+ Trả lời Chủ đề

Chủ đề: Thần đạo nhật bản

Kết quả 1 đến 2 của 2
  1. #1
    Bay cao batdong is on a distinguished road batdong's Avatar
    Ngay tham gia
    Apr 2015
    Bài viết
    278
    Rep Power
    5

    Thần đạo nhật bản


    LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN THẦN ĐẠO NHẬT BẢN
    (phần 1)



    1. Khái quát về Thần đạo

    Khái niệm “Thần đạo” có rất nhiều cách giải thích khác nhau. Có những nhà Thần đạo học Nhật Bản cho rằng Thần đạo là đạo của Thần Mặt Trời hay còn gọi là Thiên Chiếu Đại Thần. Đạo này được Thiên Chiếu Đại Thần ra lệnh cho hoàng tôn – Thiên Hoàng – lấy làm cốt lõi, dạy cho thiên hạ phục theo. Một số nhà Thần đạo lại cho rằng đó là đạo của những vị thần linh đáng kính nhất ban cho Thiên Chiếu Đại Thần rồi truyền lại cho dân chúng, cho nên gọi là Đạo của Thần. Đến thời kì cận đại, các nhà Thần đạo trên khắp thế giới lại đưa ra nhiều cách giải thích hơn nữa, trong đó đáng chú ý là lời nói cho rằng: “Thần đạo là đạo của Thần. Thần đạo là nguyên tắc sống của tổ tiên dân tộc Nhật Bản từ trước tới nay. Dân tộc Nhật Bản lấy việc tôn thờ, ca ngợi, thể hiện và phát huy đức ngự thần của Hoàng Tổ Thiên Chiếu Đại Ngự Thần làm nguyên tắc sống, làm lý tưởng của quốc gia.” Cho đến nay, những tranh luận xoay quanh khái niệm “Thần đạo” vẫn đang được tiếp diễn.

    Xét về mặt thuật ngữ, Thần đạo (神道/Shinto) được dịch ra là “Đạo của các vị thần” (惟神の道/ Kannagara no michi). Từ Shinto được tạo ra từ thế kỉ VI, bằng cách ghép hai chữ Hán là Shin (quyền năng siêu nhiên, năng lực huyền bí, thần thánh) và To (con đường, đạo lý), Shinto được hiểu là “Con đường của Thần”. Cách nói này dùng để phân biệt với “Con đường của Phật” lúc đương thời khi Phật giáo bắt đầu du nhập vào Nhật Bản. Như vậy, cụm từ Shinto chỉ thực sự ra đời khi xuất hiện Phật giáo trên mảnh đất Nhật Bản.

    Vậy trước khi Phật giáo du nhập, Thần đạo – tôn giáo bản địa của Nhật Bản – đã xuất hiện chưa, và được gọi tên là gì? Có thể nói, do nhiều thuyết khác nhau mà việc phân định hình thái Thần đạo trước khi Phật giáo du nhập Nhật Bản rất khó, đặc biệt là thời kì cổ đại và trung thế. Tuy nhiên, trong bài viết này, người viết xin lấy thời trung thế (bằt đầu từ Kamakura) làm thời mà các tín ngưỡng thờ thần cổ đại được nhận thức và hình thành nên Thần đạo về mặt lý luận. Còn trong thời kì cổ đại, Thần đạo lúc này thực chất là một tập hợp các tín ngưỡng dân gian[1] không thống nhất, được quy định bởi các kinh nghiệm lịch sử của người Nhật Bản ngay từ những buổi đầu dựng nước. Trong tập hợp tín ngưỡng đó, tính đa thần (đa dạng trong hệ thống chủ thể được thờ phụng), tính ma thuật, sự hài hoà với thiên nhiên cũng như sự đan xen hài hoà giữa nhiều lớp tín ngưỡng khác nhau được thể hiện rất rõ ràng. Và bởi trong thời kì này, người ta vẫn chưa đặt tên cho tập hợp tín ngưỡng đó là “Thần đạo” nên người viết xin được dùng cụm từ “Tín ngưỡng thờ thần” hay “Tín ngưỡng thần kì” (神祇信仰/Jingi Shinko) để nói về Thần đạo thời kì cổ đại.


    2. Lịch sử hình thành của Thần đạo

    2.1. Thời kì Jomon – Yayoi – Kofun

    Ngay từ những nền văn hoá đầu tiên của Nhật Bản cổ đại, trên mảnh đất này đã xuất hiện thuyết vạn vật hữu linh với niềm tin vào sự tồn tại và bất diệt của linh hồn, từ đó hình thành nên tín ngưỡng thờ thần tự nhiên và tổ tiên.

    Là một đất nước nông nghiệp, Nhật Bản phụ thuộc nhiều vào sự thương xót từ thiên nhiên. Với quan điểm rằng vạn vật hữu linh, người dân xứ sở này đã sớm cho rằng tồn tại trong những hiện tượng tự nhiên chính là các linh hồn có quyền năng huyền bí có thể gây ra những trận động đất, sóng thần, hạn hán hay lũ lụt, gây ảnh hưởng lớn đến nông nghiệp. Bởi vậy, để có được sự thương xót từ những linh hồn quyền uy này, họ sùng bái và tôn chúng làm các vị thần tự nhiên (自然神/Shizenkami). Những vị thần tự nhiên được biết đến nhiều nhất chính là Nữ thần Mặt Trời (天照大神/Amaterasu Omi Kami/Thiên Chiếu Đại Thần), Nam thần Mặt Trăng (月読Tsuki Yomi/Nguyệt Độc), Nam thần Núi (山の神/Yama no Kami/Sơn Thần), Nam thần Biển và Gió bão (素盞嗚尊 (スサノオ)/Susanoo no Mikoto (Susa-no-O)/Tố Trản Ô Tôn), Nam thần Sấm (雷神/Raijin/Lôi Thần),… Trong đó, Nữ thần Mặt Trời được coi là vị thần tối cao, là thần tổ của Thiên Hoàng cũng như là cả đất nước Nhật Bản.

    Bên cạnh việc thờ các thần tự nhiên, tục thờ cúng tổ tiên cũng xuất hiện. Từ thời Yayoi, hệ thống thị tộc (氏Uji) đã bắt đầu phát triển. Ở mỗi thị tộc độc lập này lại có một vị thần bảo trợ, được gọi là vị thần Hộ mệnh gia đình (氏神Ujigami). Vị thần này chính là tổ tiên của dòng họ đó. Điều này xuất phát từ niềm tin vào sự bất diệt của linh hồn sau khi chết của người Nhật. Họ tin rằng linh hồn của tổ tiên sau khi chết sẽ không bị tiêu biến mà sẽ được gán cho một sức mạnh siêu nhiên để có thể che chở, phù hộ cho con cháu trong dòng họ. Bởi vậy, những vị thần Hộ mệnh này còn được gọi là vị thần Tổ tiên (祖先神/Sosenkami). Để tưởng nhớ đến cội nguồn dòng tộc và thể hiện sự tôn kính của dòng họ đến với tổ tiên đã khuất, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên đã ra đời. Tập tục thờ cúng tổ tiên tồn tại trong 3 cấp độ là gia đình, làng xã và quốc gia.

    Qua đây, ta có thể nhận thấy rằng Thần (神/Kami) trong quan niệm người Nhật chính là “linh hồn thần thánh”. Cụ thể hơn, đó là “tất cả những vật vô hình có uy lực đối với dân gian” (Thuyết của Motoori Norinaga)[2]. Như thế, những vị thần này là những thực thể mờ ảo, tồn tại không dáng hình, có mặt ở trong vũ trụ bao la, mang những quyền năng thần kì mà trong đó có những thần mang quyền năng tốt đẹp và những thần mang quyền năng xấu xa.

    Trong giai đoạn này, tín ngưỡng thờ thần tự nhiên và tổ tiên được biểu hiện ra lànhững đền thờ (Thần xã) cũng như là các phong tục mang tính ma thuật để tỏ lòng cung kính, biết ơn và thể hiện mong muốn được kết nối với các vị thần thánh.

    Nói đến các đền thờ, chúng ta hãy bắt đầu từ những tàn tích như là ngôi đền Đại Thần (大神神社/Oomiwa Jinja) nằm ở núi Miwa (三輪山) hay Cung Xung Tân (沖津宮/Okitsu no Miya/Xung Tân Cung) thuộc quần thể đền Tôn Tượng (宗像神社/Munakata Jinja/Tôn Tượng Thần Xã) ở đảo Okinoshima (沖ノ島) được coi là những đền thờ cổ xưa nhất, khi mà người Nhật cổ mới chỉ thờ những thứ tự nhiên như cây cỏ, núi đá hay biển. Về đền ĐạiThần, vốn từ thời Jomon hay Yayoi núi Miwa (tỉnh Nara) đã mang tính tâm linh, được xem là ngọn núi thiêng[3] và đến thời Kofun thì các Thiên Hoàng đã thờ cúng thần ở đền Đại Thần trên núi Miwa. Đền được xây ngay trước núi Miwa và mang nét đặc sắc của những Thần xã đầu tiên – không có Honden (本殿 - điện thờ, nơi chứa vật thánh Shintai) mà chỉ có Haiden (拝殿 - nơi viếng tế) và lấy núi Miwa làm Shintai (神体 - đối tượng mà trong đó thần cư ngụ, dùng để thờ cúng/vật thánh). Thần xã này đã coi chính ngọn núi Miwa là ngôi đền lớn nơi các linh hồn thần thánh được thờ tụng, gọi là Shintai-zan. Đến với đền thờ Xung Tân, đây lại là đền thờ nằm trên một hòn đảo vô cùng thiêng liêng tên Okinoshima. Okinoshima nằm ở eo biển giữa quần đảo Nhật Bản và bán đảo Triều Tiên, cách Kyushu 60 km là một địa điểm dừng chân quan trọng của những lữ hành đi từ Triều Tiên hay lục địa đến Nhật Bản, bởi vậy, từ xa xưa nó đã được xem là một hòn đảo thiêng. Trên đảo, người ta xây ngôi đền Xung Tân thờ người con gái lớn nhất trong ba vị nữ thần Munakata (ba vị này vốn là con gái của Nữ thần Mặt Trời Amaterasu) tên là Tagori Hime no Kami (田心姫神/Điền Tâm Cơ Thần) và thực hiện nhiều nghi lễ để mong những chuyến vượt biển an toàn. Điểm nổi bật ở đây là chính hòn đảo cũng được coi là Shintai, bởi vậy nên không phải ai cũng được đến đây, mỗi năm 1 lần, vào ngày hội thì chỉ có 230 người được đến du lịch, tất cả đều phải là đàn ông vì phụ nữ bị cấm đặt chân lên đảo và họ phải thực hiện các nghi lễ thanh lọc trên biển trước khi lên đảo. Như vậy, vào thời kì sơ khai, các Thần xã thực chất mới chỉ là nơi viếng tế các thần tự nhiên và lấy ngay những sự vật thiên nhiên ở chính tại chỗ đó để thờ. Các Thần xã sau này đã xây thêm Honden và đặt những đồ nhân tạo như gương hay gươm mà được coi là mang linh hồn thần thánh vào trong đó để thờ.

    Vào những thời kì sau đó, các Thần xã đã có những nét khắc hoạ rõ ràng hơn về đường lối kiến trúc. Ta cần chú ý đến nhất là Thần cung Y Thế (伊势神宫/Ise Jingu/Y Thế Thần Cung) được xem là nơi thờ phụng Nữ thần Mặt Trời. Thần cung Ise nằm ở thành phố Ise, tỉnh Mie. Nơi này thực chất là một khu gồm 125 đền thờ Thần đạo (神社/Jinja) với hai ngôi đền chính là Nội Cung (内宮/Naiku) (tên khác: 皇大神宮/Kotaijingu) dành để thờ Nữ thần Mặt Trời với niềm tin thiêng liêng rằng nơi đây là nơi cư ngụ của Nữ thần và Ngoại Cung (外宮/Geku) (tên khác: 豊受大神宮/Toyouke Daijingu) dành để thờ thần Nông nghiệp. Theo Nhật Bản Thư Kỷ, đền được xây cách đây khoảng 2000 năm. Vốn là Nữ thần Mặt Trời với biểu tượng là chiếc gương thánh được thờ phụng ở cung điện, tuy vậy, vào thời Thiên Hoàng thứ mười là Thiên Hoàng Sùng Thần (崇神天皇/Sujin Tenno), Sujin đã cho di dời chiếc gương ra ngoài điện đến vùng Kasanui no mura vì đã có một bệnh dịch bùng phát, nông dân nổi loạn và nhận được ý chỉ từ thần là phải thờ ở ngoài cung (hay theo một thuyết khác là do sợ uy lực của thần mà Thiên Hoàng không thể chung sống yên ổn được). Đến thời Thiên Hoàng Thuỳ Nhân (垂仁天皇/Suinin Tenno) thì đã lệnh cho công chúa của mình là Yamatohime no Mikoto đi tìm nơi phù hợp để thờ Nữ thần Mặt Trời. Khi đến tỉnh Ise, Nữ thần đã thông báo ý nguyện muốn trú ngụ lại nơi này với công chúa và đó Nội Cung (Naiku) đã được xây dựng sau đó[4].

    Điều đáng chú ý ở đây là Yamato đã có sự tách biệt hoạt động chính trị với việc tế thần của Thiên Hoàng (vẫn là hình thái “Tế chính nhất trí” (祭政一致/Saiseiichi)[5] nhưng không giống như Nữ vương Himiko nước Yamatai là Nữ vương Saman, giữa việc tế lễ và chính trị đã xuất hiện khoảng cách nhất định) và Nữ thần Mặt Trời đã dần dần từ vị thần tổ của Hoàng thất trở thành vị thần cao quý nhất của cả đất nước. Đặc biệt hơn nữa, Thần Cung Y Thế đã thể hiện rõ tính thế tục trong quan niệm của người Nhật ngay từ trong việc xây dựng. Cứ 20 năm một lần, Thần Cung lại được dỡ bỏ toàn bộ và làm mới lại hoàn toàn. Chính việc xây mới này đã thể hiện được quan điểm của người Nhật cổ cho rằng cuộc đời người là những chu kì 20 năm, các thế hệ cũng cứ qua 20 năm lại nối tiếp nhau, từ đời ông đến đời cha rồi sinh ra con rồi truyền nghiệp cho cháu. Bởi quan điểm vòng đời cứ 20 năm lại kết thúc và rồi được đổi mới/lặp lại này, Thần Cung cũng được dỡ bỏ sau 20 năm rồi xây mới lại như một cách để thể hiện sự chấm dứt của một vòng đời và nối tiếp tới một vòng đời khác. Từ đó, ta có thể thấy tính thế tục trong con người Nhật, họ coi trọng cuộc sống hiện tại chứ không mơ màng đến một cõi nào khác, sau khi vòng đời chấm dứt thì đó cũng là đoạn kết chứ không tồn tại “kiếp sau”.

    Tiếp sau đó là đền thờ Xuất Vân (出雲大社/Izumo Taisha/Xuất Vân Đại Xã) thờ được xem là đền thờ Thần đạo cổ nhất, có từ trước Thần Cung Ise. Đền này dùng để thờ thần Ookuninushi (大国主/Đại Quốc Chủ) mà ta có thể tạm gọi là vị thần của miền đất lớn. Ông được tin là vị thần xây dựng quốc gia, nông nghiệp, kinh doanh, y học hay vị thần bảo hộ, may mắn và đem lại những cuộc hôn nhân tốt đẹp cho đời người. Theo như thần thoại, đây chính là vị thần cai quản vùng đất Izumo trước khi nhường cho Ninigi. Nơi này cũng là nơi tổ chức nhiều hoạt động tế lễ hay lễ hội Hoàng gia và đặc biệt là trung tâm cho việc hành hương vào thế kỉ XVIII, XIX.

    Sau cùng là đền thờ Trú Cát (住吉大社/Sumiyoshi Taisha/Trú Cát Đại Xã) được xây vào thế kỉ III ở Sumiyoshi, Osaka. Đây là đền thờ thần Biển 海神/Kaijin/Hải Thần) hay còn gọi là Watatsumi (綿津見/Miên Tân Kiến) hoặc Watatsumi Sanjin (綿津見三神/Miên Tân Kiến Tam Thần) – ba vị thần trông coi ba tầng biển (trên, giữa và đáy), được sinh ra khi Izanagi tẩy uế bản thân từ cõi Hoàng tuyền (theo Cổ Sự Ký và Nhật BảnThư Kỷ). Ngôi đền này thờ 3 vị thần Biển cả là Sokotsutsu no O no Mikoto (vị thần dưới đáy biển), Nakatsutsu no O no Mikoto (vị thần ở giữa biển) và Uwatsutsu no O no Mikoto (vị thần trên mặt biển), và cũng được nhà nước bảo hộ. Bên cạnh 3 vị thần “Tsutsu” này thì đền Trú Cát cũng thờ cả Hoàng hậu Jingu (một vị thần mang tên Okinagatarashihime no Mikoto). Họ được gọi chung là “Sumiyoshi Ookami” và là những vị thần vĩ đại của vùng địa phương này.

    Nói về các đền thờ này, ta cần chú ý rằng việc thờ từ những vật tự nhiên như núi đá, biền đảo đến các nhân thần là Nữ thần Mặt Trời, thần miền đất lớn (được xem như là thờ vị thần thổ địa Nhật Bản) và thần Biển đã thể hiện tín ngưỡng thờ thần tự nhiên, tổ tiên của người Nhật Bản cũng như tính đa thần trong nó. Hơn nữa, từ những đường nét kiến trúc đơn sơ đến những kiến trúc cụ thể hơn sau này, tất cả những đền thờ kể trên đều là thứ đặc trưng của Nhật Bản, khi chưa có sự xâm nhập của Phật giáo hay bất kì yếu tố ngoại lai nào. Nếu như Thần Cung Ise được xây dựng theo kiến trúc Shinmei-zukuri, đền thờ Izumo được xây theo lối Taisha-zukuri thì đền Sumiyoshi lại có phong cách Sumiyoshi-zukuri. Đây là những kiến trúc Thần xã cơ bản, truyền thống nhất của Thần đạo Nhật Bản, sau này trở thành những bảo vật quốc gia và nằm dưới sự bảo hộ của nhà nước[6].

    Bên cạnh đó, trong phong tục người Nhật cổ thì họ cũng có những yếu tố liên quan đến tín ngưỡng thờ thần tự nhiên và tổ tiên, đặc biệt là trong thời Kofun. Đó là cách xử phạt đúng sai Kukatachi (盟神探湯). Người cần xử đúng sai sẽ tuyên thệ trước thần linh và sau đó nhúng tay vào nồi nước sôi, nếu tay không bỏng thì nghĩa là anh ta nói đúng sự thật, còn nếu bỏng thì tức anh ta là kẻ gian trá. Đó cũng là thuật bói Futomani (太占の法) đốt cháy xương hươu nai rồi từ những mô hình vết nứt do xương cháy tạo ra mà dự đoán tương lai. Thêm vào đó, từ thần thoại ra đời Nữ thần Amaterasu thì chúng ta có thể thấy quan niệm người Nhật cổ về cõi âm là một mộ địa đầy u uế mà người sống xa lánh, để tránh những u uế đó thì người sống cần phải tẩy rửa thân mình bằng nước và từ việc xua đuổi những u uế đó thì những điều tốt lành sẽ đến với mình. Nghĩ như vậy, họ đã dùng nước sông, suối, thác để tẩy uế (nghi thức Misogi) hay phất nhánh cây thiêng Sasaki và rải muối để thanh lọc (nghi thức Harae).
    Như vậy, ngay từ buổi đầu, trong đời sống người Nhật cổ đã tồn tại tín ngưỡng thờ thần tự nhiên và tổ tiên, được biểu hiện qua những đền thờ và phong tục tập quán. Tuy vậy, đây mới chỉ là một thứ “tín ngưỡng thần kì” mà liên kết các câu chuyện thần thoại với các phương thức cúng tế, là sợi dây ràng buộc con người với thần tiên, tự nhiên. Sau này, sang đến thời Nara và Heian, những tín ngưỡng này thông qua Phật giáo mà mở ra những bước tiến lớn trong quá trình hình thành Thần đạo.


    2.2. Thời kì Nara

    Vào thời Nara, những yếu tố Phật giáo mờ nhạt khi được đưa vào Nhật Bản từ thế kỉ VI đã bắt đầu phát triển mạnh mẽ. Phật giáo thời Nara nhận được nhiều ưu đãi và được ưa chuộng, tuy vậy, nó cũng không bài trừ Thần đạo/Tín ngưỡng thần kì mà cùng tương hỗ phát triển. Thần đạo lúc này mởi chỉ là sơ khai nhưng đã mang ý thức dân tộc của người Nhật, đó là việc họ quan tâm, chú trọng đến cuộc sống thực tại. Còn Phật giáo với tư tưởng “đời là bể khổ” lại dễ đi sâu vào lòng người dân, hơn nữa, thuyết luận hồi và cõi Niết bàn cũng khiến người dân có niềm tin tích cực vào việc được giải thoát khỏi nỗi khổ sau khi chết. Với những đặc trưng trên, người dân thời kì Nara đã có xu hướng thờ cả Thần và Phật. Họ thờ Thần để được may mắn, chở che trong đời sống thực tại và thờ Phật để được thoát khỏi khổ đau, lên cõi Niết bàn sau khi chết, rồi được hồi sinh ở một kiếp mới tốt đẹp hơn. Đây cũng được xem là mầm mống nảy sinh tín ngưỡng “Thần Phật tập hợp” (神仏習合/Shinbutsu Shugo).

    Những biểu hiện của việc “Thần Phật tập hợp” trước tiên phải kể đến Hiến pháp 17 điều cũng như chiếu chỉ của Thái tử Shotoku (聖徳太子/Shotoku Taishi). Trong điều 2 Hiến pháp có ghi: “Mọi người phải tôn kính Tam Bảo, đó là Đức Phật, Phật pháp (giáo lý) và tăng đoàn Phật giáo. Đó là sự bảo hộ cuối cùng của mọi chúng sinh.” Ở đây, Thái tử muốn khuếch trương vai trò Phật giáo trong đời sống. Tuy nhiên, ông cũng không quên việc thờ Thần. Trong một chiếu chỉ ông viết: “Xao nhãng việc tôn thờ Thiền Thần và Địa Thần trong triều đại ta là điều không thể chấp nhận được. Tất cả các vị đại thần đều phải hết lòng tôn kính Thần.” Theo sau đó là các đạo luật của Hoàng thất như Đại Bảo Luật Lệnh (năm 701) hay Dưỡng Lão Luật lệnh (năm 781) nhằm nhấn mạnh việc sùng bái cả Thần lẫn Phật, đặc biệt là việc đặt chức Thần Kỳ Quan lên ngang hàng Thái Chính Quan[7] đã thể hiện được sự quan tâm của Hoàng thất với Thần đạo. Tiếp đó, cuốn “Nhật Bản Thư Kỷ” (日本書紀) cũng đã ghi chép lại rằng vào năm thứ 2 đời Thiên Hoàng Văn Vũ (文武天皇/Monmu Tenno) (tức năm 698) đã ra lệnh xây tại Ise, quận Watarai một ngôi chùa thờ chung cả Thần lẫn Phật, gọi là chùa Đại Thần Cung (大神宮寺/Jinguji/Đại Thần Cung Tự). Nếu trước kia Thần Cung là nơi thờ Thần, Tự (Chùa) là nơi thờ Phật thì nay đã hợp nhất thành Thần Cung Tự. Đây là nơi mà những Phật đường hay tự viện được xây dựng, gắn liền vào trong Thần xã (đền thờ Thần). Theo sau Đại Thần Cung Tự thì nhiều nhiều Thần Cung Tự đã được xây dựng hàng loạt, xuất phát từ quan điểm thời kì này cho rằng Thần cũng là một tồn tại u mê giống con người, đã phải trải qua khổ ai trầm luân và cần cầu cúng Phật để được cứu độ. Chính vì thế bên cạnh Thần xã, người ta xây Thần Cung Tự, thực hiện các hoạt động như đọc kinh trước Thần, giảng dạy Phật pháp,…


    2.3. Thời kì Heian

    Nếu như ở thời kì Nara người ta mới chỉ thấy sự kết hợp còn đơn thuần giữa Thần và Phật thì thời kì Heian lại chứng kiến một bước tiến lớn mạnh trong mối quan hệ giữa Thần và Phật.

    Đầu tiên, Hoàng thất đưa ra tuyên bố Thần Hachiman (八幡神/Hachiman Jin/Bát Phiên Thần)[8] báo mộng rằng ngài chính là Bồ Tát giáng sinh, sau đó phong hiệu Đai Bồ Tát năm 781 và cho thờ cúng tại khắp các chùa trên cả nước. Đây được xem là điển hình của “Thần Phật tập hợp”. Bởi sau sự kiện này, người dân bắt đầu tạc tượng thờ thần Hachiman, và bởi vì được cho là Bồ Tát nên họ đã tạc tượng thần Hachiman có hình hài của một vị sư Phật, gọi là Tăng Hình Bát Phiên Thần Tượng (僧形八幡神像/Sogyo Hachiman Shinzo).

    Đến trung kì Heian, theo sự biến đổi dần về quan niệm rằng Phật ưu việt hơn Thần đã xuất hiện chủ trương “Thần và Phật vốn là đồng nhất, Phật vốn ở Ấn Độ, song vì phổ độ chúng sinh mà rời gót đến Nhật Bản thành Thần.” Đây chính là thuyết Bản địa thuỳ tích (本地垂迹説/Honji Suijaku Setsu) cho rằng Phật là Bản địa, nguyên gốc (本) của Thần còn Thần là Thuỳ tích, dấu vết (迹) tức là hiện thân tạm thời của Phật. Theo thuyết này thì Nữ thần Mặt Trời chính là hoá thân của Đại Nhật Như Lai (Dainichi Nyorai). Như thế, từ 2 thực thể tách biệt, Thần và Phật đã được chuyển hoá để trở thành một thực thể kép không thể chia tách, thực chất là Phật nhưng biểu hiện ra ngoài với tư cách là Thần. Thực thể mới này (vị thần có bản địa là Phật) được gọi là Gongen (権現/ Quyền Hiện). Tiêu đề “Gongen” bắt đầu được gắn liền theo sau tên các vị thần và các Thần xã Gongen cũng được xây trong khuôn viên chùa Phật, tạo nên kiểu kiến trúc Gongen-zukuri[9]. Gongen nổi tiếng thời kì này có thể kể tên là Zao Gongen (座大) và Kumano Gongen (熊野). Nói về Zao Gongen, đây vốn là một nhà tu hành tên En no Gyoja sau khi đắc đạo trên núi thiêng Kinpu (金峰山) (ở Nara) đã được thần thánh hoá thành vị thần Zao, được thờ với tư cách là vị thần bảo hộ cho ngọn núi thiêng liêng Kinpu, là biểu tượng hợp nhất của 3 vị thần Phật Quá khứ, Hiện tại và Tương lai. Còn Kumano Gongen, ban đầu có 3 đền thờ 3 núi Hongu, Shingu và Nachi trong dãy núi Kumano, mỗi đền thờ theo lối thờ thần tự nhiên cổ xưa của Nhật. Nhưng đến thế kỉ X, khi bị ảnh hưởng bởi thuyết Bản địa thuỳ tích, cả 3 đã được tôn thờ như 3 vị thần Phật của núi Kumano là Senju Kannon (Thiên Thủ Quan Âm (Phật Bà Quan Âm Nghìn Tay)), Yakushi Nyorai (Như Lai Dược Sư) và Amida Nyorai (Như Lai A Di Đà).

    Để có được sự phát triển như vậy thì ta phải kể đến công lao của những sư Phật thời kì này là nhà sư Saicho (最澄) của Thiên Thai Tông (天台宗/Tendai Shu) và Kukai (空海) của Chân Ngôn Tông (真言宗/Shingon Shu). Qua giáo lý của Pháp Hoa Kinh (Thiên Thai) cho rằng Phật vừa mang tính tuyệt đối, lí tưởng lại mang tính hiện thực, lịch sử và Chân Ngôn Tông đã gán vị Phật soi sáng Dainichi với nữ thần Mặt Trời thì thuyết Bản địa thuỳ tích đã phát triển mạnh mẽ. Điều này khiến việc xây các Thần Cung Tự trong Thần xã gia tăng với ý nghĩa là để thờ vị Phật họ coi là bản thể của mình; việc đọc kinh trước Thần được ủng hộ và thậm chí xuất hiện cả việc phóng sinh – điều chưa bao giờ có trong nghi lễ cúng tế thần.

    Hơn nữa, từ việc kết hợp Thần đạo/Tín ngưỡng thờ thần với giáo lý của 2 tông phái kể trên mà 2 nhánh Thần đạo Sơn Vương (山王神道) và Thần đạo Lưỡng Bộ (両部神道) đã ra đời, củng cố cho sự phát triển của thuyết Bản địa thuỳ tích. Thần đạo Sơn Vương lấy trung tâm là đền thờ Nhật Cát (Hie Taisha) làm nơi thờ vị thần bảo hộ núi Tỷ Duệ (比叡山/Hiei) – cơ sở chính của phái Thiên Thai. Đền Nhật Cát lấy núi Hachioji làm Shintai (Thần thể) rồi mở rộng ra đền Omiya (Đại Cung), Ni no Miya (Nhị Cung), cùng với đền Shoshinshi Sha (Thánh Chân Tử Xã) thì đã được thờ như Tam Thánh Sơn Vương. Sau đó, 3 đền trên cùng với 4 đền Hachioji (Bát Vương Tử), Marodo (Khách Nhân), Juzenji (Thập Thiền Sư), San no Miya (Tam Cung) đã lập thành 7 đền thờ của phái Sơn Vương (Sơn Vương thất xã). 7 đền này được hệ thống hoá, mỗi đền tương ứng với một vị Phật bản thể khác nhau[10] và còn đươc gắn với 7 ngôi sao trong chòm Bắc Đẩu. Theo phái này, Phật Thích Ca là bản thể của Omiya và Nhật Bản là biên thổ tồi tệ nhất thời Mạt pháp cần có Thuỳ tích là các vị thần để cứu độ chúng sinh[11]. Ngoài ra, phái cũng cho ra đời thuyết 30 vị thần Pháp Hoa[12]. Còn Thần đạo Lưỡng Bộ cho rằng tất cả các thần Nhật Bản đều là hoá thân của Đại Nhật Như Lai. Trong đó, Lưỡng Cung của Ise được coi là 2 nửa tạo thành thế giới nhân sinh quan mà Nữ thần Mặt Trời (ở Nội cung) là Đại Nhật Như Lai của Thai Tàng Giới còn Phong Thụ Đại Thần (ở Ngoại cung) là Đại Nhật Như Lai của Kim Cương Giới[13]. Ba vị thần Kunitokotachi no Mikoto, Kunisatsuchi no Mikoto, Toyokumonu no Mikoto – 3 vị thần đầu tiên được sinh ra sau khi Thượng giới và trần gian được hình thành (theo Nhật Bản Thư Kỷ) – cũng được xem là 3 dạng của Đại Nhật Như Lai và bảy đời Thần sau đó cũng được so sánh với bảy vị Phật. Như thế, Lưỡng Bộ Thần đạo coi Thần chính là Phật, nước Nhật cũng chính là nước của Đại Nhật Như Lai mà trong đó Ise là cốt lõi.

    Như vậy, trong thời kì cổ đại này, Tín ngưỡng Thần kì (thờ cúng thần tự nhiên và tổ tiên) sơ khai của Nhật Bản đã có sự kết hợp mạnh mẽ với Phật giáo. Từ việc này, những tín ngưỡng đó đã có những Thần xã cố định, có tượng để thờ, không chỉ thế, tầng lớp tăng xã chuyên lo việc cúng tế trong đền, những đoàn hành hương và những ghi chép về các quy định trong nghi thức cúng cũng đã xuất hiện, và đây là những yếu tố rất cần thiết, tạo ra một bước đệm vững chắc để một tôn giáo chính thức mang tên Thần đạo ra đời vào thời Trung Thế.


    Đào Ngọc Mỹ Linh, K59 Đông phương học, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn




    Nguồn: http://cjs.inas.gov.vn/index.php?newsid=1279

  2. #2
    Bay cao batdong is on a distinguished road batdong's Avatar
    Ngay tham gia
    Apr 2015
    Bài viết
    278
    Rep Power
    5

    Thần đạo Nhật Bản


    LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN THẦN ĐẠO NHẬT BẢN (phần 2)


    3. Quá trình phát triển của Thần đạo


    3.1. Thời kì Trung thế

    Thời kì Trung Thế, bắt đầu từ năm 1185 khi dòng họ võ sĩ Minamoto thiết lập chế độ phong kiến ở Kamakura, còn triều đình Thiên Hoàng vẫn ở Kyoto. Điều này đã đánh dấu sự đổ vỡ trong mô hình hướng tới sự thống nhất giữa tôn giáo và chính trị (Saiseiichi – Tế Chính Nhất Trí). Trong thời kì Lưỡng đồng chế[14] này, triều đình Thiên Hoàng chỉ nắm quyền lực trên danh nghĩa còn tướng quân mới là người nắm thực quyền. Cùng với một trật tự chính trị mới thì một loạt những khó khăn cả trong và ngoài nước xuất hiện, đặc biệt là thiên tai trong nước và sức ép ráo riết từ quân xâm lược Mông Cổ bên ngoài (thế kỷ XIII). Lúc này nhiều tông phái Phật giáo bản địa đã được hình thành. Những thủ lĩnh của các tông phái này một mặt là theo Phật nhưng mặt khác họ cũng rất tin vào tín ngưỡng thờ Thần, bởi vậy, họ phản đối sự kết hợp dễ dãi trong hỗn dung Thần – Phật thời kì trước đó mà trong đó Phật giáo chiếm ưu thế. Bên cạnh đó, trong giới Phật giáo cũng đã đưa ra tư tưởng Bản giác (Honkaku) đề cao hiện thực. Tư tưởng này đã được người Nhật bản địa hoá và cũng ít nhiều ảnh hưởng đến tư tưởng coi trọng các Thần đã xuống cứu vớt Nhật Bản hơn là Phật bản thể ở nơi Ấn Độ xa xôi kia, từ đó cũng dẫn đến sự lật ngược về vai trò của Thần và Phật. Với những yếu tố ban đầu như vậy, các tu sĩ thế tập của dòng họ Thần quan Watarai – người trông coi Thần Cung Ise lúc này đã đưa ra một thuyết mới mang tên “Phản Bản địa thuỳ tích” (反本地垂迹説/Han Honji Suijaku Setsu).

    Thần đạo Ise (伊勢神道/Ise Shinto/Y Thế Thần Đạo) hay còn gọi là Ngoại Cung Thần đạo (外宮神道/Geku Shinto) được một Thần quan thuộc Ngoại cung sáng lập, tên là Watarai Ieyuki (度会家行/Độ Hội Gia Hành) (1256 – 1356). Khác với Thần đạo Sơn Vương có tính gắn kết mật thiết với Phật giáo, Thần đạo Lưỡng Bộ coi trọng những lý luận mang tính Phật giáo về Ise thì Thần đạo Ise lại có tính chất phân tách Thần với Phật[15]. Thần đạo này đã đề xướng ra thuyết “Thần bản Phật tích” (神本仏迹説/Shinpon Butsujaku Setsu) cho rằng “Thần là chính, Phật chỉ là hình ảnh giả mà thần mượn tạm để hiện xuống trần gian.” Như thế, vị trí của Thần và Phật đã được đảo ngược cho nhau, khi này, Thần là bản địa còn Phật là hiện thân của Thần.

    Watarai Ieyuki cũng đã viết tuyển tập Loại tụ thần kỳ bản nguyên (類聚神祇本源/Ruiju Jingi Hongen, 1320, 15 quyển) tập hợp được một số lượng lớn các thư tịch của Trung Quốc, Nhật Bản và đã đưa ra lý luận về Thần đạo của riêng mình dựa trên những thư tịch đó. Mặc dù chưa đạt đến mức là một hệ thống lý luận sáng tạo riêng nhưng cũng đã trích dẫn từ những trước tác của Đạo giáo,Âm Dương ngũ hành, Chu Tử học và đi theo một hướng mới, tạo ra lý luận Thần đạo vượt qua quan niệm Thần Phật tập hợp để hỗ trợ thuyết Thần bản Phật tích của mình.

    Nhờ có thuyết này của Thần đạo Ise mà phong trào khôi phục lại vị trí của Tín ngưỡng thờ bản địa đã đạt được bước tiến lớn. Nếu như trước kia, tư tưởng Thần quốc được hiểu là đất nước mà các vị thần đến cứu rỗi (thuyết Mạt pháp) thì nay đã được hiểu là một đất nước mang tính ưu việt, được bảo hộ bởi các vị thần. Cùng với sự phát triển của Thần đạo, chủ nghĩa dân tộc như thế này, thuyết Căn diệp hoa thực thuyết (根葉花実説/Konyo Kajitsu Setsu) cũng ra đời, nói rằng “Nhật Bản ở Thần quốc là cội rễ, nhà Đường là phần lá và cành cây, còn nước Phạn thì là quả. Hoa rụng thì về cội, quả là thứ bắt đầu từ nguồn cội”. Ý câu nói rằng các vị thần Nhật bản mới là nguồn cội, còn các tôn giáo ở Ấn Độ, Trung Quốc chỉ là hoa và quả phát triển từ đó thôi.

    Ngoài ra, ta cũng có thể thấy các phái Thần đạo thời kì này như Thần đạo Sơn Vương, Thần đạo Lưỡng Bộ hay Thần đạo Y Thế đã đưa ra rất nhiều trước tác hay thư tịch để hoàn thiện hệ thống lý luận Thần đạo. Đó là các bộ sách như Thần đạo ngũ bộ thư (Shinto Gobusho) của Thần đạo Y Thế; Lệ Khí Ký (Reikiki), Trung Thần phất huấn giải (Nakatomi no Haraekunge) của Thần đạo Lưỡng Bộ; Sơn gia yếu lược ký (Sanke Yoryaku Shu) của Thần đạo Sơn Vương. Qua đó, hệ thống lý luận Thần đạo dần được xây dựng môt cách hoàn chỉnh, tín ngưỡng thờ thần bản địa ngày càng được hoàn thiện với tư cách là Thần đạo. Trào lưu này đến cuối Kamakura thì lắng lại nhưng đã tạo bước đà để sang đến hậu kỳ Muromachi thì xuất hiện phái Thần đạo Duy Nhất.

    “Thần đạo Duy Nhất” (唯一神道/Yuiitsu Shinto/Duy Nhất Thần Đạo) là một giáo phái Thần đạo nổi tiếng, được ra đời nhờ vào những giáo lý cũng như các tác phẩm của Yoshida Kanetomo (吉田兼倶/Cát Điền Kiêm Câu) (1435 – 1511). Kanetomo là người có tham vọng thống nhất giới Thần đạo. Ông đã tóm tắt các lý luận về Thần đạo của riêng mình, trong đó chia Thần đạo làm 3 loại là Thần đạo Bản thuỳ duyên khởi, Thần đạo Lưỡng Bộ tập hợp và Thần đạo Nguyên bản tông nguyên. Ông cho rằng Thần đạo phái mình vượt lên trên 2 phái đầu, là phái Thần đạo Nguyên bản tông nguyên có xu hướng tầm cứu cội nguồn Thần đạo rõ rệt nhất. Lí do nằm ở việc phái Thần đạo này vốn là dòng họ Urabe – dòng họ cha truyền con nối mang chức Thần chỉ đại phó trông coi việc thờ phụng thần thánh – đã trông coi đền Yoshida (thuộc nhánh Kasuga) từ thời Kamakura. Ông nói rằng Thần đạo Cát Điền là thần đạo có nguồn gốc nguyên bản duy nhất được truyền cho nhà Urabe theo lời của Thần đại minh Kasuga nên phủ nhận các thuyết khác và coi giáo lý của mình là đúng đắn. Trong giáo lý của mình, Cát Điền coi Thần đạo là tối cao, hơn cả Nho lẫn Phật. Thuyết đưa ra trật tự các vị thần mà trong đó thần Đại Nguyên Tôn thần (大現存神/Daigensonjin) giữ vai trò trung tâm. Cát Điền đã được triều đình và Mạc phủ bảo hộ, trở thành trung tâm Thần đạo của cả nước, hơn 300 năm sau hầu như khống chế được trên một nửa Thần xả cả nước, ảnh hưởng lan rộng sang cả tông phái Nhật Liên Tông.

    Như vậy, trong thời kì Trung Thế, Thần đạo không tồn tại độc lập mà vẫn sự kết hợp với các tôn giáo khác như Phật giáo và đôi nét trong Nho giáo. Tuy nhiên, nếu như thời kì trước Thần đạo không được đưa lên làm trung tâm thì nay đã được làm trung tâm còn Phật giáo, Nho giáo chỉ làm cho tư tưởng Thần đạo thêm phong phú. Điều này được thể hiện qua tư tưởng “Thần chủ Phật tòng” mà tiêu biểu ở Thần đạo Ise và Yoshida. Hơn nữa, qua thuyết của Yoshiada thì Thần đạo thời kì này cũng bắt đầu xuất hiện tư tưởng “Thần quốc” và được nhà nước quan tâm.


    3.2. Thời kì Cận thế

    Thời Momoyama (1573 – 1600) được coi là thời Hideyoshi, lấy theo tên của vị Daimyo (Lãnh chúa) Toyotomi Hideyoshi trong thời Sengoku (Chiến Quốc) trước đó đã đứng lên thống nhất đất nước. Khi lên nắm quyền, để kiềm toả thế lực mạnh mẽ của Phật giáo, Hideyoshi đã thống trị bằng cách phục hưng và bảo hộ các chùa. Ông cũng buộc các chùa phải thực hành nghi lễ thề nguyện trung thành với mình.

    Kế thừa cách thống trị tôn giáo này của Hideyoshi, sang đến thời Edo (1600 – 1868), Mạc phủ đã cấm và đào thải triệt để Thiên Chúa giáo, đồng thời ban hành luật Hatto (Pháp Độ) để tăng sự trấn áp đối với các thế lực tôn giáo khác. Đối với Thần đạo, luật được ban hành khá muộn, vào năm Kanbun thứ 5 (năm 1665) Chư Xã Ni Nghi Thần Chủ Pháp Độ (諸社禰宜神主法度/Shosha Negi Kannushi Hatto) mới được ban hành. Trong đây quy định một số điều như việc cấm buôn bán các mảnh đất thuộc quyền sở hữu của các Thần xã (gọi là Sharyo), quy định về trang phục, địa vị hay việc tu sửa Thần xã. Dòng họ Yoshida vốn đã nắm giữ quyền lực nhất định trong giới Thần đạo từ thời kì trước đến giờ lại được khuếch trương thế lực bằng việc được Mạc phủ cho phép cấp giấy phép hoạt động và trang phục cho các Thần xã địa phương, họ đã đặt các chức trách Thần đạo địa phương dưới sự quản lý của mình.

    Bên cạnh việc chính phủ kiểm soát các tôn giáo nói chung thì Thần đạo riêng thời kì này cũng đã phát triển ra nhiều giáo phái với tư tưởng khác nhau. Loại bỏ các lý luận mang tính Thần Phật tập hợp, giới Thần đạo thời kì này có xu hướng liên kết với Nho giáo mới nổi. Các phái như Thần đạo Thuỳ Gia đã có ảnh hưởng lớn đến giới võ sĩ, Thần đạo Cát Xuyên, Thần đạo Phục Cổ, Thần đạo Giáo Phái,… đã tạo nên sự phát triển mới cho Thần đạo. Nói một cách khái quát, ở tầng lớp bình dân người ta vẫn thuyết giảng Thần – Phật – Nho là hợp nhất, còn trong giới cầm quyền thì lại có xu hướng bài Phật và tư tưởng Thần Nho nhất trí.

    Tại sao lại là Nho giáo? Nho giáo được coi là một học thuyết chính trị để ổn định xã hội với những ràng buộc về nghĩa vụ cũng như tính thức bậc rất cao. Khi đến với Nhật, người dân đã tiếp thu quan niệm tam cương ngũ thường, đề cao quân – thần, phụ – tử. Chính các tướng quân Nhật cũng đã xây dựng mô hình kiểu gia dình cùng các gia thần và tuỳ tùng. Mối quan hệ này còn bền chặt hơn cả quan hệ huyết thống và kéo dài nhiều thế hệ như những gia đình thực sự. Các tướng quân và tuỳ tùng tin tưởng lẫn nhau, thực hiện tốt nhiệm vụ của mình vì coi đó là đang hành đạo. Hơn nữa, về mặt đạo đức, cả Thần đạo và Nho giáo đều trọng tính thật thà, cương trực, trung nghĩa, coi trọng đạo hiếu với tổ tiên. Ngoài ra, tính thế tục trong Nho giáo cũng cao. Thế tục hoá là quan điểm muốn tìm giá trị đích thực trọng đời sống trần tục hiện tại chứ không phải đi tìm giá trị ở nơi nào cao siêu, xa vời trần tục. So với Thần đạo, người dân cũng cúng tế để được hưởng hạnh phúc ngay trong lúc còn sống chứ không đợi đến khi chết mới lên Niết bàn như Phật giáp.

    Một trong những giáo phái Thần đạo kết hợp Nho giáo ra đời đầu tiên là Thần đạo Cát Xuyên hay còn gọi là Thần đạo Yoshikawa(吉川神道/Yoshikawa Shinto). Yoshikawa Koretari (吉川惟足/Cát Xuyên Duy Túc) (1616 – 1694) đã chịu ảnh hưởng mạnh từ Chu Tử học, từ đó hệ thống hoá thành các trước tác như Thổ Kim chi truyền (Dokon no Den) hay Thần Ly Bàn Giới chi truyền (Himorogiiwasaka no Den). Cuốn đầu tiên dựa trên thuyết Ngũ hành tương sinh (Mộc – Hoả - Thổ - Kim – Thuỷ), từ đó giải thích khái niệm Kính (慎み/Tsutsushimi) đưa ra tư tưởng rằng phải giữ nghiệm luật quân thần, trên dưới vì đó là trật tự vốn có của con người.

    Trong các thuyết về Thần đạo của Nho gia thì Thần đạo Thuỳ Gia (垂加神道/Suika Shinto) của Yamazaki Ansai (山崎闇斎/Sơn Kỳ Ám Trai) (1618 – 1682) có ảnh hưởng lớn nhất. Ansai là một Nho gia và cũng là một nhà tư tưởng Thần đạo. Ông theo học Chu Tử học, rồi tầm cứu Thần đạo, khởi xướng thuyết Thần Nho nhất trí và lập phái Thuỳ Gia. Ansai cho rằng Nho giáo và Thần đạo là đồng nguyên và dần coi trọng Thần đạo với tư cách là một chân lý riêng cho xã hội Nhật Bản. Thuỳ Gia cho rằng Thần là tâm của trời đất. Ansai cũng nói: “Đạo là đạo của Thần Mặt Trời, Giáo là giáo của Viên Điền Ngạn[16]” tức là Thần đạo thì xem xét trời đất, bốn mùa không sai lệch, thánh nhân nếu lấy Thần đạo dạy dỗ ắt thiên hạ sẽ phục theo. Thần đạo ở đây là gì? Đó là Đạo của thần Mặt Trời. Đạo của thần Mặt Trời thì được thể hiện qua Tam chủng thần khí là chiếc gương (chân thực) – chuỗi ngọc (từ bi) – thanh gươm (công bằng). Như vậy, Thuỳ Gia chú trọng đến đức của người lãnh đạo nói riêng và của con người nói chung. “Thần đạo làm cho tâm chúng ta ngay thẳng, mang một ý đồ sâu xa là thương yêu dân chúng và đem lại cho họ lòng từ bi.” Học theo Nho, Thần đạo Thuỳ Gia cũng thừa hưởng những lý luận của Thần đạo Yoshikawa, đề cao Kính. Kính nghĩa là khi làm việc gì cũng phải hết sức thành tâm kính cẩn. Ông cũng đã nói: “Kính không có gì phức tạp cả, nhưng lúc nào cũng phải tập trung và không được vô tâm.” Từ đó ông đưa ra quan điểm chú trọng về luân lý đạo đức, đặc biệt là đưa đạo quân thần lên làm nền tảng, sau này nó đã trở thành hệ tư tưởng của tầng lớp võ sĩ mà nhất là các Daimyo[17].

    Theo sau là Thuỳ Gia thì Thần đạo Phục Cổ (復古神道/Fukko Shinto) cũng được đề xướng bởi Hirata Atsutane (平田篤胤/Bình Điền Đốc Dận) (1776 – 1843) đã phát triển thêm một bước, coi “Thần đạo là Vương đạo”. Thần đạo Phục Cổ phản đối việc lấy Nho, Phật, Đạo, Âm Dương ngũ hành và các tư tưởng khác để giải thích Thần đạo. Ông phê phán tín ngưỡng Thần Phật tập hợp, Thần đạo Duy Nhất đã lập luận Thần đạo dựa trên sự hợp nhất Thần – Phật – Nho và phê phán cả Thần đạo Thuỳ Gia đã đưa ra hỗn dung Thần – Nho. Phái chủ trương lấy kinh điển cổ như Cổ Sự Ký hay Nhật Bản Thư Kỷ làm căn cứ để làm sáng tỏ, khôi phục và mở rộng Thần đạo cổ, chân chính của Nhật Bản (Kannagara). Tuy chủ trương như vậy nhưng ông cũng gộp những tác phẩm về Hà Lan học[18] và Thiên Chúa giáo vào giáo lý của mình. Phục Cổ cho rằng Ame no Minakanushi – Chúa tể trung tâm trên trời – là thần tối cao, hơn cả Nữ thần Mặt Trời, vị thần này đã phân đôi thân mình ra và cả 3 cùng tạo ra thế giới vạn vật. Trên trời Thiên Chiếu Đại Thần thống trị, trên mặt đất thiên Hoàng (con cháu của Thiên chiếu Đại Thần) thống trị và dưới mặt đất (Hoàng Tuyền) là do Ookuninushi no Kami thống trị. Ai sau khi chết cũng sẽ xuống Hoàng Tuyền và luận theo tội trạng mà chịu nhận báo ứng. Từ giáo lý này, phái đề cao đạo hiếu với cha mẹ, kính với Thần và trung với Thiên Hoàng. Tận tâm tận lực với sự nghiệp Thần đạo, nhiều khi Hirata cũng bị các phái Thần đạo đương thời cho là đi theo chủ nghĩa dân tộc quá khích lấy Thiên Hoàng làm trung tâm.
    Trong thời kì này cũng xuất hiện hai trào lưu liên quan đến Thần đạo khá thịnh hành là đi viếng Thần Cung Ise được gọi là Okage Mairi (お蔭参り) và đặc biệt hơn chính là việc hình thành các Thần đạo Giáo phái khác nhau.

    Thế kỷ XIX là giai đoạn khủng hoảng về mặt chính trị, kinh tế, xã hội lúc này đã chứng kiến sự ra đời của tín ngưỡng sùng bái vị cứu tinh và chữa bệnh có tính tự phát trong tầng lớp dưới. Những giáo phái ta có thể kể tên là Giáo Tenri (天理教/Tenri Kyo/ Thiên Lý Giáo), Giáo Konko (金光教/Konko Kyo/Kim Quang Giáo) hay Giáo Kurozumi (黒住教/Kurozumi Kyo/Hắc Trú Giáo).

    Thời Cận thế này đã được đánh dấu mốc với sự chuyển mình của Thần đạo khi bước qua quan điểm Thần Phật tập hợp và hoà mình với Nho giáo mặc dù dù điều này có nghĩa là Thần đạo cũng chưa thực sự là một tôn giáo độc lập. Từ việc được hiểu là những vị thần đi cứu độ chúng sinh, thần thời kì này hiện ra mang cả yếu tố đạo đức, nó là gốc cho mọi sự hình thành. Bên cạnh đó, Thần đạo cũng ảnh hưởng lớn tới chính trị. Từ Thần – Nho, tính thế tục hoá, hiện thực hoá[19] được để cao, khiến việc phân cấp thứ bậc trở nên rõ ràng và vững chắc hơn, tư tưởng quân thần và coi trọng đạo đức lễ nghĩa cũng góp phần ổn định xã hội. Thêm vào đó, chủ nghĩa Nhật Bản trung tâm cũng được hình thành, đặc biệt quan điểm của Phục Cổ Thần đạo hướng tới việc thuần khiết hoá Thần đạo để đi tìm lại cái Đạo chân chính, Đạo thuần tuý cổ đại của nước Nhật có thể xem là một yếu tố quan trọng dẫn đến các chính sách về tôn giáo thời kì sau. Ngoài ra, thời kì này cũng xuất hiện những tân tôn giáo do dân chúng tạo ra, khiến thế giới Thần đạo thêm nhiều màu sắc.


    3.3. Thời kì Cận đại

    Khi Minh Trị Duy Tân (明治維新/Meiji Ishin) (1868 – 1912) mới được thiết lập, chính phủ Meiji đã giương cao tinh thần “Thần Vũ khai nghiệp”[20] với 2 phương châm là phục cổ và duy tân. Thực chất, chính phủ lúc này muốn xây dựng một chế độ mới, có sự tiến tiến của khoa học – công nghệ phương tây mà vẫn giữ được sự thống trị quân chủ. Để làm được điều này thì việc quốc giáo hoá Thần đạo là điều cần thiết.

    Trong phong trào quốc giáo hoá này, đóng góp vai trò quan trọng cho chính quyền lúc này chính là những nhà tư tưởng của Thần đạo Phục Cổ như Hirata Kanetane, Yano Harumichi, Fukuba Yoshishizu,… Họ đã đưa ra quan điểm cần phải thực hiện Tế chính nhất trí và phục hồi Thần kỳ quan. Ngày 3/3/1868, Thái chính quan đã công bố khôi phục Thần kỳ quan (神祇官/Jingikan) cũng như chế độ Tế chính nhất trí. Hơn nữa, để tăng cường giáo hoá quốc dân mà không chỉ là trên sách vở, chính phủ thấy rằng cần phải có người chuyên nhiệm vụ tuyên giáo trực tiếp tiếp xúc với dân chúng. Tháng 7 năm 1869, chức Tuyên giáo sư (宣教師/Senkyoshi) đã được bổ nhiệm, thuộc vào phần công việc của Thần kỳ quan. Những hoạt động này đã thể hiện rõ mục đích sử dụng Thần đạo như một công cụ chính trị để giáo hoá dân chúng của chính phủ.
    Cũng từ tháng 3 năm 1868 cho đến 1 tháng sau đó, nhiều pháp lệnh đã được ban hành, gọi chung là lệnh Thần Phật phân ly (神仏分離令/Shinbutsu Bunri Rei) dùng để tách Thần đạo ra khỏi Phật giáo: “Tượng Phật đặt trước các Thần xã, đỉnh, chuông, đồ dùng để lê Phật phải nhanh chóng được đưa ra ngoài. Tại các Thần xã lớn, nhỏ ở địa phương cấm các nghi lễ kết hợp giữa Thần đạo và Phật giáo, các nhà sư của các Bettosha (biệt đương xã)[21] phải hoàn tục, chuyển sang làm thầy tế hoặc phải chuyển sang những pháp danh của người của Thần xã, làm việc cho Thần đạo.” Đây là chính sách dùng để nghiêm cấm việc pha trộn Thần – Phật.

    Đến đầu năm 1870, chính phủ lại tiếp tục ra Tuyên bố về Đại giáo (大教宣布/Đại giáo tuyên bố) để lấy “Đạo của Thần” (Kannagara) làm nguyên tắc chỉ đạo dân chúng, từ đây coi Thần đạo là quốc giáo. Thần đạo sẽ dựa trên quan niệm quốc thể lấy Thiên Hoàng làm trung tâm, được Tuyên giáo sư quảng bá, tuyên truyền trên toàn quốc dưới cái tên “Đại giáo”. Chính sách này cũng buộc các hộ gia đình từ đăng kí hộ khẩu tại chùa Phật (thời Edo) chuyển sang đăng kí theo Thần đạo với lí do là tất các các thần dân Nhật Bản buộc phải thuộc về ngôi đền nơi họ cư trú. Các tu sĩ hành đạo hỗn hợp Thần – Phật thì hoặc về hoàn tục hoặc là làm đạo sĩ Thần đạo. Mọi nghi lễ Phật giáo trong Hoàng gia đều bị bỏ.

    Các chính sách nêu trên dù không phải để bài Phật nhưng cùng với khí thế nghiêng về Thần đạo bấy giờ thì nó đã khiến tinh thần bài Phật dâng lên cao và dẫn đến phong trào Phế Phật huỷ Thích (廃仏毀釈/Haibutsu Kishaku). Rất nhiều chùa chiền thời kì này đã bị bỏ hoang do nhiều người hoàn tục, trong đền Thần đạo cũng xuất hiện hiện tượng đốt phá các tượng Phật cùng kinh Phật. Nhiều nơi cũng dỡ bỏ tự viện và thay thế tang lễ bằng nghi thức Thần đạo. Phong trào bài Phật quá khích này đã kéo dài mãi cho đến 4 năm sau đó mà chính chính phủ cũng không thể dừng được.

    Mặt khác, việc phục hồi chức Thần kỳ quan đến năm Minh Trị thứ 2 (1869) đã có bước phát triển, Thần kỳ quan được đặt song song ngang với Thái chính quan (太政官/Daijokan). Từ đây Thần kỳ quan cũng trở thành cơ quan có quyền lực tối cao của nhà nước, các chức quan giống như thời cổ đại cũng được đặt lại. Tuy nhiên, do phương châm của Thần kỳ quan lấy việc phục cổ Thần đạo đã trở nên lỗi thời bởi khi đó chính phủ cũng đang bắt đầu học tập phương Tây, thực hiện công cuộc “Văn minh khai hoá” để “Phú quốc cường bình” nên việc cấm Thiên Chúa giáo là không thể, từ đó chính sách tôn giáo của chính phủ đã mềm dẻo hơn, năm Minh Trị thứ 4 (1869) đã hạ Thần kỳ quan xuống thành Thần kì tỉnh (神祇省/Jingisho), đặt dưới quyền quản lý của Thái chính quan. Đến năm Minh Trị thứ 5 (1872) lại giải thể cơ quan này, chuyển thành Giáo Bộ tỉnh (教部省/Kyoubusho).

    Bên cạnh đó, chính phủ cũng thực hiện một số hoạt động để đẩy mạnh vai trò quan trọng của Thần đạo. Trong năm 1871, chế độ Thần xã (神社制度/Jinja Seido) ra đời với việc chính phủ xếp hạng các ngôi đền và chủ trương bảo hộ cho một số đền quan trọng trong đó. Đây là cách để nhà nước quản lý các Thần xã. Trong chính sách này, các đền thờ sẽ được phân chia rõ rệt thành Quan xã (Kansha) và Chư xã (Shosha) trong đó Quan xã là các đền chính thức của nhà nước, chính phủ đứng ra bảo hộ còn Chư xã được hiểu là các Thần xã thường, không nhận được trợ cấp từ chính phủ. Về thứ bậc trong Quan xã, các đền được chia theo thứ tự to – vừa – nhỏ (大・中・小) và hệ thống hoá thành Quan tệ xã (官幣社/Kanpeisha) là các Thần xã nhận bảo trợ từ cũng như làm cúng tế cho Hoàng gia và Quốc tệ xã (国幣社/Kokuheisha) là các đền nhận trợ cấp từ ngân khố quốc gia và làm lễ mang tính quốc gia. Các đền thờ này sẽ nằm dưới sự quản lý của Thần kỳ quan. Các Quan xã lớn có thể kể đến đền Ise, đền Izumo hay Sumiyoshi. Còn các Chư xã thì sẽ được phân vào các loại Fusha (府社), Hansha (藩社), Kensha (県社), Gosha (郷社) và Sonsha (村社)[22]. Trong đó, chức vị của Fusha sẽ bằng với Hansha hay Kensha, nhỏ hơn là Gosha và cuối cùng là Sonsha. Ngoài ra thì chế định về các ngày lễ lớn của cả nước cũng được ban hành vào năm 1873. Trong đó ta có thể kể đến ngày Kỉ Nguyên Tiết (紀元節/Kigen Setsu – Ngày thành lập quốc gia) được quy định là ngày 11 tháng 2 hàng năm và Thiên Hoàng Tiết (天長節/Tenchou Setsu – Ngày sinh Thiên Hoàng) được quy định là ngày 3 tháng 11.

    Ngoài những nét tiêu biểu chính kể trên thì trong thời Minh Trị hoạt động của Thần đạo Giáo phái cũng phát triển. Thực chất chỉ đến thời Minh Trị, cái tên Thần đạo Giáo phái 教派神道mới được đưa ra để phân biệt với Thần đạo Quốc gia. Vì chỉ có Thần xã của nhà nước mới được dùng tên Jinja 神社nên những ngôi đền này dùng tên Kyo教. Giữa năm 1882 và 1908 nhà nước đã tổ chức lại 13 nhóm Thần đạo Giáo phái mà trong đó có rất ít nhóm có liên hệ trực tiếp đến Thần đạo truyền thống. Thông thường các nhóm được phân làm 3 loại: nhóm có tính Thần đạo chủ trương trung thành với Thiên Hoàng và biết ơn tổ tiên, nhóm mang tinh thần Thần – Nho và nhóm có tín ngưỡng chữa bệnh. Trong thời Minh Trị này thì một số nhóm đã được cấp phép truyền đạo, trở thành tôn giáo thực sự như Tenri, Kurozumi hay Konko. Tiếp đó, một giáo phái mới cũng nảy sinh, tên là Oomoto (大本教/Đại Bản giáo) do Deguchi Nao (出口ナオ/Xuất Khẩu Trực Tử) sáng lập. Vốn bà thờ Kim Quang giáo, nhưng sau đó sáng lập Đại bản giáo và hoạt động tách riêng. Điều đặc biệt đó là bà đã kết hơp với Deguchi Onisaburo (出口オニサブロ/Xuất Khẩu Vương Nhân Tam Lạng) là một nhà ngoại cảm tài năng, từ đó tạo thành cặp đôi sứ giả thần linh gồm 1 năm 1 nữ. Nao là biến tính nam tử (thân là nữ nhưng hồn là nam) còn Onisaburo thì là biến tính nữ nhi (thân là nam nhưng hồn là nữ) và tạo mối quan hệ chặt chẽ. Họ là cặp đôi của 1 nữ Saman và 1 nam nhân có vai trò giải thích cho sự tồn tại các hiện tượng đó. Trong bối cảnh mà chế độ gia trưởng phát triển này thì tôn giáo đã đưa ra những vấn đề lớn liên quan bình đẳng giới.

    Đển thượng tôn Thần đạo, các Thần xã được coi trọng. Từ cuối Minh Trị, tính chất quân sự của các Thần xã trở nên mạnh mẽ, Thần xã cầu nguyện chiến thắng và bình an cho các binh lính. Mọi người cho rằng chết vì Thiên Hoàng là cái chết vinh quang, sau khi chết binh sĩ sẽ trở thành thần và được thờ như thần. Năm 1869, hệ thống cac thần xã Shokon (招魂神社/Chiêu Hồn Thần Xã) đã được thành lập để thờ những người tử vì tổ quốc. Đến năm 1939 được gọi là các đền Hộ Quốc (護国神社/Gokoku Jinja). Tiêu biểu trong hệ thống này là Thần xã Yasukuni (靖国神社/Tĩnh Quốc Thần Xã) là nơi dành cho các “anh linh” chết trận trong cuộc chiến tranh vì công cuộc Duy Tân, những người lính Nhật đã tử vì tổ quốc trong chiến tranh xâm lược (Triều Tiên, Đài Loan) hay trong các cuộc chiến Nga – Nhật, Trung – Nhật và Chiến tranh Thế giới I và II.
    Như vậy, Thần đạo thời Minh Trị Duy Tân được đánh dấu bằng việc trở thành Thần đạo quốc gia nhằm đề cao cũng như lập ra một ý thức hệ cho người dân Nhật Bản về tính chất thần thánh của Thiên Hoàng. Đặc biệt, khái niệm Quốc thể đã ra đời. Quốc thể được hiểu là cấu trúc của quốc gia hay chính thể quốc gia. Quốc thể Nhật Bản được thể hiện ra chính là sự thống trị của “Vạn thế nhất hệ” Thiên Hoàng, có nghĩa là Thiên Hoàng muôn đời thống trị, nối dõi từ một dòng tộc duy nhất. Tinh hoa Quốc thể chính là lòng sùng kính, trung hiếu với Thiên Hoàng của người dân. Đồng thời, Quốc thể cũng được coi là Thần đạo. Thần đạo với các Thần xã được người dân cúng tế, chăm nom với mục đích bảo vệ các vị thần, nhưng đây cũng chính là bảo vệ Thiên Hoàng, đảm bảo quyền uy cho đất nước của các vị thần. Đây là thời kì Thần đạo được mang thêm một chức năng mới, đó là giáo hoá quốc dân, trở thành công cụ hữu hiệu cho chính phủ.


    3.4. Thời kì Hiện đại (1926-1989)

    Sau cải cách Minh Trị, đặc biệt trong Chiến tranh thế giới thứ hai, Thần đạo trở thành quốc giáo. Nhưng sau Chiến tranh, Thần đạo không còn được hưởng bất kì một đặc quyền nào nữa mặc dù nghi thức của nó vẫn đóng vai trò quan trọng trong đời sống của người dân Nhật Bản.

    Tháng 4 năm 1939, Nội các Hiranuma công bố “Luật giáo đoàn tôn giáo” (宗教団体/Shukyodantai). Luật là sự hoàn chỉnh việc kiểm soát và sử dụng tôn giáo dưới chế độ phát xít. Theo Luật này, giáo đoàn được chia làm ba hệ thống riêng biệt là Thần đạo, Phật giáo và Thiên chúa giáo. Hoạt động của các giáo đoàn cần phải nhận được sự chấp nhận của Bộ trưởng Bộ giáo dục và các Bộ liên quan. Điều 16 của Luật đoàn thể đã ghi rõ: “Việc tuyên truyền giáo lý tôn giáo do các giáo đoàn hoặc giáo sĩ tiến hành hay những hành vi tôn giáo mà quay lưng lại với nghĩa vụ của giáo dân hoặc là ảnh hưởng đến trật tự an ninh thì bộ trưởng các bộ có liên quan sẽ hạn chế hoặc là cấm, đình chỉ hoạt động của các giáo sĩ hay hủy bỏ giấy phép thành lập giáo đoàn”.

    Sau khi Nhật Bản chấp nhận tuyên bố Potsdam, Thể chế Thiên hoàng cũ bị sụp đổ, Tuyên bố Potsdam (Điều 10) yêu cầu xác lập tự do tôn giáo tại Nhật Bản. Vào ngày 15/12/1945, Bộ Tổng Tư Lệnh (総司令部/Soushireibu) đề xuất “Sắc lệnh Thần đạo” (神道指令/Shintoshirei) với chính phủ Nhật Bản, nhằm xóa bỏ mọi sự đảm bảo, hỗ trợ, quản lý từ phía chính phủ đối với Thần đạo Quốc gia, thực hiện “Phân li chính giáo” (政教分離 /Seikyoubunri) và xóa bỏ tư tưởng chủ nghĩa quân phiệt cực đoan khỏi tôn giáo và giáo dục.

    Các hoạt động gồm có: 1) Tách li tôn giáo khỏi nhà nước, ngăn chặn tôn giáo dính líu tới mục đích xấu của giới chính trị, thừa nhận cơ hội bình đẳng và bảo hộ cho tất cả các tôn giáo, tín ngưỡng, tín điều trên bình diện pháp luật và cấm mọi hành vi tuyên truyền chủ nghĩa siêu quốc gia chủ nghĩa quân phiệt. 2) Sắc lệnh ra chỉ thị cấm Nhà nước hỗ trợ, quản lý đối với Thần đạo, cấm giáo dục Thần đạo hoặc thực hiện nghi thức Thần đạo trong các cơ sở giáo dục bằng khoản tiền quỹ công, cấm các cán bộ trong Chính phủ tham bái đền/ tham gia các hoạt động tế lễ; cấm sử dụng những từ ngữ mang tư tưởng Thần đạo Quốc gia, tư tưởng chủ nghĩa quân phiệt trong các văn bản công. 3) Trực tiếp giải thể Thần đạo Quốc gia, ra lệnh xóa bỏ quốc giáo. Thần đạo Quốc gia không còn quan hệ với chính trị, trực tiếp tồn tại như một tín ngưỡng cá nhân.

    Tuy nhiên, đây chỉ là sự cải cách một cách cưỡng chế từ bên ngoài, mà không phải là do sự tự giác, tự xét lại của giới Thần đạo. Vì thế, những vấn đề liên quan đến Thần đạo vẫn còn kéo dài mãi về sau này. Cũng có ý kiến như Orikuchi Shinobu (折口信夫)[23] đề cập đến cải cách trên một cách tích cực với ý nghĩa là cơ hội tốt để Thần đạo “luân hồi” trở lại đúng là một tôn giáo, nhưng số đó rất ít, còn đa phần giới Thần đạo đều hoài niệm về thời tiền chiến và cầu mong có cơ hội phục cổ. Mặt khác, về phía giới Phật giáo thì như Suzuki Daisetsu (鈴木大拙)[24] đã công kích rằng, tất cả trách nhiệm chiến tranh là thuộc về Thần đạo, một mực coi Thần đạo là “ác nhân” xuất hiện khá nổi bật. Tuy vậy, do những vấn đề về Thần đạo được cho là cấm kỵ và tình hình nghiên cứu một cách khoa học tiến hành chậm, nên vẫn còn tồn đọng nhiều vấn đề chưa được giải quyết một cách thỏa đáng. Đặc biệt, thay vào lý luận Thần đạo phi tôn giáo thời tiền chiến, thời kỳ này người ta tranh luận về sự khác nhau giữa những nghi lễ mang tính tôn giáo của Thần đạo với những phong tục được thực hiện như những tập quán sinh hoạt hàng ngày. Do sự phân biệt này không dễ dàng nên đã nảy sinh nhiều trường hợp không thể đoán định giới hạn đến đâu là tôn giáo. Chẳng hạn, lý luận về việc các tổ chức công cộng dùng quỹ công để chi tiêu cho các nghi lễ như lễ trấn đất có đúng hay không cũng đã được đưa ra tòa án. Đây không chỉ đơn thuần là vấn đề luật pháp mà là việc cần hiểu khái niệm tôn giáo được du nhập từ Âu Mỹ vào như thế nào và đòi hỏi nhìn nhận lại khái niệm này.

    Tết Nguyên đán 01/01/1946, Thiên hoàng Showa ban bố bản “Tuyên ngôn nhân loại” (人間宣言/ Ningen-sengen) theo yêu cầu của Tổng tư lệnh Quân đội Đồng minh chiếm đóng Nhật Bản là Douglas MacAthur. “Ningen-sengen” tuyên bố rằng Thiên hoàng không phải là thần thánh như lâu nay triều đình vẫn tuyên truyền. Điều này đã dẫn đến sự thành lập của Hiến pháp Nhật Bản trong đó quy định Thiên hoàng là “biểu tượng của Quốc gia và của sự thống nhất của nhân dân.” “Ningen-sengen” thực chất chỉ là tên thông dụng vì nó không được đặt tên chính thức. Ngoài ra, bản tuyên ngôn này còn có các tên khác như Chiếu thư về việc kiến tạo một nước Nhật Bản mới (新日本建設に関する詔書/Shin Nippon Kensetsu ni Kan suru Shōsho) và Chiếu thư đầu năm về việc chấn hưng vận nước (年頭、国運振興の詔書/Nentō, Kokuun Shinkō no Shōsho).

    Cùng năm ấy, Hiến pháp Nhật Bản quyết định từ bỏ mọi nỗ lực sử dụng vũ lực trong các tranh chấp, lập ra lực lượng phòng vệ với mục đích duy nhất nhằm mục đích tự vệ, Thiên hoàng trở thành biểu tượng quốc gia và dần rút lui vai trò khỏi bộ máy chính trị, Quốc hội và Nghị viện Nhật Bản được hình thành để nắm vai trò điều hành đất nước. Trong hiến pháp cũng đề cập đến việc tự do tôn giáo và tín ngưỡng. Chính phủ không bắt buộc người dân phải tuân theo bất cứ một tôn giáo nhất định nào.


    4. Kết luận

    Thần đạo là một tôn giáo được phát triển trên cơ sở những tín ngưỡng đã vốn có của Nhật Bản, với lịch sử trên hai nghìn năm, chịu ảnh hưởng từ nhiều tư tưởng ngoại lai, trải qua các giai đoạn Thần đạo nguyên thuỷ – Thần đạo Thần xã – Thần đạo Quốc gia – Thần đạo Thần xã tồn tại song song với Thần đạo Giáo phái. Trong suốt lịch sử tồn tại dù trải qua bao thăng trầm, biến đổi, đến nay Thần đạo vẫn luôn chiếm một vị trí quan trọng trong đời sống người dân, từ lời ăn tiếng nói tới những hoạt động quan trọng như nghi lễ cầu may mắn, bình an. Thần đạo không chỉ đơn thuần là một tôn giáo mà còn chứa cả tư tưởng, niềm tin cũng như tập tục Nhật Bản. Điều này thể hiện cái nhìn bao dung và cởi mở của Thần đạo, đón nhận các tôn giáo khác như Phật giáo hay Nho giáo để cùng phát triển. Đây chính là một biểu tượng cho chữ Hoà (和) của Nhật Bản.

    Đào Ngọc Mỹ Linh, K59 Đông phương học, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn



    [1] Tín ngưỡng dân gian: tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, thờ cúng thiên nhiên, thờ cúng động thực vật, tín ngưỡng phồn thực,…
    [2] Motoori Norinaga 本居宣長 (1730 – 1801) - một trong bốn nhà Quốc học lớn nhất Nhật Bản.
    大久保紀子(2006),「本居宣長における神の概念」,平成17年度活動報告書〜シンポジウム編子茶の水大學出版
    (Noriko Okubo (2006), Khái niệm về Thần theo Motoori Norinaga, bản báo cáo hoạt động năm 2005 – hội nghị chuyên đề về trà Đan, NXB Đại học Nước)

    [3] Có 2 giải thuyết: 1) Vì được cho là thời kì đầu của chính quyền Yamato nằm ở đây. Trên núi cũng thấy có những chuỗi ngôi mộ lớn mà trong đó người ta tin rằng có ngôi mộ của Thiên Hoàng Sujin, Thiên Hoàng Keiko và cả mộ của Nữ vương Himiko. 2) Vì theo tín ngưỡng Iwakura thời cổ đại (磐座信仰) cho rằng trên các hòn đá là nơi các thần giáng lâm và cư ngụ, trong khi phía sườn tây núi Miwa có rải rác một số lượng lớn các hòn đá to nhỏ nên núi Miwa được xem là nơi ở của nhiều vị thần linh.
    [4] Thực chất việc đặt đền ở Ise là bởi đây là cứ điểm quan trọng trong việc Đông tiến của triều đình Yamato. Câu chuyện bắt đầu sau loạn Jinsin, khi Thiên Hoàng Tenmu đặt cứ địa ở phía Đông và phá tan quân của người cháu của mình là con của Thiên Hoàng Tenji. Sau đó đã cưới công chúa của Thiên Hoàng Tenji làm vợ (Thiên Hoàng Jito). Để câu kéo các hào tộc vùng Ise về phía mình, Tenmu đã phải thờ thần của họ, đồng thời, phải xây đền Nữ thần Mặt Trời ở đó với danh nghĩa là vùng đất thiêng.
    [5] Hình thái quản lý hành chính mà vị thủ lĩnh Nhật cổ phải duy trì quan hệ với thần thánh, quan tâm các nhu cầu của thần, tuân theo ý chỉ của thần truyền đạt qua lời sấm truyền hay giấc mơ.
    [6] Phụ lục (Ba kiểu kiến trúc Thần xã cổ đại)
    [7] Thần Kỳ Quan (神姫官/Shinkikan) giữ nhiệm vụ trông coi tế lễ thờ thần và tổ tiên của Hoàng thất; (太政官/Daijokan) là cơ quan chính trị cao nhất trong thể chế luật lệnh của nhà nước Nhật cổ đại.
    [8] Hachiman: vị thần chiến tranh, chi phối miền bắc Kyushu, được coi là linh hồn của Thiên Hoàng Ojin (Ứng Thân Thiên Hoàng). Theo quan điểm vào thời Nara cho rằng Thần là Hộ Pháp Thần, tức là thần bảo vệ Phật pháp, người ta đã tin rằng khi đúc tượng Đại Phật ở chùa Todai (Đông Đại Tự) thì thần Hachiman đã đến hỗ trợ giúp công việc được suôn sẻ.
    [9] Kiến trúc phức tạp có cả Honden (điện thờ chính), Haiden (nơi thờ phụng) được kết nối với nhau trong một quần thể có mái hình chữ H.
    [10] Omiya (Thích Ca), Ni no Miya (Dược Sư), Shoshinshi (A Di Đà), Hachiojin (Thiên Thủ Quan Âm), Marodo (Thập nhất diện Quan Âm), Juzenji (Địa Tạng), San no Miya (Phổ Hiền).
    [11] Nhật Bản là Biên phổ thời Mạt pháp có nghĩa là Nhật Bản là nơi ở xa nhất sự cứu độ của Phật. Để cứu chúng sinh Nhật Bản, Phật dùng các Thần Nhật Bản để làm Thuỳ tích của mình, xuất hiện ở Nhật Bản cứu khổ cứu nạn.
    [12] Thuyết cho rằng 30 vị thần Nhật Bản lần lượt bảo vệ kinh Pháp Hoa một ngày trong suốt 30 ngày trong tháng.
    [13] Thai Tàng Giới gồm Sắc Pháp – đất, nước, lửa, gió, không khí (lý tính) và Kim Cương Giới gồm Tâm Pháp – Tâm Thức (tâm tính), cả hai giới tạo thành một thể thống nhất, là sự hiện diện của Đại Nhật Như Lai.
    [14] Chế độ mà cả Thiên Hoàng và tướng quân đều nắm quyền lực cai trị đất nước.
    [15] Sự phân ly Thần Phật được hiểu như một sự kiêng kị đối với Phật giáo: “Hãy xoá bỏ thế lực của Phật giáo, quay lại cúng tế các vị thần” (Yamato Hime no Mikoto Seiki – Thần đạo ngũ bộ thư) chứ không phải sự phủ nhận hoàn toàn Phật pháp.
    [16] Viên Điền Ngạn là một Quốc thần, truyền thuyết kể rằng thần có thân dài 7 thước, mũi dài 7 thước.
    [17] Thời Edo, Daimyo dùng để chỉ những võ sĩ nằm dưới quyền quản lý trực tiếp của Tướng quân.
    [18] Học phái nghiên cứu văn hoá, khoa học của phương tây thông qua tiếng Hà Lan.
    [19] để cao những giá trị thực sự ở cuộc sống thực tại chứ không ước vọng tìm giá trị ở nơi xa vời trần tục.
    [20] Thần Vũ là con cháu của thần tiên, đồng thời là một vị vua anh minh. Chính phủ dùng hình ảnh này để dấy lên tinh thần phục cổ.
    [21] Betto (Biệt Đương) là một cấp cap trong Xã tăng (Shasho) là những nhà sư tu hành và thực hiện nghi lễ Phật giáo trong đề thờ Thần đạo.
    [22] Fusha là các đền ở phủ Kyoto, Osaka; Kensha là các đền ở các tỉnh còn lại; Hansha là các đền thờ của các phiên cũ; Gosha là các đền thở ở làng xã và Sonsha là thờ ở thôn.
    [23] Shinobu Orikuchi (折口信夫 Orikuchi Shinobu, 11.2.1887 - 3.9.1953), còn được gọi là Chōkū Shaku (釋迢空 Shaku Chōkū), là một nhà dân tộc học, nhà ngôn ngữ học, nhà văn, và nhà thơ Nhật Bản. Là một đệ tử của Kunio Yanagita, ông đã thành lập một trường học mang tên “Orikuchiism” (折口学Orikuchigaku), là sự kết hợp của nền văn học Nhật Bản, kinh điển Nhật Bản, và Shintō.
    [24] Suzuki Daisetsu鈴木大拙 (1870-1966), còn được biết đến với tên Suzuki Teitaro Daisetz, là một học giả lừng danh người Nhật, người đã góp công rất nhiều trong việc truyền bá Thiền tông sang Tây phương.

    Tài liệu tham khảo
    1. Joseph M.Kitagawa (2002), Nghiên cứu tôn giáo Nhật Bản,Hoàng Thị Thơ (dịch), NXB Khoa học xã hội, Hà Nội
    2. Sueki Fumihhiko (2011), Lịch sử tôn giáo Nhật Bản, Phạm Thu Giang (dịch), NXB Alphabooks, Hà Nội
    3. Trần Đình Nghiêm (1998), Mười tôn giáo lớn trên thế giới, NXB Chính trị quốc gia
    4. 古川利道 (2008)、『近代天皇制「政治神学」研究』、大阪健康福祉短期大学紀要第7号
    (Furukawa Toshimichi (2008), “Nghiên cứu ‘học thuyết thần học chính trị’ trong chế độ Thiên Hoàng hiện đại”, tập san số 7, Đại học Sức khoẻ và Phúc lợi Osaka)

    5. Picken, Stuart D.B. (1994), Essentials of Shinto: An Analytical Guide to Principal Teachings. Westport, Connecticut: Greenwood Pres, p. 99. ISBN 0313264317
    6. Blacker, Carmen (1999), The Catalpa Bow: A Study of Shamanistic Practices in Japan (3rd ed.). Richmond: Japan Library, pp. 165–167. ISBN 1873410859
    7. Hori Ichiro(1984), Folk religion in Japan, Continuity and charge, The University of Chicago Press, America
    http://eos.kokugakuin.ac.jp/modules/xwords/entry.php?entryID=1092
    http://www.ndl.go.jp/constitution/e/shiryo/03/056shoshi.html
    8. Đỗ Thị Diu (2009), Khoá luận tốt nghiệp “Quá trình hình thành và phát triển tín ngưỡng “Thần Phật tập hợp” ở Nhật Bản từ cổ đại đến trung thế”, ĐH KHXH – NV, ĐHQGHN, Hà Nội
    9. 大久保紀子(2006),「本居宣長における神の概念」,平成17年度活動報告書〜シンポジウム編子茶の水大學出版
    (Noriko Okubo (2006), Khái niệm về Thần theo Motoori Norinaga, bản báo cáo hoạt động năm 2005 – hội nghị chuyên đề về trà Đan, NXB Đại học Nước)
    10. Các trang website
    http://www.asahi.com/ad/okinoshima2015/
    https://www.isejingu.or.jp/en/about/index.html
    https://en.wikipedia.org/wiki/Izumo-taisha
    http://eos.kokugakuin.ac.jp/modules/xwords/entry.php?entryID=248?iframe=true&width=100%&height=100%

    Phụ lục

    Ba kiểu kiến trúc Thần xã cổ đại:
    Thần xã thường được đặt ở trên những ngọn núi linh thiêng hay gần Himorogi (địa điểm thanh tịnh có cây xanh bao xung quanh) hay Iwasaka (địa điểm thanh tịnh có những mỏm đá thiêng bao quanh) hay trên cánh đồng, bờ biển,… với 3 kiểu kiến trúc truyền thống là Shinmei-zukuri, Taisha-zukuri và Sumiyoshi-zukuri. Điểm quan trọng trong kiến trúc của cả ba nằm ở Honden (chỗ điện thờ chính). Honden mang hình dáng như toà tháp với các cột trang trí Chigi (dọc), Katsuogi (ngang) với lối vào gọi là Tsumairi Zukuri. Các cột trụ chigi và katsuogi được dựng trên mái hình hồi (gabled roof/Kirizuma-zukuri) (làm bằng cây bách) là một kiến trúc điểm hình của Thần đạo, dùng để phân biệt với cấu trúc tôn giáo khác. Trong Honden thường có một cột trụ trung tâm gọi là Shin no Mihashira (Ngự Trụ của Tâm) mang ý nghĩa tâm linh nhất định cùng với những vật biểu trưng cho thần thánh.
    Đi vào chi tiết, Honden kiểu Shinmei-zukuri có hàng rào Tamagaki bao quanh và trông như một kiến trúc nhà nho (Storehouse) với sàn nâng (được phát triển từ Takayukashiki-soko) và lối đi lên phía tay phải toà nhà (Hira-iri). Trong Honden, 8 cột trụ được đặt đối xứng. Tiếp đó, Honden kiểu Taisha-zukuri lại có mái hồi với đuôi uốn cong và mang kiến trúc giống nhà ở (Dwelling) hơn là nhà kho với niềm tin là như thế sẽ bảo quản được báu vật tốt hơn. Honden có hình vuông, lối vào phía mặt tiền (Tsuma-iri). Sàn kiểu này cũng là sàn nâng, rất cao, và cột trụ Shin no Mihashira là cột nằm chính giữa các cột trụ sàn đó. Tuy nhiên, đền Xuất Vân lại được xây theo kiểu bất đối xứng khiến nó giống như một ngôi nhà hơn là đền thờ, điều này là bởi nó sẽ tạo cảm giác vị thần sẽ gần gũi với con người hơn. Cuối cùng là kiểu Sumiyoshi-zukuri. Kiều này cũng có mái hồi không uốn cong và dáng hình chữ nhật như Shinmei-zukuri, nhưng lại có lối đi phía mặt tiền như Taisha-zukuri Đặc trưng của kiều này là nội thất được chia làm 2 phần phía trước và sau, sàn nhà thấp hơn 2 kiểu trên và không có cột trụ trung tâm.
    (Các mẫu Honden, nguồn:
    http://factsanddetails.com/japan/cat16/sub182/item590.html)








    Nguồn: http://cjs.inas.gov.vn/index.php?newsid=1280


+ Trả lời Chủ đề
Quyền viết bài
  • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
  • Bạn Không thể Gửi trả lời
  • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
  • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình