月饼千古由来


Nguồn gốc của Bánh Trung Thu



月饼,原本是祭月时供品的一种,以后成为民间互相馈赠的礼品。《西湖游览志》称:“民间以月饼相馈,取团圆之义。”东坡以“小饼如嚼月,中有酥和饴”来赞誉月饼


Bánh Trung Thu, vốn là vật phẫm cúng Trăng, sau này trở thành lễ vật biếu tặng cho nhau trong dân gian. Theo “Tây Hồ du lãm chí” : “Trong dân gian dùng bánh Trung Thu để tặng cho nhau, mang ý nghĩa đoàn viên.” Tô Đông Pha đã lấy câu “ Tiểu bính như tước nguyệt, trung hữu tô hoà di” (Tiểu Bính giống như mặt trăng, trong có bơ và mật) để khen ngợi chiếc bánh Trung Thu.


相传中国古代,帝王就有春天祭日、秋天祭月的礼制。在民间,每逢八月中秋,也有左右拜月或祭月的风俗。“八月十五月儿圆,中秋月饼香又甜”,这句名谚道出中 秋之夜城乡人民吃月饼的习俗。


Tương truyền Trung Quốc thời cổ đại, theo lễ chế các bậc đế vương cúng mặt trời vào mùa xuân, cúng mặt trăng vào mùa thu. Ở dân gian, mỗi khi đến Trung Thu, rằm tháng 8, cũng có tập tục cúng Trăng hay lạy mặt trăng. “Bát nguyệt thập ngũ nguyệt nhi viên, trung thu nguyệt bính hương hựu điềm” (trăng rằm tháng tám thì tròn, bánh trung thu vừa thơm vừa ngọt) câu ngạn ngữ nói lên phong tục người dân thành thị và nông thôn ăn bánh Trung Thu vào đêm Trung Thu.


月饼最初是用来祭奉月神的祭品,后来人们逐渐把中秋赏月与品尝月饼,作为家人团圆的象征,慢慢月饼也就成了节日的礼品。


Bánh Trung Thu ban đầu là lễ vật dùng để cúng tế Nguyệt thần, sau này dần dần người ta đem việc đêm Trung Thu ngắm trăng và thưởng thức bánh Trung Thu tượng trưng cho việc gia đình đoàn viên, từ đó bánh Trung Thu đã trở thành lễ vật của ngày tết Trung Thu.


月饼,最初起源于唐朝军队祝捷食品。唐高祖年间,大将军李靖征讨匈奴得胜,八月十五凯旋而归。


Bánh Trung Thu, khởi nguồn là món ăn để quân lính ăn mừng chiến thắng vào đời Đường. Thời Đường Cao Tổ, đại tướng quân Lý Tịnh chinh phạt Hung Nô thắng trận, khải hoàn trở về vào ngày 15 tháng 8.


当时有人经商的吐鲁番人向唐朝皇帝献饼祝捷。高祖李渊接过华丽的饼盒,拿出圆饼,笑指空中明月说:“应将胡饼邀蟾蜍”。说完把饼分给群臣一起吃。


Lúc đó có người Thổ Lỗ Phiên làm nghề buôn bán, đã dâng tặng bánh lên vua nhà Đường để mừng chiến thắng. Đường Cao Tổ – Lý Uyên nhận hộp bánh đẹp đẽ và rực rỡ, lấy chiếc bánh hình tròn ra, cười chỉ lên mặt trăng trên trời nói: “nên đem bánh Hồ Bính mời mặt trăng”. Nói xong, thì chia đều bánh cho quần thần cùng thưởng thức.


月饼象征着团圆,是中秋佳节必食之品。在节日之夜,人们还爱吃些西瓜、水果等团圆的果品,祈祝家人生活美满、甜蜜、平安。


Bánh Trung Thu tượng trưng cho sự đoàn viên, là món ăn quan trọng trong ngày lễ Trung Thu. Trong đêm Trung Thu, người ta còn thích ăn dưa hấu, các loại trái cây manh ý nghĩa đoàn viên, cầu mong cuộc sống tốt đẹp, ngọt ngào, bình an.


中秋吃月饼,和端午吃粽子、元宵节吃汤圆一样,是中国民间的传统习俗。古往今来,人们把月饼当作吉祥、团圆的象征。每逢中秋,皓月当空,阖家团聚,品饼赏月,谈天说地,尽享天伦之乐。


Trung Thu ăn bánh Trung Thu cũng giống như tết Đoan Ngọ ăn bánh ú hay tết Nguyên Tiêu ăn chè trôi nước, đều là phong tục truyền thống trong dân gian Trung Quốc. Từ xưa đến nay, người ta xem bánh Trung Thu như biểu tượng của sự may mắn, đoàn viên. Mỗi dịp Trung Thu, trăng sáng trên trời, cả gia đình đoàn tụ, cùng thưởng thức bánh, ngắm trăng, nói chuyện trên trời dưới đất, tận hưởng thú vui gia đình.


月饼,又称胡饼、宫饼、小饼、月团、团圆饼等,是古代中秋祭拜月神的供品,沿传下来,便形成了中秋吃月饼的习俗。


Bánh Trung Thu, còn gọi là bánh Hồ bính, Cung bính, tiểu bính, Nguyệt đoàn, bánh đoàn viên ... , là lễ vật cúng bái Nguyệt thần vào đêm Trung Thu thời xưa, truyền đến ngày nay, đã trở thành tập tục ăn bánh Trung Thu vào đêm Trung Thu.


月饼,在中国有着悠久的历史。据史料记载,早在殷、周时期,江、浙一带就有一种纪念太师闻仲的边薄心厚的“太师饼”,此乃中国月饼的“始祖”。


Bánh Trung Thu có lịch sử lâu đời ở Trung Quốc. Theo tài liệu lịch sử ghi chép, rất sớm vào thời nhà Ân, nhà Chu, khu vực Giang Tô- Chiết Giang, có chiếc “bánh thái sư” vỏ mỏng nhân dày để tưởng nhớ vị thái sư Văn Trọng, đó cũng chính là nguồn gốc của chiếc bánh Trung Thu của Trung Quốc.


汉代张骞出使西域时,引进芝麻、胡桃,为月饼的制作增添了辅料,这时便出现了以胡桃仁为馅的圆形饼,名曰“胡饼”。


Vào thời Hán, lúc Trương Khiên đi sứ ở Tây Vực, đã đưa vừng, hồ đào vào để làm tăng thêm phụ liệu làm nên chiếc bánh Trung Thu, lúc bấy giờ liền xuất hiện chiếc bánh hình tròn có nhân hạt hồ đào, nên gọi là Hồ bính (bánh hồ đào).


唐代,民间已有从事生产的饼师,京城长安也开始出现糕饼铺。据说,有一年中秋之夜,唐太宗和杨贵妃赏月吃胡饼时,唐太宗嫌“胡饼”名字不好听,杨贵妃仰望皎洁的明月,心潮澎湃,随口而出“月饼”,从此“月饼”的名称便在民间逐渐流传开。


Vào thời Đường, trong dân gian đã có thợ làm bánh này, tại kinh thành Trường An cũng đã bắt đầu xuất hiện tiệm bánh. Theo đó, vào một đêm Trung Thu, khi Đường Thái Tông và Dương Quý Phi ngắm trăng và thưởng thức bánh hồ đào (Hồ bính), Đường Thái Tông chê tên “Hồ bính” nghe không hay, Dương Quý Phi ngước nhìn trăng sáng, trong lòng bỗng khơi lên cảm xúc, buột miệng thốt lên “Nguyệt bính” (bánh Trung Thu), từ đó tên gọi “Nguyệt bính” dần dần được lưu truyền trong dân gian.


北宋皇家中秋节喜欢吃一种“宫饼”,民间俗称为“小饼”、“月团”。苏东坡有诗云:“小饼如嚼月,中有酥和饴。”


Người hoàng gia thời Bắc Tống thích ăn một loại “Cung bính”, dân gian gọi là “tiểu bính”, “Nguyệt đoàn”. Tô Đông Pha có câu thơ nói: “tiểu bính như mặt trăng, trong có bơ và mật.”


到了明代,中秋吃月饼才在民间逐渐流传。当时心灵手巧的饼师,把嫦娥奔月的神话故事作为食品艺术图案印在月饼上,使月饼成为更受人民青睐的中秋佳节的必备食品。 明代田汝成《西湖游览记》曰:“八月十五日谓中秋,民间以月饼相送,取团圆之意。”


Đến đời nhà Minh, Trung Thu ăn bánh Trung Thu vẫn lưu truyền trong dân gain. Lúc đó tay nghề làm bánh của các thợ bánh rất tinh xảo, lấy câu chuyện thần thoại Hằng Nga bay lên cung trăng làm hình vẽ in trên chiếc bánh Trung Thu, làm cho chiếc bánh Trung Thu trở thành món ăn không thể thiếu trong ngày lễ Trung Thu càng được người dân xem trọng. Trong “Tây Hồ du lãm ký” của Điền Nhữ Thành đời Minh có viết: “ Rằm tháng tám gọi là Trung Thu, người trong dân gian tặng bánh Trung Thu cho nhau, mang ý nghĩa sum họp đoàn viên.”


清代,月饼的制作工艺有了较大提高,品种也不断增加,供月月饼到处皆有。清代诗人袁景澜有一首颇长的《咏月饼诗》,其中有“入厨光夺霜,蒸釜气流液。揉搓细面尘,点缀胭脂迹。戚里相馈遗,节物无容忽……儿女坐团圆,杯盘散狼藉”等句,从月饼的制作、亲友间互赠月饼到设家宴及赏月,叙述无遗。


Vào đời Thanh, kỹ thuật làm bánh Trung Thu được nâng cao, chủng loại ngày càng nhiều, bánh Trung Thu cúng trăng đâu đâu cũng có. Nhà thơ Viên Cảnh Lan thời Thanh có bài thơ “Vịnh nguyệt bính”, trong đó có câu “ Nhập trù quang đoạt sương, chưng phủ khí lưu dịch. Nhu tha tế diện trần, điểm xuyết yên chi tích. Thích lí tương quỹ dị, tiết vật vô dung hốt… nhi nữ toạ đoàn viên, bôi bàn tán lang tịch”, tự thuật hết tất cả từ việc làm chiếc bánh Trung Thu, bạn bè người thân tặng bánh cho nhau đến việc làm bữa ăn gia đình và ngắm trăng.