèm với chẩn đoán tái phát của lâm sàng.
    - Theo một số nghiên cứu, nồng độ CA 72-4 tiền phẫu là một yếu tố có giá trị tiên lượng.
    - Trong ung thư buồng trứng, CA 72-4 có thể được sử dụng để chẩn đoán kết hợp với CA 125. Độ nhạy của CA 72-4 đối với bệnh này là 47% - 48%. Trong trường hợp ung thư buồng trứng nhầy, độ nhạy của CA 72-4 cao hơn độ nhạy của CA 72-4 cao hơn độ nhạy của CA 125. Kết hợp hai chỉ điểm ung thư này, thì độ nhạy tăng lên 73% so với chẩn đoán ban đầu (CA 125: 60%)
    - Trong ung thư trực tràng, độ nhạy chẩn đoán bệnh này là từ 20% - 41%. Sự gia tăng của nồng độ CA 72-4 có liên quan đến giai đoạn của bệnh.
    - Độ đặc hiệu chẩn đoán của CA 72-4 tương quan đến các bệnh lành tính của đại tràng 98%. Sự cắt bỏ hoàn toàn khối u làm giảm nhanh nồng độ CA 72-4. Trong trường hợp khối u chưa cắt bỏ hoàn toàn, nồng độ CA 72-4 vẫn tăng cao. Sự kết hợp CA 72-4 và CEA làm tăng độ nhạy chẩn đoán tới 78% - 87%.

    III. Kết luận:

    - Định lượng CA 72-4 trong huyết thanh giúp cho chẩn đoán ung thư dạ dày và kết hợp với định lượng CA 125 để chẩn đoán ung thư buồng trứng. Ngoài ra định lượng CA 72-4 được sử dụng chủ yếu trong việc theo dõi tiến triển và điều trị ung thư dạ dày và ung thư buồng trứng.
    Xét nghiệm này được thực hiện trên máy miễn dịch tự động Cobase e 411 theo phương pháp điện hoá pháp quang tại Khoa Hoá Sinh bệnh viện Đa Khoa Quảng Nam


    Khoa Hóa Sinh

    http://bvdkquangnam.vn/tin-tc/y-hc-t...igen-72-4.html
    Lần sửa cuối bởi obaasan, ngày 14-09-2017 lúc 12:58 PM.
    Woman of short-lived passions

  6. #16
    Vượt ngàn trùng sóng obaasan has a reputation beyond repute obaasan has a reputation beyond repute obaasan has a reputation beyond repute obaasan has a reputation beyond repute obaasan has a reputation beyond repute obaasan has a reputation beyond repute obaasan has a reputation beyond repute obaasan has a reputation beyond repute obaasan has a reputation beyond repute obaasan has a reputation beyond repute obaasan has a reputation beyond repute obaasan's Avatar
    Ngay tham gia
    Aug 2008
    Bài viết
    3,442
    Rep Power
    10

    Re: Tìm hiểu các chỉ số trong xét nghiệm

    Strongyloides stercoralis IgG


    Bệnh Nhiễm giun lươn



    Các tên gọi khác của bệnh này:
    • Strongyloides stercoralis


    Nhiễm giun lươn là bệnh ký sinh trùng lây qua da và niêm mạc, phát triển mạnh ở những nơi có thời tiết nóng ẩm, điều kiện vệ sinh kém. Khi nhiễm bệnh, giun lươn tồn tại rất lâu trong cơ thể, gây ảnh hưởng trực tiếp đến các cơ quan trong cơ thể mà chúng di chuyển qua như: da, tiêu hóa, phổi, thực quản, hạch bạch huyết.... gây ra nhiều triệu chứng như nổi mề đay, ngứa da, có khi đau bụng, rối loạn tiêu hóa, ho kéo dài và nhiều biến chứng nguy hiểm có thể đe dọa tính mạng người bệnh.
    Triệu chứng

    Đau bụng âm ỉ, có lúc thành cơn. Ho, tiêu chảy, nổi mề đay.
    Chẩn đoán
    • Hỏi bệnh sử và khám thực thể.
    • Xét nghiệm phân tìm ấu trùng trong phân, xét nghiệm đờm nếu có ho khạc đờm, chẩn đoán huyết thanh Elisa.
    Điều trị

    Điều trị nguyên nhân gây bệnh, kết hợp điều trị viêm da, giảm ngứa. Loại bỏ giun bằng các thuốc chống giun như: Ivermectin hoặc Albenzazole. Nếu có nguy cơ nhiễm giun lươn lan tỏa bệnh nhân cần phải được điều trị tại tuyến chuyên khoa.

    Lần sửa cuối bởi obaasan, ngày 14-09-2017 lúc 01:03 PM.
    Woman of short-lived passions

  7. #17
    Vượt ngàn trùng sóng obaasan has a reputation beyond repute obaasan has a reputation beyond repute obaasan has a reputation beyond repute obaasan has a reputation beyond repute obaasan has a reputation beyond repute obaasan has a reputation beyond repute obaasan has a reputation beyond repute obaasan has a reputation beyond repute obaasan has a reputation beyond repute obaasan has a reputation beyond repute obaasan has a reputation beyond repute obaasan's Avatar
    Ngay tham gia
    Aug 2008
    Bài viết
    3,442
    Rep Power
    10

    Re: Tìm hiểu các chỉ số trong xét nghiệm

    Gnathostoma IgG (Elisa)


    Vài nét sơ lược về giun đầu gai -

    Phần 2



    (Bệnh học; Triệu chứng; Chẩn đoán phân biệt; Cận lâm sàng; Chẩn đoán; Điều trị; Phòng bệnh)


    IV. Bệnh học

    Nguyên nhân gây bệnh là tổn thương cơ học ở các mô bởi di chuyển của Gnathostome và các độc tố đi kèm tham gia vào hoặc có liên quan dẫn truyền thần kinh như acetylcholine, hyaluronidase, protease, hemolysine. Ngoài ra còn có sự đáp ứng của cơ thể vật chủ.
    Theo thời gian, thì các triệu chứng diễn ra ít rầm rộ và ít kéo dài hơn.
    Trên thực nghiệm, người ta đã gây nhiễm được qua da hoặc cho uống nước có ấu trùng.
    Bệnh giun đầu gai thường chia làm 2 thể điển hình: thể chu du dưới da và thể phủ tạng. Nguy hiểm nhất là biến chứng hệ thần kinh trung ương.


    V. Triệu chứng

    1. Triệu chứng toàn thân
    • Thời gian ủ bệnh thường 3-7 ngày, thời gian nhiễm bệnh tiềm tàng có thể kéo dài nhiều tháng, nhiều năm.
    • Suy nhược nhẹ, sốt, chán ăn, buồn nôn.


    2. Triệu chứng cơ năng

    Triệu chứng phụ thuộc vị trí ấu trùng di chuyển.
    • Da và mô mềm: một hay nhiều vùng như mề đay, đau, ngứa, ban đỏ, nốt dưới da hoặc dạng đinh nhọt.
    • Phổi: ho, ho ra máu, ho ra giun, khó thở, đau ngực.
    • Hệ tiêu hóa: đau hạ sườn phải, triệu chứng giống như viêm ruột thừa, viêm túi mật hoặc giả khối tổn thương ở ruột.
    • Hệ tiết niệu: có thể tiểu ra máu.
    • Mắt: giảm thị lực, mù, đau mắt hoặc sợ ánh sáng.
    • Tai: giảm sức nghe hoặc ù tai.
    • Hệ thần kinh trung ương:
    + Viêm tủy rễ thần kinh (hay gặp nhất),
    + Viêm não - tủy - rễ thần kinh,
    + Viêm não - màng não,
    + Đau liên quan đến thần kinh, tiếp theo sau đó có thể liệt hoặc giảm cảm giác một vài ngày,
    + Dấu chứng và triệu chứng thần kinh định vị.


    3. Triệu chứng thực thể

    Tùy thuộc vị trí di chuyển của ấu trùng.
    • Da và mô mềm: viêm mô mỡ dưới da, phù Quincke, ban trườn, xuất hiện các nốt dưới da hoặc abces.
    • Hô hấp: hội chứng đông đặc phổi hoặc xẹp phổi, tràn dịch, tràn khí màng phổi, tràn dịch và khí màng phổi.
    • Hệ tiêu hóa: đau ở hạ sườn phải, vùng thượng vị.
    • Về thị giác: viêm mạch màng nho, viêm mống mắt, xuất huyết nội nhãn, tăng nhãn áp, sẹo hoặc bóc tách võng mạc.
    • Hệ thần kinh trung ương: sốt, cứng cổ và/hoặc sợ ánh sáng, tăng áp lực sọ não, dấu hiệu thần kinh định vị thay đổi.



    VII. Chẩn đoán phân biệt

    1. Viêm não màng não do amíp
    2. Nhiễm giun móc, mỏ
    3. Phù mạch
    4. Viêm ruột thừa
    5. Bệnh giun đũa
    6. Bệnh giun chỉ W.Bancrofti
    7. Ung thư trẻ em
    8. Viêm túi mật
    9. Viêm mạch võng mạc
    10. Bệnh nấm Coccidioidomycosis
    11. Hội chứng ấu trùng di chuyển
    12. Ấu trùng sán dây lợn
    13. Nhiễm Diphyllobothriumlatum
    14. Bệnh giun chỉ Dirofilariasis
    15. Bệnh giun chỉ Dracunculiasis
    1. Bệnh Echinococcosis
    2. Bệnh sán lá gan lớn
    3. Bệnh đau sợi cơ
    4. Bệnh giun chỉ bạch huyết
    5. Bệnh giun móc
    6. Bệnh Hymenolepiasis
    7. Hội chứng tăng nhiễm eosin
    8. Bệnh đơn bào đường tiêu hóa
    9. Viêm nàng não vô trùng
    10. Viêm màng não nhiễm khuẩn
    11. Ấu trùng sán lợn ở hệ thần kinh
    12. Bệnh sán lá phổi
    13. Bệnh sán máng
    14. Bệnh giun lươn
    15. Bệnh nhiễm sán dây




    VI. Cận lâm sàng

    1. Huyết học: Công thức máu: Bạch cầu ái toan tăng cao (có thể > 50% so với tổng bạch cầu chung, tăng BC toàn phần).
    2. Tổng phân tích nước tiểu: Tiểu máu vi thể
    3. Huyết thanh chẩn đoán: Xét nghiệm ELISA và Western Blot là những xét nghiệm đầy hứa hẹn, tuy nhiên, các test này không phải luôn sẵn có tại các quốc gia.
    4. Chẩn đoán hình ảnh: Xquang phổi và đường tiêu hóa.
    CT-Scanner: CT hiếm khi giúp chẩn đoán được điều gì, nhất là khi giun nằm ở mô mềm và bản thân giun cũng vậy. Trong bệnh lý hệ thần kinh trung ương, CT có thể cho thấy bằng chứng xuất huyết nội sọ, lấp đầy nước tắc nghẽn hoặc viêm màng não trong 50% số ca.
    5. Xét nghiệm khác: Soi đờm có thể thấy giun.
    6. Các thủ thuật khác: Phẫu tích hoặc phẫu thuật vết thương hiếm khi giúp được điều gì cho chẩn đoán tại các vết thương, mô dưới da, mô mềm.
    7. Chọc dịch não tủy: tăng bạch cầu (trung bình từ 20-1430 bạch cầu/mm3, nhưng điển hình thường tăng nhưng <500, trung bình 250);tăng bạch cầu eosin (5-94%, trung bình là 38%) và có dấu hiệu nhiễm sắc vàng với một số hồng cầu.
    8. Xét nghiệm mô học: Tìm thấy ấu trùng, ấu trùng có kích thước 2.5-12.5mm x 0.4-1.2 mm.



    VII. Chẩn đoán

    Chưa có tiêu chuẩn vàng trong chẩn đoán bệnh.
    Việc chẩn đoán phải hội đủ cả 3 yếu tố: dịch tễ, lâm sàng và xét nghiệm.
    Trong chẩn đoán bệnh rất dễ nhầm với các bệnh khác vì triệu chứng của bệnh không đặc hiệu.


    Chấn đoán xác định bệnh do ấu trùng Gnathostoma khi bắt được ấu trùng hoặc giun non từ sang thương (da, niêm mạc, kết mạc mắt,…) nhưng điều này rất hiếm xảy ra. Do vậy có thể dựa vào 3 tiêu chuẩn để chẩn đoán:
    1. Triệu chứng lâm sàng của hội chứng ấu trùng di chuyển;
    2. Tiền sử đi du lịch đến các quốc gia có bệnh lưu hành, có ăn thủy hải sản tái hoặc sống;
    3. Bạch cầu toan tính tăng, huyết thanh chẩn đoán miễn dịch phát hiện kháng thể IgG chống lại với kháng nguyên Gnathostomaspinigerum dương tính.
    Đặc biệt, có thể khẳng định lại ca bệnh sau khi áp dụng điều trị thử:



    VIII. Điều trị

    1. Tư vấn cho bệnh nhân
    • Việc tư vấn, giải thích cho bệnh nhân phụ thuộc vào các tình huống lâm sàng, bệnh sử và bệnh lý kèm theo, từ đó đưa ra lời khuyên thích hợp.
    • Đa số các bệnh nhân điều trị ngoại trú và dài ngày nên việc tuân thủ điều trị phụ thuộc phần lớn vào bệnh nhân.
    2. Điều trị
    Mổ hoặc phẫu tích lấy giun ra là không cần thiết, ngoại trừ ca bệnh có dấu hiệu viêm tấy tại chỗ nặng.
    Những trường hợp nặng có thể kết hợp phẫu thuật hay điều trị nội, ngoại khoa.
    Thuốc:
    • Hiện nay chưa có thuốc điều trị đặc hiệu cũng như phác đồ hữu hiệu cho loại giun này.
    • Ivermectin liều duy nhất dung nạp tốt hơn Albendazole, nhưng Albendazole có thể hiệu quả hơn và có tác dụng bổ sung điều trị.
    • Việc dùng Mebendazole không nên kéo dài.
    • Albendazole 400mg. Liều 800mg/ngày X 3 – 4 tuần [1]; TE: 15mg/kg chia 2 lần/ngày x 21 ngày.
    • Ivermectin: Người lớn và trẻ em trên 5 tuổi: Dùng một liều duy nhất 0,15 mg/kg. Uống vào buồi sáng trước ăn 2 giờ
    • Corticoisteroides đóng vai trò quan trọng trong điều trị vì tác dụng kháng viêm, chống dị ứng trong: mề đay, đau, ngứa, ban đỏ, nốt, dạng đinh nhọt hay thể hệ thần kinh trung ương [1].


    IX. Phòng bệnh
    • Không ăn các thực phẩm sống hoặc nấu chưa chín nhất là vùng lưu hành bệnh.
    • Uống nước đun sôi để nguội, nên đun sôi trên 5 phút.
    • Mang găng tay khi chế biến đồ ăn hay tiếp xúc với nước hoặc thịt nhiễm bệnh.
    Bs. Trần Văn Dũng

    http://www.impehcm.org.vn/noi-dung/kham-benh-giun-san/vai-net-so-luoc-ve-giun-dau-gai-phan-2.html

    Woman of short-lived passions

  8. #18
    Vượt ngàn trùng sóng obaasan has a reputation beyond repute obaasan has a reputation beyond repute obaasan has a reputation beyond repute obaasan has a reputation beyond repute obaasan has a reputation beyond repute obaasan has a reputation beyond repute obaasan has a reputation beyond repute obaasan has a reputation beyond repute obaasan has a reputation beyond repute obaasan has a reputation beyond repute obaasan has a reputation beyond repute obaasan's Avatar
    Ngay tham gia
    Aug 2008
    Bài viết
    3,442
    Rep Power
    10

    Re: Tìm hiểu các chỉ số trong xét nghiệm


    Nhiễm bệnh sán lá gan- Fasciola



    Sán lá gan lớn Fasciola hépatica được biết đến từ thế kỉ XVIII. Sán này thường kí sinh trong các ống mật và gây bệnh chủ yếu về gan ở các động vật nhai lại như trâu, bò…., ít kí sinh và gây bệnh ở người. Sán lá gan lớn còn có thể di chuyển lạc chỗ tới kí sinh ở nhiều vị trí khác nhau trong cơ thể của vật chủ như phúc mạc, tĩnh mạch hay tổ chức dưới da… Ngoài Fasciola hepatica còn có Fasciola gigantica gây bệnh cho người.


    Dịch tễ học

    Fasciola hépatica được Lannea phát hiện 1758 tại Nhật Bản, bệnh lưu hành ở nhiều một số nước Châu á (Thái Lan, Malaysia, Indonesia, Trung Quốc, Triều Tiên, Việt nam, Campuchia, Lào, Philippine..), ngoài ra còn một số nước Châu Âu (Anh, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha), Nam Mỹ (Argentina, Bolivi, Peru, Ecuador). Theo WHO năm 1995 có khoảng 2 triệu người mắc bệnh, năm 1998 cũng có khoảng 2,4 triệu người mắc bệnh này ở 61 nước, có nơi tỷ lệ nhiễm lên tới 60 % dân số. ở Việt nam, bệnh sán lá gan lớn đã được phát hiện ở 45 tỉnh với khoảng 4500 bệnh nhân.



    Chu kỳ phát triển của sán lá gan lớn:


    Vật chủ trung gian của sán lá gan lớn là ốc Lymnaea viridis và L.swinhoei. Khác với sán lá gan nhỏ, vật chủ trung gian là ốc melania tuberculata.


    Sán lá gan lớn ký sinh chủ yếu ở động vật ăn cỏ như trâu, bò, mèo, chó, cừu. Người chỉ là vật chủ ký sinh ngẫu nhiên, tình cờ khi ăn thực vật sống dưới nước như rau ngổ, rau rút, rau cần, cải xoong hoặc uống phải nguồn nước có nhiễm ấu trùng sán chưa bị diệt.


    Sán lá gan hình chiếc lá có kích thước khoảng 30 x 10-12 mm, trứng sán có kích thước khoảng 140 x 80 mm. Trong môi trường tự nhiên, trứng sán mở thành ấu trùng lông ký sinh trong ốc rồi phát triển thành ấu trùng đuôi. Ấu trùng đuôi rời khỏi ốc vào nước và bám vào các loại thực vật sống trong nước để trở thành các nang trùng.


    Người ăn phải các nang trùng này sẽ bị bệnh. Sau khi vào dạ dày, tá tràng, các vỏ nang bị phá huỷ và giải phóng ra ấu trùng, ấu trùng xuyên qua thành tá tràng vào ổ bụng rồi di chuyển đến gan, ấu trùng đục thủng bao gan chui vào nhu môgan để sinh trưởng và phát triển ở đấy chúng tiết ra các chất độc phá huỷ nhu mô gan.


    Tuy nhiên có một số rất ít trường hợp ấu trùng di chuyển lạc chỗ, chúng không đến gan mà đến một số cơ quan khác như da, cơ, vào khớp, vào vú, thành dạ dày...và gây bệnh ở đó. Ở Việt nam cũng đã gặp những trường hợp này như sán chui ra ở khớp gối,ở vú, hoặc gây ra u đại tràng chẩn đoán nhầm là ung thư đại tràng.

    Sau một thời gian từ 2-3 tháng phát triển ở nhu mô gan, sán trưởng thành chui vào đường mật tiếp tục phát triển và đẻ trứng ở đấy. Trong thời gian dài khoảng 10 năm nếu không được điều trị sẽ dẫn đến ung thư đường mật.


    + Nữ mắc nhiều hơn nam từ 2 - 2,5 lần+ Bệnh gặp ở mọi lứa tuổi: 4 - 80 tuổi- tuổi mắc nhiều nhất là 30-40 tuổi.
    + Bệnh phân bố không đều tuỳ địa phương, tập quán ăn uống và sự hiểu biết của người dân.


    Triệu chứng lâm sàng


    Khó biết nếu không có triệu chứng lâm sàng, hoặc nghèo triệu chứng. Các triệu chứng lâm sàng cũng thường không rầm rộ như các loại apxe gan khác.


    * Các triệu chứng cơ năng:


    + Đau bụng: thường đau âm ỉ, không rõ vị trí
    + Đau hạ sườn phải: đau nhẹ, ít khi đau dữ dội, chiếm 70-80 % các trường hợp
    + Rối loạn tiêu hoá: ỉa chảy, phân nát, chán ăn


    * Các triệu chứng toàn thân:


    + Mệt mỏi: rất hay gặp
    + Sốt: có thể sốt cao, hoặc chỉ sốt nhẹ, sốt rất thường gặp ở 60-70% bệnh nhân.
    + Dị ứng da: gặp ở 20-30 % bệnh nhân, biểu hiện các nốt sẩn trên da gặp chủ yếu ở đùi, mông, lưng, cảm giác ngưa, bút rứt, khó chịu...


    Hình ảnh tổn thương da mặt trước đùi do sán lá gan
    Hình ảnh các dát sẩn da vùng lưng do sán lá
    Tổn thương da vùng bụng do sán lá
    Nốt bầm dưới da cẳng tay do sán lá


    * Các triệu chứng khác ít gặp:


    - Ho kéo dài, đau tức ngực
    - Vàng da: thường gặp khi sán di chuyển vào đường mật và phát triển ở đấy gây viêm đường mật.

    * Khám thực thể:


    + Gan to: chỉ to khoảng 2-3 cm dưới bờ sườn, ấn hạ sườn đau hoặc ấn kẽ sườn đau, gan to chỉ gặp trong 20% trường hợp.
    + Lách to: rất ít gặp
    + Túi mật: không bao giờ to.

    Triệu chứng cận lâm sàng:


    - Công thức máu: bạch cầu tăng, thiếu máu nhẹ, đặc biệt bạch cầu ái toan tăng cao, gặp trong 90% trường hợp
    - Trứng sán trong phân: chỉ khi nào sán chui vào đường mật và đẻ trứng ở đấy mới tìm thấy trứng sán trong phân, ngay cả trong trường hợp này cũng không phải 100% trường hợp tìm thấy vì sán lá gan lớn đẻ trứng ít, do đó phải tìm nhiều lần (3 lần liên tiếp), cần chú ý dễ nhầm với trứng các loại giun sán khác. Có trường hợp phải hút dịch tá tràng mới tìm thấy trứng.
    - Chức năng gan; transaminase có thể tăng nhưng chỉ 2-3 lần. Tỷ lệ người có transaminase tăng rất thấp.
    - Phản ứng miễn dịch: phương pháp đơn giản và đáng tin cậy nhất là phương pháp ELISA. Khi sán xâm nhập nhu mô gan chúng tiết ra nhiều kháng nguyên nhất, 2 tuần sau bắt đầu xuất hiện kháng thể đó là các IgG và IgE. Ngoài những phương pháp ELISA còn có các phương pháp khác như ngưng kết hồng cầu, điện di miễn dịch nhưng độ nhậy và độ đặc hiệu thấp. Cần lưu ý 6 tháng sau khi khỏi bệnh ELISA vẫn còn dương tính. 12 tháng sau mới hết hẳn.

    - Chẩn đoán hình ảnh:

    + Siêu âm bụng: được áp dụng phổ biến nhất. Siêu âm phát hiện tổn thương gan như một vùng giảm âm không đồng nhất, ranh giới không rõ, vị trí hay gặp ở vùng rìa sát vỏ gan, hoặc nhiều đám giảm âm không đồng nhất tập trung thành một đám lớn.


    Hình ảnh sán lá gan trong tuí mật qua siêu âm (mũi tên)
    Hình ảnh sán lá trong ống mật chủ (mũi tên)

    + Chụp cắt lớp vi tính: hình ảnh cũng giống như siêu âm. Điển hình nhất là một vùng lỗ chỗ như tổ ong. Nằm ở vùng rìa sát vỏ gan. Nếu sán đã chui vào đường mật thì có thể thấy hình ảnh đường mật giãn cục bộ, thành dày, trong đó có hình tăng tỷ trọng của sán. Đa số các ổ tổn thương gan đều nằm ở gan phải.


    Trên siêu âm cũng như chụp CLVT có thể nhầm với ung thư gan và các loại áp xe gan do nguyên nhân khác, cần phải lưu ý phân biệt.

    V. Biến chứng:

    Cũng giống như các áp xe khác, khi tổn thương ở gan đã thành áp xe thì cũng gây biến chứng như các ổ áp xe khác: vỡ vào màng phổi, vỡ vào màng bụng, thành bụng.

    Chẩn đoán phân biệt:
    Cần phân biệt với một số trường hợp bệnh lý sau đây:


    - Ung thư gan:
    trên siêu âm cũng như chụp CLVT, hình ảnh của apxe gan do sán lá gan lớn đôi khi cũng giống hình ảnh của ung thư gan. Muốn phân biệt cần dựa vào:

    + Chọc hút ổ tổn thương
    + Phản ứng ELISA với sán lá gan lớn
    + Định lượng a FP.
    + Bạch cầu ái toan tăng trong sán lá gan lớn

    - Các
    áp xe do nguyên nhân khác như:

    + Áp xe gan amip
    + Áp xe gan vi khuẩn
    + Áp xe đường mật do sỏi, giun

    Nhìn chung các triệu chứng lâm sàng của áp xe gan do sán lá gan lớn không có gì đặc hiệu riêng, cũng vẫn là các triệu chứng Fontan: sốt, đau hạ sườn phải gan to và đau. Do đó việc nhầm với các
    áp xe gan khác là điều dễ hiểu. Muốn phân biệt cần dựa vào:


    - Lâm sàng: có tiền sử ăn cá ốc sống hoặc chưa nấu kỹ, có ăn rau sống…hoặc sống ở vùng có nhiều người mắc

    - Bạch cầu ái toan tăng cao
    - Chọc hút ổ apxe nuôi cấy vi khuẩn, tìm ký sinh trùng hoặc trứng.
    - Hình ảnh tổn thương gan trên siêu âm, CLVT: có hình lỗ rỗ tổ ong
    - Cuối cùng là phản ứng ELISA với sán lá gan lớn: hiệu giá > 1/3200 là chắc chắn.
    - Phân biệt một số trường hợp hiếm gặp:
    U đại tràng, áp xe vú, viêm bao hoạt dịch khớp gối, viêm cơ vv Rất hiếm gặp, do ấu trùng đi lạc chỗ.

    Điều trị:


    1. Điều trị nội khoa


    Chủ yếu là điều trị nội khoa, cần phải đến tuyến chuyên khoa có điều kiện chẩn đoán chính xác sán lá gan lớn hay sán lá gan nhỏ để có phác đồ điều trị khác nhau, bệnh nếu phát hiện sớm, điều trị đúng sẽ khỏi hoàn toàn.

    - Praziquantel hoàn toàn không tác dụng đối với sán lá gan lớn, chỉ có tác dụng với sán lá gan nhỏ.
    Người bệnh mắc sán lá gan cần phải được theo dõi điều trị tại các cơ sở y tế có chuyên khoa ký sinh trùng.

    2. Điều trị đặc hiệu


    Thuốc được lựa chọn để điều trị đặc hiệu Sán lá gan lớn
    Egaten có tại “Phòng khám chuyên khoa ký sinh trùng”. Người bệnh không nên tự ý mua thuốc ở ngoài vì có thể rất khó tìm, giá đắt mà có khi lại mua nhầm thuốc.


    Bác sỹ Phòng khám chuyên khoa ký sinh trùng sẽ cho bạn toa thuốc thích hợp tùy theo cân nặng và tình trạng bệnh, để đạt hiệu quả điều trị cao nhất.

    Theo dõi và đánh giá kết quả:


    Các triệu chứng lâm sàng mất nhanh trong khoảng 1 tháng: đau hạ sườn phải, tăng cân, đỡ mệt mỏi, gan nhỏ lại, sốt, rối loạn tiêu hoá, các triệu chứng cận lâm sàng mất chậm hơn.


    Số bạch cầu: giảm trong khoảng 1 tháng nhưng bạch cầu ái toan phải chờ 3 - 6 tháng mới trở về bình thường.
    Hình ảnh ổ áp xe trên siêu âm, CLVT: phải 3 - 6 tháng mới mất, thậm chí 12 tháng
    Miễn dịch: cũng phải 6 tháng mới giảm, thậm chí 12 tháng ELISA mới trở về âm tính

    Điều trị ngoại khoa:
    Khi phát hiện muộn điều trị nội khoa không kịp thời, không triệt để dẫn đến ổ áp xe quá lớn có nguy cơ biến chứng:


    - Chọc hút mủ ổ áp xe, phối hợp với điều trị nội khoa
    - Dẫn lưu mủ ổ áp xe

    Hiện nay chỉ định dẫn lưu mủ áp xe rất ít được áp dụng vì điều trị nội hoặc điều trị nội khoa kết hợp chọc hút mủ đã khỏi. Chữa được 99 % trường hợp.


    Phòng bệnh:


    - Giữ vệ sinh ăn uống: các loại rau sống dưới nước khi ăn sống phải diệt trùng thật kỹ. Các thức ăn động vật sống dưới nước khi ăn sống cũng phải được diệt khuẩn kỹ. Tốt nhất là không nên ăn sống.
    - Phải điều trị triệt để súc vật bị nhiễm sán lá gan lớn.
    - Chẩn đoán sớm và điều trị sớm người bị nhiễm sán lá gan lớn

    Bản quyền thuộc:
    http://www.benhgiunsan.com/

    http://artcare.com.vn/tin-tuc/nhiem-benh-san-la-gan-fasciola-790.html
    Woman of short-lived passions

  9. #19
    Vượt ngàn trùng sóng obaasan has a reputation beyond repute obaasan has a reputation beyond repute obaasan has a reputation beyond repute obaasan has a reputation beyond repute obaasan has a reputation beyond repute obaasan has a reputation beyond repute obaasan has a reputation beyond repute obaasan has a reputation beyond repute obaasan has a reputation beyond repute obaasan has a reputation beyond repute obaasan has a reputation beyond repute obaasan's Avatar
    Ngay tham gia
    Aug 2008
    Bài viết
    3,442
    Rep Power
    10

    Re: Tìm hiểu các chỉ số trong xét nghiệm

    Chỉ số Toxocaracanis đối với bệnh giun đũa chó là gì vậy BS?

    Chào bác sĩ,

    Bác sĩ cho em hỏi em mới tái khám bệnh giun đũa chó. Trong giấy khám đợt 1 có ghi chỉ số Toxocaracanis 1/1600, còn chỉ số đợt 2 có ghi Toxocaracanis 1.62. Bác sĩ có thể giúp em hiểu rõ hơn chỉ số Toxocaracanis, và theo đó tình trạng bệnh của em nặng hơn hay nhẹ hơn lúc trước?

    Cảm ơn bác sĩ! (Hao Nguyen – haohao…@gmail.com








    BS-CK1 Hoàng Bích Hồng:


    Chào em,

    Đánh giá xét nghiệm cần căn cứ là đã sử dụng kháng nguyên nào để thực hiện. Kết quả đợt 2 em chưa cho biết đơn vị xét nghiệm là gì. Em cũng không cho biết tình trạng biểu hiện bệnh của em ra sao?Vì đánh giá tình trạng bệnh nặng nhẹ hoặc quyết định điều trị không chỉ dựa vào xét nghiệm.

    Xét nghiệm phải kết hợp với các dấu hiệu lâm sàng mới cho ra được chẩn đoán. Kết quả xét nghiệm đợt 1 hiệu giá kháng thể 1/1600 của em cho biết dương tính với giun đũa chó. Nếu xét nghiệm với kháng nguyên tinh chiết từ thân sán (mà không phải kháng nguyên tiết) thì khả năng dương tính chéo với một số khác có thể xảy ra.

    Với kết quả Toxocara IgG ≥ 0,501 OD hoặc ≥ 11 NTU: là dương tính, gợi ý nhiễm Toxocara trong hiện tại hoặc quá khứ. Hiện nay tỉ lệ xét nghiệm dương tính với Toxocara khá cao nhưng không phải tất cả các trường hợp dương tính đều điều trị mà cân nhắc tùy bệnh nhân.

    Em có thể hỏi trực tiếp bác sĩ điều trị về tình trạng bệnh của mình dựa vào triệu chứng, và kết quả xét nghiệm. Thân ái chào em!

    http://alobacsi.com/195/chi-so-toxocaracanis-doi-voi-benh-giun-dua-cho-la-gi-vay-bs-q8727c195.htm



    A. TÓM TẮC VỀ BỆNH DO GIUN ĐŨA CHÓ, MÈO GÂY RA

    I.
    Đặc điểm:





    1. Giun đũa chó Toxocara canis và-mèo Toxocara cati một bệnh gây ra ở người do ký sinh trùng.

    Đây là một bệnh do ký sinh trùng ký sinh lạc chủ gây ra, lạc chủ bởi vì vật chủ ký sinh của chúng là chó, mèo chứ không phải người. khi người bị nhiễm chúng vì bất cứ lý do gì thì chúng sẽ ký sinh lạc chủ ở người và có thể gây ra bệnh cho người. bệnh giun đũa ở chó, mèo ở người có thể có 3 loại hội chứng: u hạt do ấu trùng (larval granulomatosis), ấu trùng di chuyển nội tạng ở người (Viceral larva migrans [VLM] in man), ấu trùng di chuyển ở mắt (Ocular larva migrans-OLM).

    Về hình thái học: con đực có kích thước 4-10cm và con cái 6-18cm. Hình dáng trông giống con giun đũa giai đoạn trẻ (young ascaris), các móc của giun phần cổ hẹp ở đoạn cuối. Trứng có hình bán thùy, dày, vỏ bị rỗ, kích thước 90 x 75micron.


    2. Chu kỳ sinh học và phát triển ở chó, mèo:

    Chu kỳ của Toxocara canis tương tự chu kỳ sinh học của giun đũa ngườiAscaris lumbricoides. Một điểm khác biệt là vật chủ cuối cùng phân bố trong phạm vi rộng hơn. Vật chủ cuối cùng là những động vật ăn thịt họ chó của gia đình nuôi, trong khi đó vật chủ ăn thịt các họ khác, bao gồm người thì chưa rõ. Những điểm đặc biệt là con đường di chuyển trong cơ thể chó có khác nhau tùy thuộc độ tuổi, giới tính và khả năng dung nạp của chó.

    Chó nhiễm bệnh do ăn phải những trứng giun có phôi (embryonated eggs) hay mô động vật có chứa ấu trùng giun đũa chó. Tuy nhiên, hành vi của ấu trùng khác nhau phụ thuộc vào tuổi và giới tính của chó. Trên những con chó trẻ (< hơn 3 tháng) trứng sẽ đẻ trong tá tràng và ấu trùng vào trong hệ bạch huyết và hệ mao tĩnh mạch, từ đây sẽ mang chúng đến gan, tim và phổi- nơi đó ấu trùng sẽ phát triển và thoát vỏ /thay vỏ. Tiếp đến ấu trùng sẽ xuyên qua khí quản vào trong thực quản và đến ruột non. Những trứng đầu tiên xuất hiện trong phân là vào thời điểm 4-5 tuần sau khi nhiễm. Tuy nhiên, ở những con chó lớn tuổi hơn, ấu trùng hiếm khi xuyên qua phổi đến khí quản (theo đường di chuyển [lung-trachea migration]). Hầu hết chúng vào trong dòng máu rồi phân tán trong toàn bộ cơ thể và mô của vật chủ chó; đặc biệt là chúng vẫn giữ nguyên ấu trùng giai đoạn nhiễm cho đến khi chúng đến mô.

    Tầm quan trọng của quá trình di chuyển trong cơ thể này (khác với di chuyển đến phổi và khí quản) là thuận lợi trong lây truyền chu sinh (prenatal), chẳng hạn, ấu trùng xuyên qua bọc thai chó cái đến phát triển trong phôi thai. Ấu trùng vẫn tồn tại trong gan phôi thai cho đến khi sinh và rồi chúng tiếp tục di chuyển đến phổi, khí quản và ruột non; tại đó ấu trùng sẽ trưởng thành. Ngoài sự lan truyền chu sinh, sự lan truyền qua đường sữa mẹ (transmammary) đôi khi cũng xảy ra.

    Chu kỳ sinh học của Toxocara cati gần tương tự Toxocara canis. Khi những trứng embryonated egg trưởng thành được nuốt vào, chúng phát triển đến giai đoạn trưởng thành thông qua đường di chuyển phổi-khí quản. trong những trường hợp nhiễm ở mèo trưởng thành, một vài trứng bị ăn vào sẽ phát triển theo hướng này, nhưng một số khác sẽ ký sinh trong những mô khác nhau như giai đoạn ấu trùng. Mặc dù nhiễm trùng qua con đường nhau thai không xảy ra, ấu trùng ở con mèo cái đi vào tuyến sữa, nhiễm cho mèo con qua đường sữa.

    3. Đường lây nhiễm:

    3.1. Trên chó và mèo:

    a.Trực tiếp bằng con đường tiêu hóa trứng nhiễm ấu trùng từ đất.
    b.Gián tiếp bằng cách ăn các vật chủ ăn thịt
    c.Nhiễm trùng chu sinh (chỉ có T.canis)
    d.Tiêu hóa ấu trùng qua con đường phân
    e.Lây truyền qua đường sữa

    3.2.Trên người:

    a.Gián tiếp bằng cách tiếp xúc với các vật bị nhiễm ấu trùng
    b.Gián tiếp qua cách ăn đất (geophagia), phân (coprophagia) hay các thực phẩm có trứng giun đũa chó nhiễm.
    c.Trực tiếp bằng cách tay nhiễm tiếp xúc các cô bảo mẫu nhiễm mầm bệnh hay miệng, tả lót,…

    Con người bị nhiễm phải do nuốt trứng trưởng thành hoặc ăn thịt của vật chủ khác có chứa ấu trùng. Trên trẻ em từ 1 - 4 tuổi sẽ có tỷ lệ mắc bệnh cao hơn do có nhiều cơ hội nhiễm từ đất. Sau khi tiêu hóa, ấu trùng tách ra khỏi trứng trưởng thành đi đến những cơ quan khác bằng con đường di chuyển trong cơ thể. Chúng cũng có thể chu du vài lần đến các mô, cuối cùng đóng kén thành ấu trùng và tạo u hạt, làm tăng bạch cầu eosin ở tất cả các cơ quan chính của cơ thể, trong đó bao gồm cả não và mắt.


    4. Dịch tễ:

    Bệnh do giun đũa chó, mèo gây ra có thể xuất hiện khắp mọi nơi trên thế giới, không phụ thuộc nông thôn hay thành thị, ngay cả những nước tiên tiến vẫn có khả năng nhiễm và thậm chí nhiễm nhiều. Do vậy, một số quốc gia có các bác sĩ chuyên chăm sóc cho con vật cảnh, vật cưng, thú nuôi trong nhà như tại Nhật Bản, Mỹ, Úc, Pháp, Chi Lê, Na Uy,….










    II. Triệu chứng học:

    Triệu chứng lâm sàng phụ thuộc rất nhiều vào số lượng và vị trí ký sinh của sán đối với vật chủ, và biểu hiện triệu chứng bắt đầu từ các cơ quan bị nhiễm. Có thể không có triệu chứng nếu nhiễm trùng nhẹ, ấu trùng có thể lang thang trong gan, phổi, tim, não, mắt và có thể gây ra hội chứng tăng eosin mạn tính, tăng bạch cầu, sốt, gan to, viêm phế quản, giả hen, viêm phổi, viêm cơ tim, động kinh hoặc trì trệ trí tuệ, viêm võng mạc, viêm kết mạc, viêm màng bò đào, viêm nhãn cầu... Trong quá trình lưu hành trong cơ thể chúng đi đến các mô khác nhau và gây ra ít nhất 3 triệu chứng ở người:

    - U hạt do ấu trùng (larval granulomatosis),
    - Hội chứng ấu trùng di chuyển trong tạng (visceral larva migrans syndrome),
    - Hôi chứng ấu trùng di chuyển trong cơ quan mắt (ocular larva migrans syndrome)

    Và phần lớn là nhiễm giun đũa chó / mèo ẩn không triệu chứng (covert toxocariasis).


    III. Chẩn đoán :

    1. -Trên chó và mèo: xét nghiệm phân chẩn đoán dựa trên đặc điểm trứng hoặc tìm thấy giun trong mẫu phân;
    2.-Trên người: chẩn đoán lâm sàng thường không chắc chắn bởi lẽ triệu chứng giun đũa chó và mèo không điển hình; sinh thiết gan, tìm thấy giun và test huyết thanh miễn dịch sẽ hỗ trợ chẩn đoán rất nhiều.

    Thật khó chẩn đoán xác định dựa trên lavabo bởi vì cả trứng và sán đều không đi qua phân người, kết quả sinh thiết thường không xác định cho dù tổn thương các mô lan rộng.


    Ngoài ra, những dấu hiệu tự nhiên và lâm sàng không đặc hiệu có thể dẫn đến chẩn đoán không chính xác hoặc thiếu cơ sở.


    - Test huyết thanh miễn dịch ELISA rất có ích trong chẩn đoán. Sử dụng ELISA đặc hiệu kháng nguyên giai đoạn ấu trùng sẽ có hiệu quả và độ nhạy hơn các tét chẩn đoán khác nếu huyết thanh được ủ /hấp phụ làn đầu tiên với kháng nguyên trong huyết thanh Ascaris để loại bỏ những kháng thể gây ra phản ứng chéo.

    Các xét nghiệm khác có thể biểu hiện tăng gammaglobuline máu và tăng hiệu giá kháng thể anti-A hoặc anti-B isohemagglutinin. U hạt hoặc dạng abces có thể xuất hiện trên phim chụp CT scans với hình ảnh giảm âm giống như tổ chức viêm nhiễm.
    - Test trong da hay lẩy da Toxocara có thể cho phản ứng dương tính giả do các dị nguyên chia sẽ chung (shared allergens) giữa Toxocara Ascaris.
    - Các phương pháp đo quang ( phương pháp ELISA đo mật độ quang) có giá trị chẩn đoán xác định cao hơn .

    3. Chẩn đoán xác định một bệnh hệ thống do ký sinh trùng giun đũa chó


    1.Sự hiện diện của các triệu chứng lâm sàng đặc biệt (gan to)

    2.Các xét nghiệm cận lâm sàng (tăng bạch cầu, đặc biệt tăng bạch cầu eosin tăng trên 8% , có thể tăng trên 50%, hiệu giá isohemagglutinin và tăng gammaglobulin huyết thanh;
    3.Tiền sử lâm sàng (có tiếp xúc nguồn lây chó mèo, hoặc thói ăn đất ở trẻ em)
    4. Sự có mặt của test huyết thanh dương tính với kháng thể kháng Toxocara spp trong huyết thanh (ELISA hoặc Ouchterlony test).

    IV. Điều trị:


    Hiện tại có rất nhiều loại thuốc trên thị trường có hiệu quả với bệnh giun đũa cho mèo này, song mỗi loại thuốc có cơ chế tác dụng riêng và có những tác dụng phụ nhất định. Phần lớn liệu trình điều trị thuốc nào cũng vậy là dài ngày nên khó tránh khỏi các cảm giác khó chịu, nhất là triệu chứng rối loạn tiêu hóa. Dưới đây là một số thuốc có hiệu quả và đã được nghiên cứu:


    - Thiabendazole 25mg/kg cân nặng, hai lần/ngày trong 21 ngày.

    - Dietylcarbamazine 3mg/kg cân năng 3 lần/ ngày trong 21 ngày.
    - Albendazole gần đây cũng cho thấy có hiệu quả trên truờng hợp nhiễm giun đũa chó, với liều cao 800mg/ ngày trong 2-3 tuần.

    Vì đây là giun đũa chó sống ký sinh lạc chủ cho nên ấu trùng giun không ở trong ruột mà chúng giao du khắp nội tạng, mô mềm và da. Chính vì vậy mà vấn đề điều trị rất khó khăn và liệu trình điều trị dài ngày chứ không phải chỉ uống một liều duy nhất như giun đũa người.


    1. Phát đồ điều trị:

    - Hiện nay thuốc được lựa chọn là Albedazol có rất nhiều biệt dược trên thị trường và rất nhiều hảng sản xuất kể cả trong nước và thuốc ngoại nhập.
    - Phát đồ điều trị là 21 ngày với 800 mg/ ngày . Nếu trong thời gian sau điều trị liệu trình đầu tiên mà các triệu chứng đặc hiệu cải thiện rõ thì không điều trị lặp lại, nếu sau điều trị liệu trình đầu tiên mà các triệu chứng đặc hiệu không cải thiện thì xem xét điều trị liệu trình tiếp theo là 14 ngày với 800 mg/ ngày và cách lệu trình đầu tiên ít nhất là 01 tháng để tránh ngộ độc cho gan có thể xảy ra. Trong trường hợp sau điều trị liệu trình thứ 2 mà các triệu chứng đặc hiệu không cải thiện thì có thể xem xét điều trị liệu trình lần 3 với 7 ngày, nếu vẫn còn triệu chứng thì cần rà soát lại triệu chứng đó có phải là do giun đũa chó gây ra hay không, xét nghiệm dương tính đó có đúng chưa, cần phải xem xét loại trừ để có hướng chẩn đoán khác và điều trị thích hợp.
    - Lưu ý Tác dụng phụ của thuốc: có khá nhiều tác dụng không mong muốn nhưng điều đáng lưu ý là viêm gan và giảm bạch cầu hạt. Do vậy trước khi điều trị và sau khi điều trị một liệu trình việc kiểm ra công thức bạch cầu, chức năng gan và siêu âm gan là rất cần thiết.

    2. Xét nghiệm theo dõi sau điều trị:


    Vì sau khi giun chết thì kháng thể vẫn còn tồn tại trong máu người bệnh một thời gian khá dài, do đó xét nghiệm để theo dõi kết quả điều trị có đáp ứng hay không thì phải lá 6 tháng và 12 tháng sau điều trị, nếu hiệu giá kháng thể giảm dần thì liệu trình điều trị có đáp ứng tốt.


    V. Phòng bệnh:

    1.Hạn chế tối đa tiếp xúc, các chó mèo bị nhiễm và môi trường nghi ngờ có bệnh;
    2.Kiểm tra phân của những chó con hàng tuần và tẩy giun mỗi tháng cho đến khi phân trở nên âm tính; Phải có quy trình kiểm tra phân định kỳ mỗi năm cho chó và có kế hoạch điều trị cần thiết;
    3. Không để chó chạy trong khu vườn chơi trẻ con, công viên và không để trẻ chơi với chó.
    4. Nhanh chóng loại bỏ các thùng chứa phân chó, nơi gủ của chó cần phải cách ly với người và phải được dọn sạch, khử trung hàng ngày;
    5. Kiểm soát chó chặt chẽ và buộc dây xích, không để chó nhảy rông.
    6. Tuyên truyền giáo dục sức khỏe cho công đồng và những chủ vật nuôi bởi các nhà thú y, các thầy thuốc, các nhà hoạt động xã hội để góp phần vào công tác dự phòng và phòng chống bệnh.
    7. Rửa ta cho trẻ con sau khi chơi ở nơi có cát và vật nuôi.


    B. TẠI SAO TỶ LỆ NHIỄM GIUN ĐŨA CHÓ/MÈO Ở NGƯỜI LẠI CAO NHƯ HIỆN NAY

    Trong thời gian qua, khá nhiều bệnh nhân hoang mang và thậm chí mất bình tĩnh khi cầm trên tay một xét nghiệm huyết thanh miễn dịch ELISA dương tính với giun đũa chó, trong khi đó có người biểu hiện triệu chứng hoặc không biểu hiện triệu chứng, nhưng phần lớn các triệu chứng lâm sàng này không điển hình và rất mơ hồ và một điểm chung là cảm thấy “ ngứa, đau đầu, khó chịu trong người”.

    Trong thời gian gần 2 năm qua, dường như trên 85% số người đến khám và nhập viện hoặc kiểm tra xét nghiệm bộ chẩn đoán các loại giun sán (gồm ELISA cho sán lá gan lớn Fasciolae spp. , ấu trùng sán lợn Cysticercosis, giun đầu gai Gnathostoma spinigerum, giun lươn Strongyloides stercoralis, giun đũa chó/mèo Toxocara spp. ngẫu nhiên tại các viện, bệnh viện nhà nước và cơ sở điều trị tư nhân trong cả nước, kể cả tại Bệnh viện Phong Da liễu Trung ương Quy Hòa cho thấy phần lớn dương tính với giun đũa chó, mèo Toxocara spp.

    Một điều đáng chú ý là bất luận có kết hợp triệu chứng lâm sàng trên bệnh nhân hay không, thông số bạch cầu eosin tăng cao hay không? Các thông số khác về sinh hóa, huyết học,...(nghĩa là liệu có đủ tiêu chuẩn để chẩn đoán một ca bệnh giun đũa chó, mèo hay không?) thì các bác sĩ điều trị vẫn kê đơn như một bài học thuộc lòng là Albendazole 42 viên, 28 viên, rồi lại 14 viên, rồi đâu lại vào đó, có trường hợp bệnh nhân dùng đến tổng cộng 168 viên Albendazole 400mg....mà bệnh nhân thì vẫn cứ ngứa, cứ nổi mề đay, cứ xuất hiện dát mảng đỏ. Thậm chí có trường hợp bệnh nhân biểu hiện lâm sàng rất rõ là biểu hiện một viêm da tiết bả nhờn cũng chẩn đoán do giun đũa chó (vì xét nghiệm ELISA Toxocara spp dương tính 1/1600) nên cứ thế điều trị và theo dõi 6 tháng, đến khi bệnh nhân đến khám tại Bệnh viện Phong và da liễu Trung ương Quy Hòa mới được các bác sĩ xác định là bệnh viêm da dầu tiết bã và còn nhiều ca bệnh khác nữa ....

    Vậy nguyên nhân do đâu mà dẫn đến hiện tượng người người nhiễm giun đũa chó, nhà nhà, người người điều trị giun đũa chó như vậy. Thực hư tình trạng nhiễm/ bệnh giun đũa chó / mèo như thế nào hiện nay? Đó cũng là câu hỏi mà bạn đọc cũng như nhiều đồng nghiệp hoặc người thân gia đình đi xét nghiệm với kết quảToxocara spp dương tính và một túi thuốc trên tay; tại sao ai cũng mắc giun đũa chó vậy?

    Dưới đây là các dẫn liệu dựa trên y học chứng cứ.


    1. Thứ nhất, một công trình nghiên cứu rất tuyệt vời của nhóm tác giả Mustafa Kaplan, Ahmet Kalkan, Salih Kuk, Kutbeddin Demirdag, Mehmet Ozden, and S. Sirri Kilic đang công tác tại đại học y khoa, khoa ký sinh tùng y học, khoa vi trùng học cùng tiến hành và đăng trên tạp chí Yonsei Med J Vol. 49, No. 2, 2008 cho biết: Một tỷ lệ huyết thanh dương tính cao với Toxocara đã được báo cáo tại nhiều quốc gia đang phát triển-nơi mà thời tiết ở đó ẩm, ấm thích hợp cho trứng sống sót và phát triển trong đất. Bệnh giun đũa chó mèo thường gặp ở những nơi mà quần thể chó lớn nhưng tình trạng vệ sinh kém. Quần thể nhiễm bệnh cao bao gồm trẻ em, người chủ nuôi chó, người đang sống tại các vùng nông thôn và người có hội chứng pica. Có một mối liên quan chặt chẽ giữa lối sống và nguy cơ nhiễm bệnh Toxocara được ghi nhận. Ngoài ra, nhiễmToxocara có thể tăng trên những đối tượng trí tuệ phát triển chậm hoặc bệnh lý thần kinh khi họ không thực hiện đầy đủ vệ sinh. Điển hình, các bệnh nhân bị tâm thần phân liệt vệ sinh kém và kỹ năng chăm sóc bản thân kém. Mục đích trong nghiên cứu của họ là điều tra tỷ lệ huyết thanh dương tính với giun đũa chó mèo trong số các bệnh nhân tâm thần phân liệt và so sánh chúng với nhóm người khỏe mạnh tại Thỗ Nhĩ Kỳ.

    Chẩn đoán bệnh giun đũa chó mèo hiện tại dựa vào các xét nghiệm huyết thanh học sử dụng các kháng nguyên tiết (excretory-secretory antigens) từ ấu trùng giai đoạn 2 của T. canis (TES), vì chúng thật khó phát hiện một ấu trùng Toxocaragiai đoạn nhiễm trên mẫu sinh thiết. ELISA và Western-blott là các xét nghiệm thường được sử dụng nhất để xác định kháng thể kháng Toxocara.

    Chúng ta cũng nên biết xét nghiệm ELISA hiện đang làm phổ biến, không đắt tiền và đặc biệt chúng được khuyến cáo rất nhiều trong nghiên cứu đánh giá về mặt dịch tễ học. Các xét nghiệm ELISA có sử dụng kháng nguyên TES thì cho độ đặc hiệu cao (86 - 100%) và độ nhạy cũng vậy (80 - 100%). Phản ứng dương tính chéo đã được báo cáo rất nhiều trong các chuyên san về xét nghiệm huyết thanh học ở nhiễm trùng giun sán như dương tính chéo với 14 loại bệnh giun sán khác nhau: giun chỉ, giun xoắn, giun lươn, giun đầu gai, giun mạch, bệnh do ký sinh trùng anisakiasis, giun đũa, giun móc, sán máng, sán lá phổi, sán lá gan lớn, sán nhái và bệnh spirometriasis) khi sử dụng các kháng nguyên TES để xét nghiệm tìm kháng thể mặc dù đã sử dụng kháng nguyên tái tổ hợp.

    2. Thứ hai, cũng cần lưu ý đến các kít chẩn đoán huyết thanh học hiện nay xem thử loại kháng nguyên cài đặt là loại kháng nguyên thân hay kháng nguyên tiết để chúng ta mới có khả năng đánh giá gần chính xác trên bệnh nhân để đưa ra quyết định điều trị;

    3. Thứ ba, việc chẩn đoán xác định và đưa ra quyết định điều trị còn tùy thuộc rất nhiều yếu tố chứ không chỉ đơn thuần chỉ mỗi xét nghiệm dương tính ELISA vì chúng không phải là “chuẩn vàng” trong chẩn đoán bệnh giun đũa chó.

    4. Thứ tư, hiện nay các phòng xét nghiệm phần lớn chỉ dừng lại đọc kết quả dương tính dạng hiệu giá kháng thể 1/800; 1/1600; 1/3200; 1/6400 chứ chưa áp dụng các phương pháp đo quang, nên kết quả xét nghiệm còn hạn chế trong việc đánh giá giữa âm tính và dương tính. Nói tóm lại, thực tế xét nghiệm huyết thanh chẩn đoán hiện nay đánh giá tỷ lệ dương tính của giun đũa chó, để từ đó làm cơ sở cho điều trị và theo dõi diễn tiến bệnh là chưa phải là một kỹ thuật chẩn nhất tốt nhất.

    http://xetnghiemmau.com/threads/benh-giun-dua-cho-o-nguoi.193/


    ----------------------------------


    Các xét nghiệm chẩn đoán Toxocara spp

    1. Đặc điểm của bệnhĐịnh nghĩa ca bệnh:

    - Ca bệnh lâm sàng: Người nhiễm ấu trùng giun đũa chó hoặc ấu trùng giun đũa mèo. Bệnh không có triệu chứng lâm sàng đặc hiệu, gặp ở trẻ em nhiều hơn người lớn. Một số bệnh nhân có biểu hiện gan to; sốt; có các triệu chứng của phổi như ho, đau ngực; đau bụng, khó tiêu; tăng globulin máu; tăng bạch cầu ưa a xít không thường xuyên. Trường hợp nặng, các triệu chứng có thể kéo dài hàng năm, các hội chứng viêm phổi, viêm nội nhãn, đau bụng mãn tính, rối loạn thần kinh khu trú có thể xảy ra do sự di trú của ấu trùng giun toxocara, bạch cầu tăng và bạch cầu ái toan tăng có thể chiếm tới 80-90%.
    - Ca bệnh xác định: Thử nghiệm ELISA dùng kháng nguyên ấu trùng dương tính.
    Chẩn đoán phân biệt với một số bệnh tương tự: Các tổn thương ở phổi có thể nhầm với tổn thương ung thư. Các tổn thương ở võng mạc có thể nhầm với u nguyên bào võng mạc.

    2. Xét nghiệm chẩn đoán Toxocara spp:

    2.1. Xét nghiệm cận lâm sàng
    - Công thức máu ngọai biên: bạch cấu ái toan tăng cao (> 4%).
    - Điện di protein: đôi khi tăng gamma Globuline (IgM).
    - Dịch não tủy (trường hợp nghi ngờ nhiễm trùng hệ thần kinh trung ương).
    - Dịch não tủy nước trong, tăng bạch cầu (Bạch cầu Eosinophile > 10%).
    Sinh hóa dịch não tủy có thể bình thường hoặc biến đổi như viêm màng não mủ (đường giảm, protein tăng).
    - Soi phân: tìm trứng giun (không có giá trị).
    - Huyết thanh chẩn đoán (Elisa): rất có giá trị trong chẩn đoán.Test Elisa có độ nhạy 75%, độ đặc hiệu 90%. Độ đặc hiệu có thể thấp hơn ở những vùng nhiệt đới do khả năng phản ứng chéo với các bệnh giun sán khác.
    - Kỹ thuật Western Blot có độ chính xác cao hơn nhưng khó thực hiện.

    2.2. Thử nghiệm huyết thanh học ELISA
    (Enzyme Linked Immunosorbent Assay): dùng kháng nguyên ấu trùng giun toxocara, độ nhạy từ 75-90% được xem là có độ nhạy cao trong chẩn đoán các bệnh ký sinh trùng đường ruột.
    Nguyên lý chung: là dựa trên sự kết hợp đặc hiệu giữa kháng nguyên và kháng thể, trong đó kháng thể được gắn với 1 enzyme. Khi cho thêm cơ chất thích hợp vào phản ứng, enzyme sẽ thủy phân cơ chất thành một chất có màu. Sự xuất hiện màu chứng tỏ đã xảy ra phản ứng đặc hiệu giữa kháng thể với kháng nguyên và thông thường qua cường độ màu mà biết được nồng độ kháng nguyên hay kháng thể cần phát hiện.
    - Kỹ thuật này khá nhạy và đơn giản cho phép ta xác định được kháng nguyên và kháng thể ở một nồng độ rất thấp (khoảng 0,1 ng/ml).
    - Kỹ thuật ELISA gồm 3 thành phần tham gia phản ứng: kháng nguyên, kháng thể và chất tạo màu, thực hiện qua 2 phản ứng:
    + Phản ứng miễn dịch học: Là sự kết hợp giữa kháng nguyên và kháng thể.
    + Phản ứng hóa học: Thông qua hoạt tính xúc tác của enzyme là giải phóng oxy nguyên tử [O] từ H2O2 để oxy hóa chất chỉ thị màu, do đó làm thay đổi màu của hỗn hợp trong dung dịch thí nghiệm.

    2.3. Kỹ thuật Western – Blot:

    Dùng để kiểm tra lại sau khi đã chẩn đoán sàng lọc bằng thử nghiệm huyết thanh học ELISA. Kỹ thuật này rất phức tạp và thường chỉ dùng trong nghiên cứu.
    Nguyên lý chung : Là kỹ thuật lai giữa protein và protein (kháng nguyên và kháng thể) . Protein của kháng nguyên được phát hiện qua phản ứng tạo màu hoặc phát hùynh quang
    Trong phương pháp này protein (kháng nguyên) sẽ được phân tách bằng điện di trên gel SDS – PAGE. Sau đó các vạch protein được chuyển lên màng nylon và từng vạch protein được phát hiện bằng cách ngâm màng nitrocellulose với kháng thể đơn dòng hoặc đa dòng có gắn enzyme hoặc đánh dấu phóng xạ đặc hiệu cho protein quan tâm. Phức hợp kháng nguyên – kháng thể tạo thành trên các vạch chứa protein được nhận diện bởi kháng thể có thể phát hiện bằng đo màu hoặc bằng huỳnh quang.

    Tài liệu tham khảo:
    1) http://www.vbs.ac.vn/bai-tong-quan/w...blotting-n172/
    2) Cục Y tế dự phòng , Bộ Y tế (2013),Toxocara,
    www.vncdc.gov.vn

    http://www.impehcm.org.vn/noi-dung/kham-benh-giun-san/cac-xet-nghiem-chan-doan-toxocara-spp.html




    ---------------------------



    Bệnh giun đũa chó mèo (Toxocariasis)

    1. Mở đầu

    Trường hợp bệnh giun đũa chó, mèo ở người được Wilder mô tả lần đầu năm 1950 khi phát hiện ấu trùng của giun tròn trong u hạt võng mạc (retinal granuloma). Sau đó Beaver và cs. (1952) lần đầu tiên dùng từ “ấu trùng di chuyển nội tạng” (visceral larva migrans) để báo cáo một loạt ca bệnh trẻ em có bạch cầu ái toan tăng cao trong máu đi kèm với bệnh nặng và kéo dài ở nhiều cơ quan, và khi làm sinh thiết phát hiện ấu trùng của Toxocara canis hay Toxocara cati[4].


    Trong nhiều năm bệnh giun đũa chó, mèo ở người được xem là bệnh ít gặp ở trẻ em, nhưng với những tiến bộ trong huyết thanh chẩn đoán những năm gần đây người ta thấy tỷ lệ người có phản ứng dương tính với kháng nguyên ngoại tiết của Toxocara sp. không phải là thấp, kể cả ở trẻ em lẫn người lớn và một số tác giả còn cho rằng đây là một bệnh giun sán phổ biến nhất ở các nước phát triển [10].2.

    Tác nhân gây bệnhTác nhân gây bệnh là Toxocara canis hay Toxocara cati, một loài giun tròn thường được gọi là giun đũa của chó, mèo.Các giun này sẽ đẻ trứng,trứng theo phân ra ngoài môi trường và sau 1-2 tuần lễ các trứng này sẽ hoá phôi.

    Đây là giai đoạn có thể gây bệnh cho người nếu nuốt phải trứng. Trẻ em là đối tượng dễ nhiễm bệnh nhất do thói quen đùa nghịch với đất cát, mà đất cát lại là nơi phát tán trứng giun do đặc tính phóng uế bừa bãi của chó, mèo.

    Sau khi nuốt trứng vào cơ thể, các ấu trùng giun sẽ được phóng thích, đi xuyên qua thành ruột và theo đường máu di chuyển đến gan, phổi, hệ thần kinh trung ương. Tại đây, các ấu trùng có thể sống sót trong cơ thể người trong nhiều tháng và sau đó bị phản ứng viêm của cơ thể tiêu diệt các ấu trùng di chuyển hoặc khiến chúng ngưng phát triển, nhưng chỉ sau khi các ấu trùng này đã gây tổn thương tại các mô.


    Một đoạn ruột non của chó với T. canis trưởng thành.Giun đực có đuôi cong, giun cái có đuôi thẳng
    Trứng T. canis chưa hoá phôi
    Trứng T. canis đã hoá phôi


    3. Dịch tễ


    Do đặc điểm chó, mèo là những động vật rất gần gũi với người, nên bệnh phân bố khắp thế giới và nhiều tác giả cho rằng đây là bệnh động vật ký sinh phổ biến nhất ở vùng ôn đới [10,15].

    Một số khảo sát trên thế giới cho thấy:+ Huyết thanh người tại một số nước phương Tây có tỷ lệ dương tính với Toxocara spp. từ 2-5% ở vùng thành thị đến 14,2-37% ở vùng nông thôn.

    Ở vùng nhiệt đới, tỷ lệ huyết thanh dương tính là 63,2% ở Bali, 86% ở đảo Saint-Lucia, 92,8% ở đảo La Réunion [10].

    + Huyết thanh Toxocara dương tính tại Sri Lanka là 43% ở vùng nông thôn (Iddawela et al., 2003) và 20% ở vùng thành thị (Fernando et al., 2007) [5].

    + Năm 1989, trong 6100 mẫu máu tại Trung tâm Truyền máu La Chaud-de-Fonds (Thụy Sĩ) có 601 (9,9%) trường hợp dương tính với Toxocara spp., và trong 501 mẫu máu trẻ em tại hai bệnh viện La Chaud-de-Fonds và Delémont (Thụy Sĩ) có 18 (3,6%) trường hợp dương tính [7].


    + Trung tâm Kiểm soát và Phòng chống bệnh Hoa Kỳ (CDC) đã ghi nhận có 68 bệnh nhân mắc mới bệnh giun đũa chó, mèo thể di chuyển ở mắt trong khoảng thời gian tháng 9/2009 đến tháng 9/2010 tại Hoa Kỳ.

    Trước đó một điều tra cắt ngang tại Hoa Kỳ trong các năm từ 1988 đến 1994 với trên 20000 người lớn hơn 6 tuổi cho thấy tỷ lệ huyết thanh dương tính là 13,9% (Peter J. Hotez, 2009).


    Tình hình bệnh tại Việt Nam:Bệnh giun đũa chó, mèo tại Việt Nam chưa được nghiên cứu nhiều, một phần vì các triệu chứng lâm sàng không đặc hiệu, một phần vì việc xét nghiệm phân không áp dụng được trong bệnh này vì giun không phát triển được đến giai đoạn trưởng thành và đẻ trứng trong ruột của người. Những năm gần đây đã có nhiều điều tra về huyết thanh học, chủ yếu với kỹ thuật ELISA nhưng chỉ giới hạn ở một số địa điểm cụ thể và số mẫu chưa nhiều nên các số liệu khó nói lên tình hình nhiễm chung trong cả nước.


    + Một điều tra khảo sát tình hình nhiễm ấu trùng giun đũa chó ở xã Thạnh Tân, thị xã Tây Ninh năm 2009 cho thấy tỷ lệ huyết thanh dương tính với Toxocara canis là 20,6%[16].

    + Theo dõi tình hình nhiễm Toxocara canis trong số cán bộ chiến sĩ công an nghi ngờ nhiễm ký sinh trùng đến khám và điều trị tại bệnh viện 30-4 TP. HCM,cho các số liệu sau: năm 2011 huyết thanh dương tính với Toxocara sp. là 40/861 (4,6%) trường hợp, năm 2012 tỷ lệ này là 130/1628 (8%) trường hợp [20].

    Tuy chưa có số liệu chính xác về tình hình bệnh, nhưng cơ hội lây nhiễm trứng giun đũa chó, mèo vào người tại Việt Nam là rất cao, dẫn đến tình hình bệnh không phải là thấp doviệc nuôi chó, mèo trong nhà là phổ biến (để giữ nhà, làm thú cảnh, nguồn thực phẩm…).

    Một khảo sát tình hình nhiễm giun tròn đường tiêu hóa trong177 con chótại một số địa phương tỉnh Thanh Hóa cho thấy qua mổ khám tỷ lệ chó nhiễm Toxocara canis chiếm từ 10% - 25% và qua xét nghiệm phân là từ 22,8% - 40% [18].

    Ngoài ra một khảo sát trên 90 mẫu rau sống bán tại các siêu thị trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh, số mẫu rau nhiễm trứng giun đũa chó, mèo chiếm đến 67,7% [17].4. Lâm sàngỞ ký chủ vĩnh viễn (chó hay mèo nhà), giun trưởng thành sống trong lòng ruột non. Người mắc bệnh khi nuốt phải trứng giun đũa chó, mèo đã hoá phôi.

    Nhưng các ấu trùng từ trứng nở ra sẽ không phát triển được đến giai đoạn trưởng thành và sẽ chu du trong cơ thể người trong vài tháng đến nhiều năm. Các ấu trùng này sẽ gây tổn thương tại những nơi mà chúng đến, làm nên bệnh giun đũa chó, mèo ở người.Mức độ tổn thương của cơ thể cùng với các triệu chứng tùy thuộc vào số lượng ấu trùng cũng như cơ quan mà chúng xâm lấn: gan, phổi, hệ thần kinh trung ương, mắt… Các thể lâm sàng của bệnh giun đũa chó, mèo được mô tả như sau [4]:
    • Thể ấu trùng di chuyển nội tạng (visceral larva migrans – VLM), chủ yếu gặp ở trẻ < 5 tuổi với các triệu chứng:sốt, gan to và bị hoại tử, lách to, triệu chứng hô hấp giống như hen suyễn, bạch cầu ái toan tăng (tỷ lệ có thể đến 70%), các globulin miễn dịch IgM, IgG và IgE trong máu tăng. Ngoài ra có thể gặp viêm cơ tim, viêm thận, hệ thần kinh trung ương bị thương tổn với các triệu chứng co giật, triệu chứng tâm thần kinh hay bệnh lý ở não.
    • Thể ấu trùng di chuyển ở mắt (ocular larva migrans – OLM), gặp ở trẻ từ 5 đến 10 tuổi với triệu chứng giảm thị lực một bên mắt với đôi khi bị lé mắt. Mức độ suy giảm thị lực tuỳ thuộc vào vùng bị thương tổn (võng mạc, điểm vàng), có thể dẫn đến mù loà.
    Ngoài hai thể lâm sàng chính nói trên, hiện nay nhiều tác giả còn mô tả những thể khác, hoặc tách ra từ thể VLM hoặc là những thể riêng biệt với những triệu chứng mơ hồ hơn như [6,11]:
    • Thể “che đậy” (covert toxocariasis), được mô tả ở trẻ em với các đặc điểm: hiệu giá kháng thể Toxocara qua kỹ thuật ELISA vừa phải (≥ 1/50), số lượng bạch cầu ái toan bình thường hay tăng nhẹ, đau bụng, nhức đầu, ho.
    • Thể “thông thường” (common toxocariasis), được các tác giả người Pháp mô tả ở người lớn với các triệu chứng: mệt mỏi, ngứa, nổi ban, thở khó và đau bụng. Có lẽ thể “che đậy” và thể “thông thường” chỉ là một, chỉ khác nhau ở đối tượng bị bệnh là trẻ em hay người lớn.
    • Thể “thần kinh” (neurotoxocarosis), gây bệnh ở hệ thần kinh trung ương (sa sút trí tuệ, viêm não-màng não, viêm tuỷ, viêm mạch máu não, động kinh hay viêm dây thần kinh thị giác) hoặc ở thần kinh ngoại biên (viêm rễ thần kinh, gây tổn thương các dây thần kinh sọ hay thần kinh cơ-xương).
    Một nghiên cứu năm 2012 của Trung tâm Khám bệnh chuyên ngành Viện Sốt rét-KST-CT TP. Hồ Chí Minh trên 103 bệnh nhân có test ELISA Toxocara dương tính cho thấy các triệu chứng sau [19]:

    TT Triệu chứng Tần suất Tỷ lệ %
    1 ELISA (+) 103 100
    2 Ngứa 97 94,2
    3 Mề đay 97 94,2
    4 Đau đầu 76 73,8
    5 Rối loạn tiêu hóa 34 33,0
    6 Bạch cầu ái toan tăng 21 20,4
    7 Ăn kém 15 5,0
    8 Đaubụng 14 4,7
















    5. Chẩn đoánChẩn đoán bệnh giun đũa chó, mèo là một việc khó vì [1,4,9,11,15]:
    • Triệu chứng trong các thể lâm sàng của bệnh giun đũa chó, mèo không đặc hiệu cho bệnh,
    • Ấu trùng có thể phân tán rộng trong cơ thể và không phải lúc nào làm sinh thiết cũng phát hiện được ấu trùng,
    • Huyết thanh chẩn đoán ELISA sử dụng kháng nguyên ngoại tiết TES (Toxocara excretory-secretory antigen) có thể dương tính chéo với các trường hợp nhiễm giun, sán khác (giun đũa, giun móc, giun lươn, giun chỉ hệ bạch huyết, sán lá gan lớn, sán dây). Do đó để khẳng định thì phải làm Western-Blot là một kỹ thuật có tính đặc hiệu cao hơn.
    • Ngoài ra nhiều nơi sản xuất kit ELISA với những hiệu giá kháng thể hay mật độ quang (OD) khác nhau về ngưỡng dương tính, nên khó so sánh hay theo dõi diễn tiến bệnh.
    • Sự hiện diện của kháng thể chống Toxocara cũng không nói lên tình trạng đang mắc hay đã mắc bệnh vì các kháng thể chống Toxocara có thể tồn tại đến hơn 2,8 năm với kỹ thuật ELISA và đến hơn 5 năm với kỹ thuật Western-Blot.
    • Số lượng bạch cầu ái toan có thể bình thường hoặc có tăng nhưng với mức độ rất thay đổi.
    Chính vì những khó khăn trên nên một số tác giả đã tìm cách định nghĩa ca bệnh giun đũa chó, mèo. Năm 1979, Glickman và cs. đề xuất các tiêu chuẩn sau:
    1. Số lượng bạch cầu > 10.000/µL máu,
    2. Bạch cầu ái toan > 10% tổng số bạch cầu,
    3. Hiệu giá anti-A isohemagglutinin >400,
    4. Hiệu giá anti-B isohemagglutinin > 200,
    5. Nồng độ IgG và IgM tăng,
    6. Gan to
    Nếu hội đủ 3 tiêu chuẩn trên trở lên thì là mắc bệnh giun đũa chó, mèo.Năm 2001, Pawlowski lại đề xuất 5 chỉ thị (markers) cho bệnh giun đũa chó, mèo:
    1. Đặc điểm của bệnh nhân và bệnh sử,
    2. Các dấu hiệu và triệu chứng lâm sàng,
    3. Chẩn đoán huyết thanh dương tính,
    4. Tăng bạch cầu ái toan,
    5. Nồng độ IgE tăng.
    6. Điều trị


    Phác đồ điều trị bệnh giun đũa chó, mèo hiện nay chưa thống nhất về thuốc tối ưu, cũng như liều lượng và thời gian điều trị.

    Nhìn chung albendazole được nhiều tác giả khuyến cáo do tính an toàn, có sẵn và ít phản ứng bất lợi.

    Thời gian dùng albendazole cũng rất thay đổi tuỳ theo tác giả

    .+ S. D. Fernando (2011) điều trị cho trẻ em 4-13 tuổi tại Sri Lanka với albendazole liều 50 mg/kg/ngày chia làm 2 lần/ngày trong 3 ngày, và với DEC 6 mg/kg/ngày chia làm 3 lần/ngày trong 21 ngày.

    Đến tháng thứ 3 sau điều trị, hiệu giá huyết thanh Toxocara và số lượng bạch cầu ái toan giảm như nhau ở cả 2 phác đồ. Tác giả khuyến nghị dùng albendazole liều như trên để điều trị bệnh giun đũa chó, mèo do có hiệu quả và thời gian dùng thuốc ngắn [5].


    + Theo Magnaval (2001), thiabendazole liều 25-50 mg/kg/ngày trong 3-7 ngày có hiệu quả trong 50-53% trường hợp bệnh, mebendazole liều 20-25 mg/kg/ngày trong 21 ngày có hiệu quả trong 70% trường hợp bệnh và albendazole liều 10 mg/kg/ngày trong 5 ngày có hiệu quả trong 47% trường hợp bệnh.

    Tuy diethylcarbamazine (DEC) liều 3-4 mg/kg/ngày trong 21 ngày (khởi đầu với liều 25 mg/ngày và tăng dần) có hiệu quả đến 70% trường hợp bệnh nhưng có đến 28% bệnh nhân bị phản ứng bất lợi và 10% có phản ứng ngứa, nổi mề đay. Ivermectin không được khuyên dùng vì hiệu quả kém.

    Đồng thời tác giả cũng khuyến cáo rằng những bệnh nhân nào không có triệu chứng lâm sàng nhưng có tăng bạch cầu ái toan kéo dài cũng như những bệnh nhân nào có thể lâm sàng “che đậy” (covert toxocariasis) mà không có tăng bạch cầu ái toan thì không cần phải được điều trị vì bệnh sẽ tự khỏi [10].


    + Đối với thể ấu trùng di chuyển ở mắt (OLM) phải dùng corticoid (0,5-1 mg prednisone/kg/ngày) để chống hiện tượng viêm. Ngoài ra có thể dùng thiabendazole 25 mg/kg x 2 lần/ngày trong 5 ngày (liều tối đa trong ngày 3 g), albendazole 800 mg, ngày 2 lần trong 6 ngày, hoặc mebendazole 100-200 mg, ngày 2 lần trong 5 ngày. Nếu võng mạc bị bong thì phải phẫu thuật để can thiệp [3].

    + Despommier (2003) khuyến cáo sử dụng albendazole liều 400 mg, ngày 2 lần và dùng trong 5 ngày để điều trị bệnh giun đũa chó, mèo [4].

    + Carvalho (2011), cũng như Turrientes (2011) đề nghị dùng albendazole 15 mg/kg/ngày trong 5 ngày để điều trị, ngoại trừ thể bệnh không có triệu chứng thì không cần phải điều trị [1,14].

    + Magnaval (2006) đề xuất các phác đồ sau [9]:


    Thể bệnh Thuốc chọn lựa Liều đề nghị
    Ấu trùng di chuyển nội tạng Diethylcarbamazine (DEC) 3-4 mg/kg/ngày x 21 ngày
    Thể “thông thường” /Thể “che đậy” Diethylcarbamazine (DEC) Như trên
    Mebendazole 25 mg/kg/ ngày x 21 ngày
    Albendazole 10-13 mg/kg/ngày x 15 ngày
    Ấu trùng di chuyển ở mắt Corticoid (prednisone) 1 mg/kg/ngày x 1 tháng
    Diethylcarbamazine (DEC) Như trên
    Albendazole 400 mg (trẻ em)800 mg (người lớn) /ngày x 10-14 ngày

    + The Medical Letter on Drugs and Therapeutics[12], Trung tâm Kiểm soát và Phòng chống bệnh Hoa Kỳ (CDC, 2010) [2] cũng như Kappagoda (2011) [8] khuyến cáo sử dụng albendazole và mebendazole để điều trị bệnh giun đũa chó, mèo thể ấu trùng di chuyển nội tạng với các liều lượng như sau:
    • Albendazole 400 mg x 2 lần/ngày, uống trong 5 ngày
    • Mebendazole 100-200 mg x 2 lần/ngày, uống trong 5 ngày
    Đồng thời có thể kết hợp với corticoid để chống hiện tượng viêm.Albendazole: cơ chế tác dụng và các phản ứng bất lợiAlbendazole, thuộc nhóm benzimidazole, ức chế sự polyme-hoá tubulin của ký sinh trùng để tạo ra các microtubule, dẫn đến ký sinh trùng bị rối loạn hấp thu glucose.

    Khi đó ký sinh trùng sẽ không tạo ra được năng lượng, sẽ bị bất động và chết.

    Ngoài tác dụng lên ký sinh trùng trưởng thành, thuốc còn có tác dụng trên trứng và ấu trùng.Albendazole đã được sử dụng rộng rãi cho hàng trăm triệu người trong hơn 20 năm để điều trị các bệnh giun, sán ở người. Với liều thường dùng là liều duy nhất trong ngày (trẻ em > 2 tuổi và người lớn liều như nhau) hoặc trong 2-3 ngày, ít ghi nhận các phản ứng bất lợi.

    Nhưng khi dùng dài ngày, albendazole có thể có những phản ứng bất lợi như: đau bụng, rụng tóc hồi phục lại được, tăng men gan, giảm bạch cầu, nổi ban ngoài da, độc cho thận [2,13].7.


    Phòng bệnh
    • Hàng tuần dọn dẹp sạch sẽ nơi chó, mèo nằm.
    • Phân chó, mèo phải được chôn lấp hay bỏ vào túi và vứt bỏ vào thùng rác.
    • Không cho trẻ chơi đùa nơi có chó, mèo thải phân.
    • Rửa tay với xà phòng sau khi chơi đùa với chó, mèo, sau khi nghịch đất cát và trước khi ăn uống.
    • Định kỳ tẩy giun cho chó, mèo.

    Lần sửa cuối bởi obaasan, ngày 14-09-2017 lúc 01:47 PM.
    Woman of short-lived passions

  10. #20
    Vượt ngàn trùng sóng phunuthuthiet is a splendid one to behold phunuthuthiet is a splendid one to behold phunuthuthiet is a splendid one to behold phunuthuthiet is a splendid one to behold phunuthuthiet is a splendid one to behold phunuthuthiet is a splendid one to behold phunuthuthiet is a splendid one to behold phunuthuthiet's Avatar
    Ngay tham gia
    Nov 2014
    Bài viết
    1,432
    Rep Power
    13

    Re: Tìm hiểu các chỉ số trong xét nghiệm

    Xin cho biết cách trị từng món luôn đi bạn.

+ Trả lời Chủ đề
Trang 2 của 2 Đầu tiênĐầu tiên 1 2
Quyền viết bài
  • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
  • Bạn Không thể Gửi trả lời
  • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
  • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình