Un homme riche avait une femme qui tomba malade ; et quand celle-ci sentit sa fin prochaine, elle appela à son chevet sa unique fille et lui dit :
Có một người đàn ông giàu, vợ ông đang lâm trọng bệnh và khi bà cảm thấy mình sắp lìa xa cõi đời, bà gọi cô con gái duy nhất của mình lại bên giường và bảo:

— Chère enfant, reste bonne et pieuse, et le bon Dieu t’aidera toujours, et moi, du haut du ciel, je te regarderai et te protégerai.
Puis elle ferma les yeux et mourut.
- Con yêu của mẹ, con hãy luôn vâng lời và hiếu thảo với cha, và ông trời sẽ luôn giúp con, và mẹ trên trời cao cũng sẽ luôn dõi theo và bảo vệ cho con.
Nói xong, bà nhắm mắt và qua đời.


La fillette se rendit chaque jour sur la tombe de sa mère, pleura et resta bonne et pieuse.
L’hiver venu, la neige recouvrit la tombe d’un tapis blanc.
Mais au printemps, quand le soleil l’eut fait fondre, l’homme prit une autre femme.
Ngày ngày cô bé đến bên mộ mẹ ngồi khóc, cô bé luôn vâng lời và hiếu thảo.
Mùa đông đến, tuyết phủ đầy mộ như một tấm thảm trắng.
Nhưng đến mùa xuân, khi ánh mặt trời xoá tan lớp băng đó, thì người cha lấy vợ mới.


La femme avait amené avec elle ses deux filles qui étaient jolies et blanches de visage, mais laides et noires de cœur.
Alors de bien mauvais jours commencèrent pour la pauvre belle-fille.
Người vợ mới này dắt theo hai cô con gái xinh đẹp, mặt mũi sáng sủa, nhưng tâm địa lại xấu xa và đen tối.
Thế là những ngày tồi tệ bắt đầu đối với cô con riêng đáng thương này.


Faut-il que cette petite oie reste avec nous dans la salle ? dirent-elles.
Qui veut manger du pain, doit le gagner.
Allez ouste, souillon !
Có phải con nhỏ ngốc đó cũng nằm trong phòng với chúng ta? họ nói.
Muốn ăn phải lăn vào bếp.
Nè, biến đi, con nhỏ bẩn thỉu kia!

Elles lui enlevèrent ses beaux habits, la vêtirent d’un vieux tablier gris et lui donnèrent des sabots de bois.
« Voyez un peu la fière princesse, comme elle est accoutrée ! », s’écrièrent-elles en riant et elles la conduisirent à la cuisine.
Họ lột bộ quần áo đẹp của nàng ra, mặc cho nàng một chiếc tạp dề màu xám cũ và cho nàng mang một đôi giày gỗ.
"Hãy nhìn công chúa kiêu sa của chúng ta một chút nào, trông thật dị hợm!”, họ thốt lên rồi bật cười và họ dẫn nàng xuống bếp.

Alors il lui fallut faire du matin au soir de durs travaux, se lever bien avant le jour, porter de l’eau, allumer le feu, faire la cuisine et la lessive.
En outre, les deux sœurs lui faisaient toutes les misères imaginables, se moquaient d’elle, lui renversaient les pois et les lentilles dans la cendre, de sorte qu’elle devait recommencer à les trier.
Thế là nàng đã phải làm việc cực nhọc từ sáng đến tối, thức dậy trước khi mặt trời mọc, gánh nước, nhóm lửa, nấu cơm và giặt giũ.
Không chỉ vậy, hai người chị bày đủ trò không thể tưởng khiến nàng phải khổ sở, giễu cợt nàng, đổ đậu Hà Lan và đậu lăng cô vào đống tro để nàng phải lựa ra lại.


Le soir, lorsqu’elle était épuisée de travail, elle ne se couchait pas dans un lit, mais devait s’étendre près du foyer dans les cendres.
Đến tối, khi nàng đã mệt lả vì công việc, nàng cũng không được ngủ trên giường mà phải nằm trên đống tro cạnh bếp.

Et parce que cela lui donnait toujours un air poussiéreux et sale, elles l’appelèrent « Cendrillon ».
Và vì vậy mà nàng lúc nào cũng dính lọ nghẹ và trông lem luốc, hai người chị gọi nàng là "Lọ Lem".

Il arriva que le père voulut un jour se rendre à la foire ; il demanda à ses deux belles-filles ce qu’il devait leur rapporter.
Rồi có một ngày nọ, người cha muốn đi chợ phiên nên ông hỏi hai người con gái của vợ kế muốn ông mua gì về.

— De beaux habits, dit l’une. — Des perles et des pierres précieuses, dit la seconde.
— Et toi, Cendrillon, demanda-t-il, que veux-tu ?
- Quần áo đẹp ạ, đứa thứ nhất nói. - Ngọc trai, đá quý ạ, người thứ hai nói.
- Còn con, Lọ Lem, ông hỏi, con muốn gì?


— Père, le premier rameau qui heurtera votre chapeau sur le chemin du retour, cueillez-le pour moi.
- Thưa cha, trên đường về cái nhánh cây đầu tiên quẹt vào chiếc nón của cha thì cha bẻ nó về cho con.

Il acheta donc de beaux habits, des perles et des pierres précieuses pour les deux sœurs, et, sur le chemin du retour, en traversant à cheval un vert bosquet, une branche de noisetier l’effleura et fit tomber son chapeau.
Alors il cueillit le rameau et l’emporta.
Rồi ông đã mua quần áo đẹp, ngọc trai và đá quý cho hai người chị, và trên đường về, khi cưỡi ngựa đi qua một khóm cây xanh, một nhánh cây phỉ sượt qua và làm cho cái nón rớt xuống.
Thế là ông bẻ nhánh cây và mang về nhà.


Arrivé à la maison, il donna à ses belles-filles ce qu’elles avaient souhaité et à Cendrillon le rameau de noisetier.
Về đến nhà, ông đưa cho hai cô con ghẻ những thứ chúng mong ước và đưa cho Cô bé Lọ Lem nhánh cây phỉ.

Cendrillon le remercia, s’en alla sur la tombe de sa mère et y planta le rameau, en pleurant si fort que les larmes tombèrent dessus et l’arrosèrent.
Cô bé Lọ Lem cám ơn cha, rồi ra mộ mẹ và cắm nhánh cây đó xuống đất, nàng khóc rất nhiều đến nỗi nước mắt chảy xuống tưới ướt nhánh cây.

Il grandit cependant et devint un bel arbre.
Cendrillon allait trois fois par jour pleurer et prier sous ses branches, et chaque fois un petit oiseau blanc venait se poser sur l’arbre.
Quand elle exprimait un souhait, le petit oiseau lui lançait à terre ce quelle avait souhaité.
Tuy nhiên, nhánh cây đó lại lớn lên và thành một cái cây tuyệt đẹp.
Ngày nào cô bé Lọ Lem cũng ra mộ mẹ 3 lần, ngồi dưới tán cây khóc và cầu nguyện và mỗi lần đều có một chú chim trắng nhỏ bay đến đậu trên cây.
Khi cô bé ước thứ gì thì chú chim nhỏ liền thả thứ cô bé ước xuống cho cô.