Địa chỉ hiện nay
thành phố Cần Thơ
Vùng
Tây Nam Bộ
Bí thư
Nguyễn Tấn Quyên
Chủ tịch HĐND
Nguyễn Hữu Lợi
Chủ tịch UBND
Nguyễn Thanh Sơn
Số ĐBQH
7
Diện tích
1.401,6 km2
Dân số
1.171.100 người (2008)
Mật độ
836 người/km2 (2008)
Dân tộc
Kinh, Khmer, Hoa
Mã điện thoại
711
Mã số xe
65
website
www.cantho.gov.vn

Thành phố Cần Thơ

Tổng quan
 

Thành phố Cần Thơ nhìn từ bến Ninh Kiều - Ảnh: Hoàng Chí Hùng

Thành phố Cần Thơ là 1 trong 5 thành phố trực thuộc Trung ương của Việt Nam, nằm bên bờ Tây sông Hậu. Cần Thơ vốn là đất cũ của tỉnh An Giang thời nhà Nguyễn. Thời Pháp thuộc, Cần Thơ được tách ra thành lập tỉnh, một thời được mệnh danh là Tây Đô, tức trung tâm của vùng Tây Nam Bộ. Thời Việt Nam Cộng Hoà, tỉnh Cần Thơ đổi thành tỉnh Phong Dinh. Sau năm 1975, tỉnh Phong Dinh, tỉnh Ba Xuyên và tỉnh Chương Thiện hợp nhất thành tỉnh Hậu Giang, tỉnh lỵ là thành phố Cần Thơ. Cuối năm 1991, tỉnh Hậu Giang lại chia thành hai tỉnh Cần Thơ và Sóc Trăng. Thành phố Cần Thơ là tỉnh lỵ tỉnh Cần Thơ. Cuối năm 2003, tỉnh Cần Thơ được chia thành thành phố Cần Thơ (trực thuộc Trung ương)tỉnh Hậu Giang.

Cần Thơ là đô thị hạt nhân của miền Tây Nam Bộ từ thời Pháp thuộc, nay tiếp tục là trung tâm kinh tế của vùng Đồng bằng Sông Cửu Long. Ngoài đặc trưng về địa lý là đầu mối giao thông quan trọng giữa các tỉnh trong khu vực, thành phố Cần Thơ còn được biết đến như một "đô thị miền sông nước". Thành phố có hệ thống sông ngòi chằng chịt, vườn cây ăn trái bạt ngàn, đồng ruộng mênh mông. Thành phố nổi tiếng với Bến Ninh Kiều thơ mộng, chợ nổi Cái Răng - một nét sinh hoạt đặc trưng văn hoá Nam Bộ.

Theo quy hoạch đến năm 2025,  thành phố Cần Thơ sẽ trở thành trung tâm công nghiệp, thương mại - dịch vụ, giáo dục - đào tạo và khoa học - công nghệ, y tế và văn hoá của vùng Đồng bằng Sông Cửu Long; là đô thị cửa ngõ của vùng hạ lưu sông Mêkông; là đầu mối quan trọng về giao thông vận tải nội vùng và liên vận quốc tế; có vị trí chiến lược về quốc phòng, an ninh.

Cần Thơ từng được biết đến qua câu ca dao:

Cần Thơ gạo trắng nước trong
Ai đi đến đó lòng không muốn về

Điều kiện tự nhiên
 

Vị trí

Thành phố Cần Thơ nằm bên bờ Tây sông Hậu; Bắc giáp tỉnh An Giang; Nam giáp tỉnh Hậu Giang; Tây giáp tỉnh Kiên Giang; Đông giáp sông Hậu, ngăn cách với tỉnh Đồng Tháptỉnh Vĩnh Long. Thành phố nằm ở trung tâm Đồng bằng Sông Cửu Long, trên trục giao thương giữa vùng tứ giác Long Xuyên, bán đảo Cà Mau, Đồng Tháp Mười và thành phố Hồ Chí Minh.

Thành phố Cần Thơ cách thành phố Hồ Chí Minh 169 km, cách thành phố Cà Mau 178 km, cách thành phố Rạch Giá 128 km, cách biển khoảng 100 km theo đường sông Hậu. Với vị trí này, Cần Thơ nối liền các trung tâm kinh tế của vùng, thuận lợi để hình thành các mối liên hệ, liên vùng với quốc tế. Thành phố đã và đang củng cố hệ thống cảng biển, sân bay để tạo đà phát triển. Cầu Cần Thơ đang được xây dựng, sau khi khánh thành sẽ nối liền các tỉnh miền Tây trên trục quốc lộ 1A.

Địa hình

Địa hình Cần Thơ là dạng địa hình đồng bằng châu thổ với đặc điểm chung là thấp và bằng phẳng. Độ cao trung bình khoảng 1 m so với mặt nước biển, 90% diện tích có độ cao phổ biến từ 0,2 - 1 m, 10% diện tích có độ cao từ 1,5 - 1,8 m. Ðịa hình có dạng lòng chảo, thấp dần từ Bắc xuống Nam và từ Ðông sang Tây. Vùng phía Bắc là vùng trũng nên thường bị ngập úng vào mùa mưa lũ tháng 9 hàng năm. Vùng ven sông khá thuận lợi cho việc lợi dụng thủy triều tưới tiêu tự chảy, vùng xa sông tưới tiêu và cải tạo đất khó khăn hơn.

Địa hình có thể chia thành các dạng như sau:

- Đồng bằng bãi bồi: nằm dọc theo sông Hậu, gồm địa phận các quận Ninh Kiều, Bình Thủy, Ô Môn, Cái Răng và huyện Thốt Nốt. Nhờ có phù sa bồi đắp nên đây là khu vực cao nhất thành phố, nhất là ở các gờ đất ven sông. Quá trình uốn khúc và thay đổi lòng sông làm cho khu vực này còn tồn tại nhiều gờ sông cũ nằm xa sông hiện tại. Phía sau bờ sông là vùng đồng bằng phù sa rộng lớn. Giữa sông Hậu có nhiều cồn nổi như: cồn Khương, cồn Ấu, cồn Cái Khế. Một số cồn có xu hướng dính liền vào bờ sông, như cồn Cái Khê, nay đã nối liền với hữu ngạn sông Hậu, trở thành khu đô thị của thành phố.

- Bồn trũng xa sông: nằm cách xa sông Hậu, do không được bồi đắp phù sa nên có địa hình trũng thấp, chủ yếu ở huyện Cờ Đỏ, huyện Vĩnh Thạnh và một phần huyện Phong Điền. Do địa hình trũng thấp, khó thoát nước nên thường xuyên bị ngập lâu trong suốt mùa mưa và đầu mùa khô. Cuối mùa khô, có thể chỉ còn lại các vùng nước nhỏ.

Khí hậu

Khí hậu Cần Thơ mang đặc điểm khí hậu nhiệt đới gió mùa, có tính chất cận xích đạo và thể hiện rõ ảnh hưởng của hệ thống hoàn lưu Tây Nam từ Ấn Ðộ Dương tới.

- Nhiệt độ không khí thay đổi theo mùa, trong năm có hai mùa rõ rệt, tuy nhiên sự chênh lệch giữa các tháng trong năm không lớn (khoảng 2,5 0C). Nhiệt độ trung bình năm là 26,60C; nhiệt độ thấp nhất là 19,70C; nhiệt độ cao nhất là 34,40C. Tổng số giờ nắng trong năm là 2.300 giờ, tổng lượng bức xạ bình quân hằng năm là 150 kcal/cm2. Biên độ nhiệt giữa ngày và đêm khá lớn, khoảng 7,40C. Sự chênh lệch này thay đổi theo mùa, vào mùa hè do không khí ẩm nên mức chênh lệch thấp, chỉ trên dưới 60C; vào mùa đông do không khí khô hanh nên mức chênh lệch tăng cao, khoảng 8,90C.

- Ðộ ẩm trung bình của các tháng trong năm là 86,6%, chênh lệch độ ẩm giữa các tháng là không lớn. Từ tháng 6 đến tháng 10 có độ ẩm cao nhất, những tháng có độ ẩm thấp nhất trong năm là các tháng 2 và tháng 3.

- Lượng mưa bình quân hàng năm là 1.946 mm, số ngày mưa trung bình 189 ngày. Lượng mưa có sự phân hoá theo vùng nhưng không rõ rệt. Nhìn chung khu vực Tây Bắc có lượng mưa lớn hơn khu vực Đông Nam thành phố. Mưa ở Cần Thơ phân hoá theo mùa rất sâu sắc, mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 11, tập trung từ 92 - 97% lượng mưa cả năm. Mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau với tổng lượng mưa chỉ đạt khoảng 100 mm, chiếm khoảng 3 - 8% lượng mưa cả năm. Mưa tập trung nhiều nhất vào tháng 9, tháng 10, khoảng 270 mm. Tháng 2 ít mưa nhất, chỉ khoảng 2 mm.

Nhìn chung, khí hậu Cần Thơ khá ổn định, ít có thiên tai, nhưng sự phân hoá rõ rệt của khí hậu thường xuyên gây ra khó khăn cho sản xuất và đời sống. Mùa khô lượng mưa quá ít và thời gian kéo dài dẫn đến tình trạng thiếu nước nghiêm trọng cho sản xuất và đời sống; mưa ít, độ ẩm không khí thấp cũng là nguyên nhân dẫn đến hiện tượng dậy phèn trong đất. Mùa mưa cung cấp nguồn nước ngọt dồi dào cho sản xuất và đời sống, góp phần cải tạo đất phèn mặn; tuy nhiên mùa mưa lại trùng với mùa lũ trên sông Hậu nên dễ gây ngập úng ở các vùng trũng như: Thốt Nốt, Vĩnh Thạnh.....Ngoài ra, những hiện tượng thời tiết đặc biệt như sương mù, giông, mưa đá, vòi rồng vẫn có thể xảy ra và gây ra những thiệt hại nhất định. 

Thủy văn

Cần Thơ có hệ thống sông rạch dày đặc, ngoài các sông trong hệ thống sông Hậu còn có các sông nhỏ đổ ra vịnh Thái Lan. Các con sông này đều nối với nhau thành một hệ thống bao trùm toàn bộ lãnh thổ thành phố.

Trên dòng sông Hậu - Ảnh: Hoàng Chí Hùng

- Sông Hậu là một nhánh của sông Cửu Long, đoạn chảy qua thành phố Cần Thơ có chiều dài khoảng 60 km, chiều rộng khoảng 800 - 1.500 m. Tổng lượng nước đổ ra biển khoảng 200 tỷ m3/năm, chiếm khoảng 41% tổng lượng nước của cả hệ thống sông Cửu Long. Lưu lượng nước bình quân của sông Hậu tại Cần Thơ là 14.800 m3/s. Chế độ nước của sông Hậu được chia thành 2 mùa:

+ Mùa lũ kéo dài từ tháng 7 đến tháng 12, đỉnh điểm là vào tháng 9, tháng 10. Tại Cần Thơ, lưu lượng cực đại đạt mức 40.000 m3/s

+ Mùa cạn từ tháng 1 đến tháng 6, thấp nhất là vào tháng 3 và tháng 4. Lưu lượng nước trên sông tại Cần Thơ chỉ còn 2.000 m3/s. Mực nước sông lúc này chỉ cao hơn 48 cm so với mực nước biển.

- Sông Cần Thơ chảy theo một vòng cung bao quanh các quận Ô Môn, Bình Thủy, Ninh Kiều rồi đổ ra sông Hậu tại bến Ninh Kiều. Ở nơi giao nhau với sông Hậu, chiều rộng mặt sông lên đến 200 m. Sông có nguồn nước ngọt quanh năm nên có ý nghĩa to lớn về nhiều mặt đối với thành phố như: cung cấp nước cho sản xuất, sinh hoạt; giao thông; du lịch....Sông Cần Thơ nếu được khai thác và bảo vệ tốt sẽ góp phần làm tăng vẻ mỹ quan cho thành phố Cần Thơ, trở thành con sông biểu tượng của thành phố, không kém gì sông Hàn của Đà  Nẵng.

Ngoài ra, trên địa bàn thành phố còn có nhiều sông rạch khác như: sông Ô Môn, sông Bình Thủy, sông Thốt Nốt, rạch Cái Khế, rạch Đầu Sấu....Bên cạnh các sông rạch tự nhiên, thành phố cũng có nhiều kênh rạch nhân tạo như: kênh Cái Sắn, kênh Xà No, kênh Thị Đội, kênh Bốn Tổng....Các con kênh này nối liền hệ thống sông rạch trên địa bàn thành phố, tạo thành mạng lưới sông ngòi kênh rạch dày đặc. Tuy nhiên, những năm gần đây, quá trình đô thị hoá đã lấp dần nhiều kênh rạch, khiến cho mật độ kênh rạch trên địa bàn thành phố giảm đi đáng kể. Rạch Cái Đôi lúc trước chiều ngang khoảng 20 m, dài hơn 4 km, xuồng ghe qua lại dễ dàng, nay nó bị san lấp gần hết. Rạch Cái Khế trên địa bàn quận Ninh Kiều không chỉ đóng vai trò tiêu thoát nước trong thành phố mà còn có cảnh quan rất đẹp. Theo sách Cần Thơ xưa, con rạch này chảy từ cầu Đôi đến cầu Đầu Sấu (dài khoảng 5 km), nước trong xanh, quang cảnh nên thơ và đầy quyến rũ. Nhưng ngày nay, rạch Cái Khế đã mất đi vẻ đẹp xưa vì ô nhiễm nặng nề. Các rạch, hồ khác như Tham Tướng, Bần, Xáng Thổi... lại càng ô nhiễm hơn. Người dân đua nhau cất nhà cửa lấn chiếm sông rạch. Các chủ đầu tư thì san lấp để mở rộng diện tích đất của dự án. Khu đô thị Nam Cần Thơ (quận Cái Răng) có nhiều sông rạch như: Cái Đôi, Bà Chạy, Đình Sang... cũng đã bị nhiều dự án san lấp gần hết.

Tài nguyên thiên nhiên

Đất đai

Các nhóm đất

Cần Thơ nằm bên bờ sông Hậu, thường xuyên được bồi đắp phù sa và có nguồn nước ngọt quanh năm. Đất đai chủ yếu là đất phù sa, về đặc điểm có thể chia thành mấy loại:

Làm đất trồng hoa màu - Ảnh: Hoàng Chí Hùng

- Đất phù sa ven sông: hình thành do sự bồi đắp phù sa hằng năm của sông Hậu. Loại đất này phân bố dọc theo sông Hậu, từ Thốt Nốt đến Cái Răng và trên các cù lao giữa sông. Đất rất phì nhiêu, nhiều chất hữu cơ, thành phần cơ giới tốt. Đất có thể canh tác 2 - 3 vụ lúa/năm và các cây trồng hằng năm khác.

- Đất phù sa có tầng loang lổ đỏ vàng: phân bố thành một dải tiếp giáp với giải đất phù sa ven sông. Dải đất này có chiều rộng không đồng nhất, phía đầu nguồn thuộc huyện Thốt Nốt có diện tích khá hẹp, diện tích tăng dần về phía hạ lưu. Đất có thành phần cơ giới nặng, chủ yếu là đất sét. Do khai thác lâu đời nên tầng thuần thục tương đối dày, khoảng 80 cm. Phần tích tụ phía dưới có đốm rỉ nâu vàng loang lổ do tích tụ các oxit và nhôm trong đất. Loại đất này có thể canh tác lúa 2 vụ/năm, hoa màu và cây công nghiệp.

- Đất phù sa glây: hình thành trên những vùng trũng thường xuyên bị ngập nước, phân bố trên địa bàn các huyện: Cờ Đỏ, Vĩnh Thạnh, Thốt Nốt và một phần huyện Phong Điền. Do bị ngập nước nhiều tháng trong năm, đất bị yếm khí tạo thành tầng tích tụ glây màu xám xanh. Loại đất thường ngập úng vào mùa mưa, nhưng lại thiếu nước vào mùa khô, vì vậy, muốn khai thác, cần có hệ thống thủy lợi hoàn chỉnh để chủ động tưới tiêu. Trong quá trình canh tác, cần kết hợp bón phân hoá học và hữu cơ cân đối, chú trọng bón phân lân trong sản xuất lúa và hoa màu.

- Đất phù sa nhiễm phèn: chủ yếu phân bố ở hai huyện Vĩnh Thạnh và  Cờ Đỏ, phần lớn là đất nhiễm phèn ít hoặc trung bình. Sự hình thành đất nhiễm phèn gắn liền với quá trình tạo khoáng FeS trong đất. Khi đất bị ẩm ướt, FeS không bị biến đổi gọi là phèn tiềm tàng. Khi đất bị khô, ion S2- bị biến thành ion SO42- gọi là đất phèn hoạt động. Trên đất phèn tiềm tàng vẫn có thể canh tác. Do tầng sinh phèn thường nằm rất cạn nên biện pháp quan trọng nhất để đất phèn tiềm tàng không hoạt động là giữ nước trên mặt đất, hoặc ít nhất là giữ nước ở mực cao hơn tầng phèn.

Hiện trạng sử dụng đất

Bảng thống kê hiện trạng sử dụng đất của thành phố Cần Thơ năm 2003

 

 

Tổng diện tích

(nghìn ha)

Đất đã sử dụng

Đất chưa sử dụng

Đất nông nghiệp Đất chuyên dùng Đất ở Diện tích

(nghìn ha)

Tỷ lệ

%

Diện tích

(nghìn ha)

Tỷ lệ

%

Diện tích

(nghìn ha)

Tỷ lệ

%

Diện tích

(nghìn ha)

Tỷ lệ

%

2003 139,0 117,0 84,2 9,4 6,7 4,7 3,4 7,9 5,7

Nguồn: Địa lý các tỉnh và thành phố Việt Nam - Tập 6 - Trang 199 - NXB Giáo dục - 2006


Bảng thống kê hiện trạng sử dụng đất của thành phố Cần Thơ thời điểm 01-01-2008

 

Danh mục Tổng diện tích

(nghìn ha)

Đất nông nghiệp

(nghìn ha)

Đất lâm nghiệp

(nghìn ha)

Đất chuyên dùng

(nghìn ha)

Đất ở

(nghìn ha)

Cả nước 33.115,0 9.420,3 14.816,6 1.553,7 620,4
Đồng bằng Sông Cửu Long 4.060,2 2.560,6 336,8 234,1 110,0
Cần Thơ 140,1 114,0 0,2 10,4 6,0

Nguồn: Tổng cục Thống kê

Sinh vật

Thực vật

Tài nguyên thực vật của Cần Thơ không nhiều. Thành phố không có rừng, ngoại trừ một số vườn sinh thái. Thảm thực vật của Cần Thơ tập trung trên vùng đất phù sa ngọt, gồm các loại cỏ, rong tảo, trâm bầu, cò ke, sung vả, dừa nước, rau má, rau dền lửa, rau sam và các loại bèo, lục bình, rong đuôi chồn, bình bát,... Trên vùng đất phèn chủ yếu có các loài tràm, chà là nước, mây nước, bòng bong, bồn bồn, bình bát, điên điển, lúa ma, sen, bông súng....

Động vật

Động vật của Cần Thơ chủ yếu là thủy sản nước ngọt. Cá, tôm và một số loài nhuyễn thể sống chủ yếu trên các sông rạch. Các loại cá đen như: lóc, rô, trê, bống có số lượng nhiều, sinh trưởng nhanh, sống chủ yếu ở hồ ao, mương đìa. Các loại cá trắng như: chày, mè, năng....thường sống ở các sông lớn như: sông Hậu, sông Cần Thơ, kênh Cái Sắn. Các loài tôm tép như: tôm càng xanh, tép bạc, tép cỏ, tép đất....sống trên sông sạch và đồng ruộng. Thành phố có vườn cò Bằng Lăng là nơi sinh sống của một số loài thực vật tự nhiên và các loài chim, cò. Ngoài ra, thành phố cũng có các điểm du lịch sinh thái như: Ngọc Sinh, Tân Long, Mỹ Khánh....là nơi cư ngụ của một số loài động thực vật.

Khoáng sản

Là vùng đồng bằng trẻ, tài nguyên khoáng sản của Cần Thơ không nhiều. Trên địa bàn Cần Thơ đã tìm thấy một số loại khoáng sản như:

- Than bùn có nhiều nhiều mỏ nhỏ, vỉa dày trên 1 m, rộng 15 - 30 m, kéo dài khoảng 30 km, trữ lượng 30 - 150 nghìn tấn, tập trung ở Ô Môn và Thốt Nốt.

- Sét gạch ngói đã phát hiện được 3 điểm lớn, chất lượng tốt với tầng đất dày 1 - 2 m và tổng trữ lượng khoảng 16,8 triệu m3.

- Sét dẻo nằm cách mặt đất 1 - 2 m, vỉa dày 5 - 6 m, chứa nhiều khoáng vật và rất mịn, có thể dùng trong các ngành tiểu thủ công nghiệp.

- Cát xây dựng có ở nhiều nơi, tập trung nhất ở cù lao Linh, cù lao Khế. Nước khoáng cũng đã tìm thấy ở một số điểm có độ nóng 420C với lưu áp 16 lít/s.

Du lịch
 

Tình hình phát triển

Du khách đến Cần Thơ - Ảnh: Hoàng Chí Hùng

Với ưu thế về địa lý, Cần Thơ nhanh chóng trở thành trung tâm du lịch của vùng Đồng bằng Sông Cửu Long. Từ thế mạnh tự nhiên, thành phố đang tập trung vào bốn loại hình du lịch chính gồm du lịch sinh thái miệt vườn; du lịch sông nước; du lịch văn hoá truyền thống gắn với các di tích lịch sử, danh nhân, đình chùa, làng nghề; du lịch gắn với hội nghị, hội thảo, triển lãm.

Năm 2004, thành phố Cần Thơ đón hơn 1,2 triệu khách đến tham quan du lịch, doanh thu đạt gần 200 tỷ đồng. Năm 2005, thành phố đón trên 1,3 triệu lượt khách du lịch, doanh thu du lịch đạt 228 tỷ đồng, đóng góp cho ngân sách trên 17 tỷ đồng. Riêng về lượt khách lưu trú, năm 2005, Cần Thơ có 500 nghìn lượt khách, trong đó hơn 100 nghìn khách nước ngoài, trong khi An Giang chỉ có trên 100 nghìn khách lưu trú (trong tổng số hơn 2 triệu lượt khách mỗi năm).

Năm 2008, thành phố là nơi đăng cai tổ chức "Năm du lịch miệt vườn sông nước Cửu Long", quảng bá rộng rãi hình ảnh du lịch của vùng Đồng bằng Sông Cửu Long. Sáu tháng đầu năm 2008, các doanh nghiệp du lịch ở Cần Thơ đón và phục vụ 375.973 lượt khách lưu trú, tăng 47% so với cùng kỳ năm trước trong đó khách quốc tế ước đạt 113.100 lượt, tăng 75% so với cùng kỳ. Doanh thu ngành 6 tháng đầu năm 2008, ước đạt 237,4 tỷ đồng, tăng 61% so với cùng kỳ, đạt 53% kế hoạch năm 2008.

Cả năm 2008, thành phố Cần Thơ đón tiếp trên 2,5 triệu lượt khách đến tham quan, mua sắm, tìm kiếm cơ hội hợp tác đầu tư, trong đó khách lưu trú trên 850.000 lượt, tăng 23% so năm trước, với hơn 175.000 lượt khách quốc tế, doanh thu đạt 455 tỷ đồng tăng 24% so năm 2007.

Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tiến bộ đã đạt được, ngành Du lịch thành phố Cần Thơ vẫn còn vướng mắc trong công tác xây dựng cơ sở hạ tầng du lịch và kêu gọi đầu tư các dự án du lịch lớn. Nguyên nhân chính là do công tác qui hoạch chưa ổn định, công tác bồi hoàn giải tỏa gặp khó khăn, cơ sở hạ tầng còn yếu kém, cơ chế chính sách kêu gọi đầu tư chưa cụ thể, thiếu hấp dẫn. Mặc dù đã chú trọng tới đội ngũ nguồn nhân lực song tỉ lệ lao động qua đào tạo, bồi dưỡng chuyên ngành còn thấp và thiếu tính chuyên nghiệp.

Danh thắng

Chợ nổi Cái Răng - Ảnh: Hoàng Chí Hùng

- Chợ nổi Cái Răng

- Chợ nổi Phong Điền

- Chợ đêm Tây Đô

- Công viên Ninh Kiều

- Khu du lịch Phù Sa

- Khu du lịch Mỹ Khánh

- Khu du lịch Thủy Tiên

- Khu du lịch Ba Láng

- Khu du lịch Gia Trang Quán

- Vườn cò Bằng Lăng

- Nông trường Sông Hậu

Di tích

Bảo tàng Quân Khu IX - Ảnh: Hoàng Chí Hùng

- Bảo tàng Quân Khu IX

- Chùa Ông

- Di tích Lộ Vòng Cung

- Bảo tàng Cần Thơ

- Nhà cổ Bình Thủy

- Đình Bình Thủy

- Chùa Munir Asây

- Chùa Hội Linh

- Mộ Phan Văn Trị

- Chùa Nam Nhã

- Mộ Bùi Hữu Nghĩa

- Chợ Cần Thơ

Nhà hàng

- Nhà hàng Hoa Sứ: khu Bãi Cát, quận Ninh Kiều. Điện thoại: 071.820 717. Quy mô: Nhà hàng lớn trực thuộc Công ty Du lịch Cần Thơ. Món ăn nổi tiếng: Ốc luộc mẻ, Ốc nướng tiêu.
- Nhà hàng Dạ Lý: số 83 đường 3/2, quận Ninh Kiều. Điện thoại: 071.838 764. Quy mô: Nhà hàng lớn, phục vụ cho khách du lịch và khách địa phương. Món ăn nổi tiếng: Lẩu mắm.
- Quán cơm Ngọc Mai: số 131 đường 3/2, quận Ninh Kiều. Điện thoại: 071.838 764. Quy mô: Nhà hàng lớn, phục vụ cho khách du lịch và khách địa phương. Món ăn nổi tiếng: Canh chua cá kho tộ.
- Nhà Khách Cần Thơ: số 41 đường Châu Văn Liêm, quận Ninh Kiều. Điện thoại: 071.820 356. Quy mô: Nhà khách trực thuộc ủy ban nhân dân thành phố. Món ăn nổi tiếng: Bánh xèo.
- Nhà hàng Hoa Cau: số 04 đường Hai Bà Trưng, quận Ninh Kiều. Điện thoại: 071.816 101. Quy mô: Nhà hàng trực thuộc Công ty Du lịch Cần Thơ. Nổi tiếng với Hủ tiếu Hoa cau, khuôn viên thoáng mát.
- Quán Hủ tíu Ngọc Lan:
+ Hủ tíu Ngọc Lan II, đối diện chợ An Thới, đường Cách mạng tháng Tám, phuờng An Thới, quận Bình Thủy.
+ Hủ tíu Ngọc Lan I, dưới dốc cầu Bình Thủy, đường Lê Hồng Phong, quận Bình Thủy. Quy mô: Kinh doanh hộ gia đình. Nổi tiếng với món Hủ tiếu gà từ hàng chục năm nay.
- Tiệm bánh xèo Ngọc Ngân: Số 118/9/49D đường Trần Phú, quận Ninh Kiều. Điện thoại: 071.811 613. Món ăn nổi tiếng: Cháo cá, bánh xèo.
- Tiệm cơm tấm Bà Tư: số 154/1 đường Phan Đình Phùng, quận Ninh Kiều. Điện thoại: 071.827 357. Quy mô: Kinh doanh hộ gia đình. Món ăn nổi tiếng: Cơm tấm.
- Quán nem nướng Thanh Vân: Số 17 Đại lộ Hoà Bình, quận Ninh Kiều. Điện thoại: 071.827 255. Quy mô: Kinh doanh hộ gia đình. Món ăn nổi tiếng: Nem nướng bánh hỏi.
- Bún măng Phan Đình Phùng: Số 123 đường Phan Đình Phùng, quận Ninh Kiều. Quy mô: Kinh doanh hộ gia đình;
- Bánh cống Nguyễn Trãi: số 6A đường Nguyễn Trãi, quận Ninh Kiều. Điện thoại: 071.825 397. Quy mô: Kinh doanh hộ gia đình;
- Bún bò Huế Vĩ Dạ: số 15, đường Xô Viết Nghệ Tĩnh, quận Ninh Kiều. Quy mô: Kinh doanh hộ gia đình;
- Bún bò Huế Hữu Thọ: số 16, đường Đồng Khởi, quận Ninh Kiều. Quy mô: Kinh doanh hộ gia đình;
- Phở Bò: đường Cách mạng Tháng Tám, quận Ninh Kiều;
- Phở 16: số 16 đường 3/2, quận Ninh Kiều (gần góc đường 3/2 và Mậu Thân). Quy mô: Kinh doanh hộ gia đình.
- Phở Oanh: số 98, đường Lý Tự Trọng, quận Ninh Kiều. Điện thoại: 071.830 820. Quy mô: Kinh doanh hộ gia đình.
- Tiệm Viễn Hưng: số 43, đường Võ Văn Tần, quận Ninh Kiều. Điện thoại: 071.824 794. Quy mô: Kinh doanh hộ gia đình. Món ăn nổi tiếng: Bánh mì xíu mại.
- Quán ăn Viễn Lạc: số 209, đường Phan Đình Phùng, quận Ninh Kiều. Điện thoại: 071.810 943. Quy mô: Kinh doanh hộ gia đình. Món ăn nổi tiếng: Bánh mì xíu mại.
- Bánh ướt Cây me: số 35, đường Đồng Khởi, quận Ninh Kiều. Điện thoại: 071.825 809. Quy mô: Kinh doanh hộ gia đình. Món ăn nổi tiếng: Bánh ướt.
- Bánh tét:
+ Lò bánh chị Tư Cẩm, tổ 7, khu vực Thới Bình, Thới An Đông, quận Bình Thủy. Quy mô: Kinh doanh hộ gia đình.. Bán tại chợ Xuân Khánh. Điện thoại: 071.842 963;
+ Lò bánh tét Thúy, số 233/46/25A đường Nguyễn Văn Cừ, quận Ninh Kiều. Quy mô: Kinh doanh hộ gia đình. Bán tại chợ An Hoà. Điện thoại: 071.891 671;
+ Cơ sở Minh Tân, bán tại số 44 đường Tân Trào, quận Ninh Kiều. Quy mô: Kinh doanh hộ gia đình. Bán tại Nhà lồng 3 chợ Cái Khế. Điện thoại: 071.812589;
- Nem chua Cái Răng (Cô Phúc): dưới dốc cầu Cái Răng, quốc lộ 1A, quận Cái Răng. Quy mô: Kinh doanh hộ gia đình./.

Nguồn: Website: www.cantho.gov.vn

Bar, cà phê

· Lâm Gia (Bossman): 23 Ngô Gia Tự. ĐT: 071. 812 413
· Cánh Hồng: 50B Hùng Vương. ĐT: 071. 823 889
· Trung Nguyên: 135 Trần Hưng Đạo. ĐTl: 071.835 433
· Địa Đàng: 43/9 đường 30/4. ĐT: 071. 738 396

· VIP2: 6 Hòa Bình. ĐT: 071.825 149
· Hợp Phố: 6 Ngô Gia Tự. ĐT: 071. 815 208
· Phố Nhớ: Khu Vòng Xoáy, Công Viên Nước. ĐT: 071. 762 042

Nguồn: Website: www.cantho.gov.vn

Khách sạn

- Golf Cần Thơ: 2 đường Hai Bà Trưng. ĐT: 812210. Tiêu chuẩn: 4 sao

- Victoria Cần Thơ: phường Cái Khế. ĐT: 827454 - 810111. Tiêu chuẩn: 4 sao
- Hoà Bình: 5 Đại lộ Hoà Bình. ĐT: 820059. Tiêu chuẩn: 3 sao
- Quốc Tế: 12 đường Hai Bà Trưng. ĐT: 822079. Tiêu chuẩn: 3 sao

- Sài Gòn - Cần Thơ: 55 đường Phan Đình Phùng. ĐT: 825831. Tiêu chuẩn: 3 sao
- Tây Đô: 61 đường Châu Văn Liêm. ĐT: 821009. Tiêu chuẩn: 3 sao

- Hậu Giang A: 34 đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa. ĐT: 82185. Tiêu chuẩn: 2 sao
- Minh Nguyệt: 110D đường CMT8. ĐT: 821580 - 811755. Tiêu chuẩn: 2 sao

- Ninh Kiều: 2 đường Hai Bà Trưng. ĐT: 824583 - 825285. Tiêu chuẩn: 2 sao

- Phương Đông. 62 đường 30/4. ĐT: 812199. Tiêu chuẩn: 2 sao

- Quang Sang: 74 đường Hùng Vương. ĐT: 820980. Tiêu chuẩn: 2 sao

- Cửu Long: 52 đường Quang Trung. ĐT: 822669. Tiêu chuẩn: 2 sao
- Trí Thiện: 138C đường Lý Tự Trọng. ĐT: 731388 - 731399. Tiêu chuẩn: 2 sao

- Ngân Hà: 39-41 đường Ngô Quyền. ĐT: 821024 - 822921. Tiêu chuẩn: 1 sao

- Tân Tây Đô: 26 đường Trần Phú. ĐT: 826134. Tiêu chuẩn: 1 sao

- Trân Vy: 118/9/44 đường Trần Phú. ĐT: 828454. Tiêu chuẩn: 1 sao

Nguồn: Website: www.cantho.gov.vn

Hành chính hiện nay
 

Hiện nay, thành phố Cần Thơ có 9 đơn vị hành chính trực thuộc, gồm 5 quận là: quận Ninh Kiều, quận Bình Thủy, quận Cái Răng, quận Ô Môn, quận Thốt Nốt và 4 huyện là: huyện Phong Điền, huyện Cờ Đỏ, huyện Vĩnh Thạnh, huyện Thới Lai.  Trong đó, huyện Vĩnh Thạnh có diện tích lớn nhất, quận Ninh Kiều có diện tích nhỏ nhất. Tổng số đơn vị hành chính cấp xã tại thời điểm 31-12-2008 là 85, trong đó có 44 phường, 5 thị trấn và 36 xã.

Các cơ quan quản lý cao nhất của tỉnh hiện nay là: Thànhh ủy, Hội đồng Nhân dân (HĐND) và Ủy ban Nhân dân (UBND):

- Thành ủy là cơ quan đại diện cho đảng bộ đảng Cộng sản Việt Nam tại thành phố. Đứng đầu là Bí thư Tỉnh ủy. Quyền hạn và trách nhiệm được quy định theo Điều lệ đảng. Bí thư thành ủy hiện nay là ông Nguyễn Tấn Quyên.

- HĐND theo quy định là cơ quan quyền lực nhân dân trong thành phố, được bầu lên với nhiệm kỳ 5 năm. Đứng đầu cơ quan này là Chủ tịch HĐND. Chủ tịch HĐND thành phố Cần Thơ hiện nay là ông Nguyễn Tấn Quyên kiêm Bí thư thành ủy.

- UBND do Hội đồng nhân dân chọn ra, có trách nhiệm quản lý trực tiếp các vấn đề hành chính, kinh tế, xã hội, văn hoá....của thành phố. Đứng đầu UBND là Chủ tịch và các phó Chủ tịch, bên dưới là các Sở ban ngành quản lý từng lĩnh vực cụ thể. Chủ tịch UBND thành phố Cần Thơ hiện nay là ông Trần Thanh Mẫn. Ông Mẫn được bầu làm Chủ tịch UBND thành phố vào ngày 03-03-2008 tại kỳ họp bất thường HĐND thành phố Cần Thơ (khoá VII – kỳ họp thứ XII) thay cho ông Võ Thanh Tòng. Trước đó, ông Võ Thanh Tòng đã bị Ban Bí thư Trung ương đảng Cộng sản ra quyết định kỷ luật với hình thức cảnh cáo về mặt Đảng vì đã buông lỏng quản lý trong chỉ đạo thực hiện giao đất, cho thuê đất; cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; vi phạm Luật Ngân sách nhà nước...

Lịch sử hình thành và phát triển
 

Lịch sử hành chính

Đất Cần Thơ ngày nay được chính thức có tên trên dư đồ nước Việt vào năm 1739 với tên gọi Trấn Giang, do Mạc Thiên Tích có công khai phá cùng thời với đất Cà Mau, Rạch Giá và Bắc Bạc Liêu. Sau đó cùng sáp nhập vào đất Hà Tiên. Mạc Thiên Tích đã sớm nhận thấy vị trí chiến lược của Trấn Giang - là hậu cứ vững chắc cho Hà Tiên trong việc chống lại quân Xiêm và quân Chân Lạp - nên đã tập trung xây dựng nơi đây thành Thủ sở với các thế mạnh cả về quân sự lẫn kinh tế và văn hoá.

Năm 1771, quân Xiêm tấn công Hà Tiên nhưng không chiếm được Trấn Giang. Năm 1774, nghĩa quân Tây Sơn kéo quân vào Nam đánh chiếm thành Gia Định, sau đó kéo xuống miền Tây và Trấn Giang. Sau trận Rạch Gầm Xoài Mút (01-1785), năm 1787, quân Tây Sơn rút khỏi các dinh trấn miền Tây, Trấn Giang trở lại dưới quyền bảo hộ của nhà Nguyễn. Suốt thập niên 70 của thế kỷ XVIII, Trấn Giang trở thành một cứ điểm quan trọng và phát triển mạnh trong bối cảnh lịch sử đầy xáo động.

Năm 1808, dưới triều vua Gia Long, đất Trấn Giang thuộc trấn Vĩnh Thanh (trước đó từng có tên là dinh Long Hồ, dinh Hoằng Trấn, Vĩnh Trấn), một trong 5 trấn của Gia Định bấy giờ là: Phiên An, Biên Hoà, Vĩnh Thanh, Định Tường và Hà Tiên. Năm 1832, dưới triều vua Minh Mạng, ngũ trấn được đổi thành lục tỉnh là Biên Hoà, Gia Định, Định Tường, Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên. Đất Cần Thơ ngày nay (tức Trấn Giang ngày xưa) được lập thành huyện Vĩnh Định và cắt về phủ Tân Thành, tỉnh An Giang. Năm 1839, vua Minh Mạng lại đổi tên huyện Vĩnh Định thành huyện Phong Phú, và cho thuộc về phủ Tịnh Biên, tỉnh An Giang.

Thời Pháp, huyện Phong Phú được nhiều lần sáp nhập với các vùng lân cận. Ngày 01-01-1868, Pháp lập hạt thanh tra Cần Thơ. Ngày 05-06-1871, giải thể hạt Cần Thơ, nhập vào hạt Sa Đéc. Ngày 30-04-1872, lấy đất của hạt thanh tra Cần Thơ cũ hợp với hạt thanh tra Bắc Trang thành hạt thanh tra Trà Ôn, gồm 11 tổng: tổng An Tường với 18 thôn, tổng Bình Lễ với 9 thôn, tổng Định Bảo với 14 thôn, tổng Định An với 6 thôn, tổng Định Phong với 8 thôn, tổng Định Thành với 7 thôn, tổng Định Thới với 14 thôn, tổng Thành Trị với 11 thôn, tổng Thới Bảo Thổ với 13 thôn, tổng Tuân Giáo với 22 thôn, tổng Tuân Lễ với 7 thôn. Lỵ sở của hạt đặt tại chợ Cái Răng.

Ngày 23-03-1876, hạt thanh tra Trà Ôn đổi tên thành hạt tham biện Cần Thơ, lỵ sở đặt tại chợ Cần Thơ, gồm 9 tổng: tổng An Trường với 11 làng, tổng Bình Lễ với 10 làng, tổng Định An với 6 làng, tổng Định Bảo với 11 làng, tổng Định Thới với 10 làng, tổng Thành Trị với 9 làng, tổng Thới Bảo Thổ với 8 làng, tổng Tuân Giáo với 15 làng, tổng Định Hoà với 10 làng.

Từ ngày 01-01-1900, hạt Cần Thơ đổi thành tỉnh Cần Thơ. Năm 1913, lập thêm 4 quận: Châu Thành, Cầu Kè, Ô Môn, Rạch Gòi. Năm 1917, giải thể quận Rạch Gòi thành lập quận Phụng Hiệp. Ngày 10-07-1921, tỉnh Cần Thơ được sắp xếp lại gồm các quận: Châu Thành, Cầu Kè, Ô Môn, Trà Ôn. Ngày 24-12-1932, địa bàn tỉnh Cần Thơ được chia lại thành 5 quận:

- Cái Răng: tỉnh lỵ, gồm 1 tổng của quận Châu Thành với một tổng của quận Trà Ôn cũ.

- Ô Môn có 2 tổng

- Phụng Hiệp: có 2 tổng

- Cái Vồn: gồm 1 tổng của quận Châu Thành và 1 tổng của quận Trà Ôn cũ

- Cầu Kè: có 2 tổng

Ngày 27-06-1934, đổi tên quận Cái Răng thành quận Châu Thành, quận Cái Vồ thành quận Trà Ôn. Ngày 22-10-1956, tỉnh Cần Thơ đổi thành tỉnh Phong Dinh. Năm 1961, tách một phần đất của tỉnh Phong Dinh thành lập tỉnh Chương Thiện, đồng thời phân chia lại địa giới hành chính của hai tỉnh này. Năm 1966, thị xã Vị Thanh được thành lập và thuộc tỉnh Cần Thơ. Năm 1972, thị xã Cần Thơ được nâng cấp thành thành phố, tỉnh lỵ tỉnh Cần Thơ.

Sau 30-04-1975, tỉnh Phong Dinh hợp nhất với tỉnh Ba Xuyên và tỉnh Chương Thiện thành tỉnh Hậu Giang. Tỉnh Hậu Giang lúc này bao gồm:

- Thành phố Cần Thơ với 15 phường và 7 xã

- Thị xã Sóc Trăng với 6 phường

- Huyện Thốt Nốt với thị trấn Thốt Nốt và 12 xã

- Huyện Ô Môn với thị trấn Ô Môn và 12 xã

- Huyện Châu Thành với thị trấn Cái Răng và 13 xã

- Huyện Phụng Hiệp với thị trấn Phụng Hiệp và 11 xã

- Huyện Long Mỹ với thị trấn Long Mỹ và 9 xã

- Huyện Vị Thanh với thị trấn Vị Thanh và 10 xã

- Huyện Kế Sách với thị trấn Kế Sách và 12 xã

- Huyện Mỹ Tú với thị trấn Huỳnh Hữu Nghĩa và 15 xã

- Huyện Mỹ Xuyên với thị trấn Mỹ Xuyên và 15 xã

- Huyện Thạnh Trị với thị trấn Phú Lộc, thị trấn Ngã Năm và 12 xã

- Huyện Long Phú với thị trấn Long Phú và 17 xã

- Huyện Vĩnh Châu với thị trấn Vĩnh Châu và 9 xã

Ngày 26-12-1991, Quốc hội Việt Nam ban hành Nghị quyết chia tỉnh Hậu Giang thành tỉnh Cần Thơ và tỉnh Sóc Trăng. Tỉnh Cần Thơ gồm thành phố Cần Thơ và 6 huyện: Thốt Nốt, Ô Môn, Châu Thành, Long Mỹ, Phụng Hiệp, Vị Thanh.

Ngày 01-07-1999, Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị định số 45/1999/NĐ-CP, tách một phần diện tích huyện Vị Thanh tái lập thị xã Vị Thanh, phần còn lại của huyện Vị Thanh đổi tên thành huyện Vị Thủy. Ngày 06-11-2000, Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị định số 64/2000/NĐ-CP, thành lập huyện Châu Thành A,  tỉnh Cần Thơ trên cơ sở tách 22.139 ha diện tích tự nhiên và 163.357 nhân khẩu của huyện Châu Thành.

Ngày 26-11-2003, Quốc Hội Việt Nam thông qua Nghị quyết số 22/2003/QH11, về việc chia và điều chỉnh địa giới hành chính một số tỉnh. Theo đó, chia tỉnh Cần Thơ thành thành phố Cần Thơ trực thuộc trung ương và tỉnh Hậu Giang. Theo nội dung Nghị quyết, thành phố Cần Thơ trực thuộc trung ương có diện tích tự nhiên là 138.959,99 ha và dân số hiện tại là 1.112.121 người, bao gồm: diện tích và số dân của thành phố Cần Thơ; huyện Ô Môn; huyện Thốt Nốt; một phần của huyện Châu Thành, bao gồm: thị trấn Cái Răng; các ấp Thạnh Mỹ, Thạnh Huề, Thạnh Thắng, Yên Hạ và 176 ha diện tích cùng với 2.216 người của ấp Phú Quốc thuộc xã Đông Thạnh; các ấp Thạnh Hoá, Thạnh Hưng, Thạnh Thuận, An Hưng, Thạnh Phú, Phú Khánh, Khánh Bình và 254,19 ha diện tích cùng với 1.806 người của ấp Phú Hưng thuộc xã Phú An; các ấp Phú Thành, Phú Thạnh, Phú Thuận, Phú Thuận A và 304,61 ha diện tích cùng với 1.262 người của ấp Phú Lợi thuộc xã Đông Phú; một phần của huyện Châu Thành A, bao gồm: xã Trường Long; xã Nhơn Ái; xã Nhơn Nghĩa; ấp Tân Thạnh Đông và 84,7 ha diện tích cùng với 640 người của ấp Tân Thạnh Tây thuộc xã Tân Phú Thạnh.

Ngày 02-01-2004, Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị định số 05/2004/NĐ-CP, về việc thành lập các quận Ninh Kiều, Bình Thủy, Cái Răng, Ô Môn, các huyện Phong Điền, Cờ Đỏ, Vĩnh Thạnh, Thốt Nốt và các xã, phường, thị trấn thuộc thành phố Cần Thơ trực thuộc Trung ương. Cụ thể như sau:

- Thành lập quận Ninh Kiều trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên và dân số của các phường: Cái Khế, An Hoà, Thới Bình, An Nghiệp, An Cư, An Hội, Tân An, An Lạc, An Phú, Xuân Khánh, Hưng Lợi và xã An Bình (thuộc thành phố Cần Thơ cũ). Đổi xã An Bình thành phường An Bình. Quận Ninh Kiều có 2.922,04 ha diện tích tự nhiên và 206.213 nhân khẩu; có 12 đơn vị hành chính trực thuộc gồm các phường: Cái Khế, An Hoà, Thới Bình, An Nghiệp, An Cư, An Hội, Tân An, An Lạc, An Phú, Xuân Khánh, Hưng Lợi và An Bình

- Thành lập quận Bình Thủy trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên, dân số của các phường: Bình Thủy, An Thới, Trà Nóc và các xã: Long Hoà, Long Tuyền và Thới An Đông (thuộc thành phố Cần Thơ cũ). Đổi các xã Long Hoà, Long Tuyền, Thới An Đông thành các phường Long Hoà, Long Tuyền, Thới An Đông. Quận Bình Thủy sau khi được thành lập có 6.877,69 ha diện tích tự nhiên và 86.279 nhân khẩu; có 6 đơn vị hành chính trực thuộc gồm các phường: Bình Thủy, An Thới, Trà Nóc, Long Hoà, Long Tuyền, Thới An Đông.

- Thành lập quận Cái Răng trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên, dân số của phường Hưng Phú, xã Hưng Thạnh (thuộc thành phố Cần Thơ cũ); toàn bộ 246,37 ha diện tích tự nhiên và 13.968 nhân khẩu của thị trấn Cái Răng, 1.035,81 ha diện tích tự nhiên và 10.431 nhân khẩu của xã Đông Thạnh, 2.013,29 ha diện tích tự nhiên và 12.781 nhân khẩu của xã Đông Thạnh, 2.013,29 ha diện tích tự nhiên và 12.781 nhân khẩu của xã Phú An, 806,66 ha diện tích tự nhiên và 6.386 nhân khẩu của xã Đông Phú thuộc huyện Châu Thành; 531,52 ha diện tích tự nhiên và 6.339 nhân khẩu của xã Tân Phú Thạnh thuộc huyện Châu Thành A. Lần lượt thành lập các phường của quận Cái Răng như sau:

+ Thành lập phường Lê Bình trên cơ sở toàn bộ 246,37 ha diện tích tự nhiên và 13.968 nhân khẩu của thị trấn Cái Răng.

+ Thành lập phường Thường Thạnh trên cơ sở 1.035,81 ha diện tích tự nhiên và 10.431 nhân khẩu của xã Đông Thạnh (thuộc huyện Châu Thành).

+ Thành lập phường Phú Thứ trên cơ sở 2.013,29 ha diện tích tự nhiên và 12.781 nhân khẩu của xã Phú An (thuộc huyện Châu Thành).

+ Thành lập phường Tân Phú trên cơ sở 806,66 ha diện tích tự nhiên và 6.386 nhân khẩu của xã Đông Phú (thuộc huyện Châu Thành).

+ Thành lập phường Ba Láng trên cơ sở 531,52 ha diện tích tự nhiên và 6.339 nhân khẩu của xã Tân Phú Thạnh (thuộc huyện Châu Thành A).

+ Thành lập phường Hưng Thạnh trên cơ sở toàn bộ 867,15 ha diện tích tự nhiên và 8.249 nhân khẩu của xã Hưng Thạnh (thuộc thành phố Cân Thơ cũ)

Quận Cái Răng sau khi được thành lập có 6.253,43 ha diện tích tự nhiên và 74.942 nhân khẩu; có 7 đơn vị hành chính trực thuộc gồm các phường: Lê Bình, Thường Thạnh, Phú Thứ, Tân Phú, Ba Láng, Hưng Phú, Hưng Thạnh.

- Thành lập quận Ô Môn trên cơ sở toàn bộ diện tích, dân số của thị trấn Ô Môn và các xã Thới An, Phước Thới, Trường Lạc, 3.585,49 ha diện tích tự nhiên và 35.376 nhân khẩu của xã Thới Long thuộc huyện Ô Môn. Lần lượt thành lập các phường của quận Ô Môn như sau:

+ Thành lập phường Châu Văn Liêm trên cơ sở toàn bộ 1.658,42 ha diện tích tự nhiên và 30.485 nhân khẩu của thị trấn Ô Môn.

+ Thành lập phường Thới An trên cơ sở toàn bộ 2.430,62 ha diện tích tự nhiên và 26.474 nhân khẩu của xã Thới An.

+ Thành lập phường Phước Thới trên cơ sở toàn bộ 2.682,57 ha diện tích tự nhiên và 20.193 nhân khẩu của xã Phước Thới.

+ Thành lập phường Trường Lạc trên cơ sở toàn bộ 2.200,16 ha diện tích tự nhiên và 15.803 nhân khẩu của xã Trường Lạc.

+ Thành lập phường Phước Long trên cơ sở 3.585,49 ha diện tích tự nhiên và 35.376 nhân khẩu của xã Thới Long

Quận Ô Môn sau khi được thành lập có 12.557,26 ha diện tích tự nhiên và 128.331 nhân khẩu; có 5 đơn vị hành chính trực thuộc gồm các phường: Châu Văn Liêm, Thới An, Phước Thới, Trường Lạc, Thới Long.

- Thành lập huyện Phong Điền trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên, dân số của các xã Mỹ Khánh, Giai Xuân, Tấn Thới, Nhơn ái, Nhơn Nghĩa và Trường Long. Địa giới hành chính: Đông giáp quận Ninh Kiều, quận Cái Răng; Tây giáp huyện Cờ Đỏ; Nam giáp tỉnh Hậu Giang; Bắc giáp quận Bình Thủy, quận Ô Môn.

- Thành lập huyện Cờ Đỏ trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên, dân số của hai thị trấn: Thới Lai, Cờ Đỏ và các xã: Thới Thạnh, Định Môn, Thới Đông, Trường Thành, Trường Xuân, Trường Xuân A, Đông thuận, Xuân Thắng, Thới Lai, Đông Bình, Đông Hiệp và 69,81 ha diện tích tự nhiên và 13.017 nhân khẩu còn lại của xã Thới Lai thuộc huyện Ô Môn. Thành lập xã Thới Hưng trên cơ sở 6.981 ha diện tích tự nhiên và 13.017 nhân khẩu của xã Thới Long thuộc huyện Ô Môn. Huyện Cờ Đỏ sau khi được thành lập có 40.256,41 ha diện tích tự nhiên và 172.041 nhân khẩu; có 14 đơn vị hành chính trực thuộc gồm thị trấn Thới Lai, thị trấn Cờ Đỏ và 12 xã: Thới Thạnh, Định Môn, Thới Đông, Trường Thành, Trường Xuân, Trường Xuân A, Đông Thuận, Xuân Thắng, Thới Lai, Đông Bình, Đông Hiệp, Thới Hưng.

- Thành lập huyện Vĩnh Thạnh trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên và dân số của thị trấn Thạnh An và các xã: Thạnh An, Thạnh Lộc, Thạnh Quới, Thạnh Mỹ, Thạnh Phú, Thạnh Thắng, Trung Hưng và 2.811,47 ha diện tích tự nhiên và 19.171 nhân khẩu của xã Vĩnh Trinh thuộc huyện Thốt Nốt. Thành lập xã Vĩnh Trinh trên cơ sở 2.811,47 ha diện tích tự nhiên và 19.171 nhân khẩu của xã Vĩnh Trinh thuộc huyện Thốt Nốt. Huyện Vĩnh Thạnh sau khi được thành lập có 41.034,84 ha diện tích tự nhiên và 153.964 nhân khẩu; có 9 đơn vị hành chính trực thuộc gồm thị trấn Thạnh An và các xã: Thạnh Lộc, Thạnh Quới, Thạnh Mỹ, Thạnh Phú, Thạnh Thắng, Trung Hưng, Vĩnh Trinh.

- Thành lập huyện Thốt Nốt trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên và dân số của hai thị trấn Thốt Nốt và các xã: Thuận Hưng, Trung Nhứt, Tân Lộc, Trung Kiên, Trung An, Trung Thạnh, Thới Thuận và 85,94 ha diện tích tự nhiên và 1.618 nhân khẩu còn lại của xã Vĩnh Trinh. Sáp nhập 85,94 ha diện tích tự nhiên và 1.618 nhân khẩu (phần còn lại của xã Vĩnh Trinh) vào xã Thới Thuận. Huyện Thốt Nốt sau khi thành lập có 17.110,08 ha diện tích tự nhiên và 189.641 nhân khẩu; gồm 8 đơn vị hành chính trực thuộc là thị trấn Thốt Nốt và các xã Thuận Hưng, Trung Nhứt, Tân Lộc, Trung Kiên, Trung An, Trung Thạnh, Thới Thuận.

Thành phố Cần Thơ trực thuộc Trung ương sau khi điều chỉnh địa giới hành chính, thành lập các đơn vị hành chính trực thuộc có 138.959,99 ha diện tích tự nhiên và 1.112.121 nhân khẩu; gồm 8 đơn vị hành chính là 4 quận: Ninh Kiều, Bình Thủy, Cái Răng, Ô Môn và 4 huyện: Phong Điền, Cờ Đỏ, Vĩnh Thạnh, Thốt Nốt; có 67 đơn vị hành chính phường xã, thị trấn: 30 phường, 33 xã và 4 thị trấn.

Ngay 23-12-2008, Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị định số 12/NĐ-CP, về việc điều chỉnh địa giới hành chính xã, thành lập xã thuộc huyện Thốt Nốt, huyện Vĩnh Thạnh, huyện Cờ Đỏ; thành lập quận Thốt Nốt và các phường trực thuộc; điều chỉnh địa giới hành chính huyện Cờ Đỏ để thành lập huyện Thới Lai thuộc thành phố Cần Thơ. Cụ thể như sau:

- Thành lập quận Thốt Nốt thuộc thành phố Cần Thơ trên cơ sở toàn bộ 11.780,74 ha diện tích tự nhiên và 160.580 nhân khẩu của huyện Thốt Nốt (bao gồm toàn bộ diện tích tự nhiên và nhân khẩu của thị trấn Thốt Nốt và các xã: Thới Thuận, Trung Nhứt, Trung Kiên, Thuận Hưng, Tân Hưng và Tân Lộc).

- Thành lập huyện Thới Lai thuộc thành phố Cần Thơ trên cơ sở điều chỉnh 25.566,30 ha diện tích tự nhiên và 126.842 nhân khẩu của huyện Cờ Đỏ (bao gồm toàn bộ diện tích tự nhiên và nhân khẩu của 13 đơn vị hành chính trực thuộc, gồm các xã: Thới Thạnh, Tân Thạnh, Định Môn, Trường Thành, Trường Xuân, Trường Xuân A, Trường Xuân B, Trường Thắng, Xuân Thắng, Thới Tân, Đông Bình, Đông Thuận và thị trấn Thới Lai).

Sau khi điều chỉnh, thành phố Cần Thơ có 140.161,60 ha diện tích tự nhiên và 1.147.067 nhân khẩu, có 9 đơn vị hành chính trực thuộc, bao gồm các quận: Ninh Kiều, Bình Thủy, Cái Răng, Ô Môn, Thốt Nốt và các huyện: Phong Điền, Cờ Đỏ, Thới Lai, Vĩnh Thạnh. Ngày 24-06-2009, Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 889/QĐ-TTg công nhận thành phố Cần Thơ là đô thị loại I trực thuộc Trung ương.

Lịch sử tên gọi

Về tên gọi Cần Thơ hiện có nhiều cách giải thích khác nhau.

Theo nhà nghiên cứu Huỳnh Minh trong quyển Cần Thơ xưa và nay thì cho rằng: Ngày xưa, khi chưa lên ngôi, Nguyễn Ánh trong một lần du thuyền trên sông Hậu vào thủ sở Trấn Giang, cập bến Ninh Kiều. Đêm xuống, chúa Nguyễn nhìn vào ra bến sông, thấy thuyền bè đỗ dài tăm tắp, đèn đóm chiếu sáng lập lòe. Văng vẳng trên sông có tiếng ngâm thơ, hò hát, ̣đàn sáo nhịp nhàng. Thấy vậy chúa bèn đặt tên cho bến sông này là Cầm Thi giang. Về sau, do đọc trại thành Cần Thơ. Tên Cần Thơ bắt đầu dùng để chỉ tên sông, về sau thành tên đất, tên hạt, tên tỉnh, tên thành phố.

Một cách giải thích khác cho rằng, xưa ở hai bên bờ sông, dân chúng trồng nhiều rau cần và rau thơm. Mỗi khi người dân gánh rau đi bán thì cất tiếng rao:

Rau cần, rau thơm xanh mướt

Mau mua kẻo hết, chậm bước không còn

Hay

Rau cần lại với rau thơm
Phải chăng đất ấy rau thơm có nhiều

Do vậy mà người ta gọi là sông Cần Thơm, về sau do đọc trại mà thành Cần Thơ.

Lại có ý kiến cho rằng vùng đất này xưa kia của người Khmer. Đất này có nhiều tôm cá, đặc biệt là cá sặc gằng (loại cá to bằng bàn tay, thường dùng làm khô), người Khmer gọi cá này là Krantho. Người Việt do phát âm không chuẩn âm "Kr" nên đọc trại ra thành Cần Thơ. Sau này tên cá dùng để chỉ tên đất.

Cho đến nay, vẫn chưa có cơ sở khoa học nào để khẳng định tính đúng ̣đắn của các cách giải thích này, nhưng chính xác thì tên gọi Cần Thơ được người Pháp dùng lần đầu để đặt tên hạt vào năm 1868. Riêng đối với người dân miền Tây, Cần Thơ còn được biết đến với một tên gọi khác là Tây Đô, tức đô thị của miền Tây, thực ra Tây Đô không phải là tên gọi mà chỉ là biệt danh được nhiều người đặt cho vùng đất này.

Xã hội
 

Dân cư

Quy mô và sự phân bố

Cần Thơ có quy mô dân số vào loại trung bình ở Việt Nam. So với các thành phố trực thuộc Trung ương khác, dân số Cần Thơ đứng thứ 4, trên thành phố Đà Nẵng. Theo thông tin từ Tổng cục Thống kê, dân số Cần Thơ năm 2008 là 1.171.100 người, đạt mật độ 836 người/km2. Theo kết quả điều tra dân số ngày 01-04-2009 dân số Cần Thơ là 1.187.089 người, trong đó: dân cư thành thị 781.481 người chiếm 65,8% và dân cư nông thôn 405.608 người chiếm 34,2%.

Dân cư thành phố Cần Thơ phân bố không đều giữa các quận huyện và giữa các huyện, các quận với nhau. Trong số các huyện, Phong Điền có mật độ dân cư đông nhất (năm 2004: 843 người/km2), Vĩnh Thạnh có mật độ dân cư thấp nhất (năm 2004: 375 người/km2). Trong số các quận, Ninh Kiều có mật độ dân cư cao nhất (năm 2004: 7057 người/km2), Ô Môn có mật độ dân cư thấp nhất (năm 2004: 1.022 người/km2).

Cơ cấu dân số

- Xét theo độ tuổi, Cần Thơ là địa phương có dân số trẻ. Tỷ lệ trẻ em cao. Ngày nay, mức sinh đã giảm nhưng kết cấu dân số vẫn trẻ.

- Xét về giới tính, dân số Cần Thơ có nữ nhiều hơn nam, tuy nhiên, mức chênh lệch không đáng kể và không thay đổi nhiều qua các năm. Theo thông tin từ Tổng cục Thống kê, năm 2004, số nữ trung bình của thành phố là 571.000 người, chiếm 50,8% dân số toàn thành phố; năm 2008, số nữ trung bình của thành phố là 592.400 người, chiếm 50,6% dân số toàn thành phố.

- Về dân tộc, Cần Thơ là địa bàn có nhiều dân tộc cùng cư trú. Người Khmer ở Cần Thơ không nhiều, họ tập trung sống chung quanh chùa hoặc sống rải rác xen kẽ với người Việt ở các quận Ninh Kiều, Ô Môn, Thốt Nốt. Người Hoa ở Cần Thơ thường sống tập trung ở quận Ninh Kiều và huyện Phong Điền, người Hoa gốc Quảng Đông làm nghề mua bán, người Hoa gốc Hẹ làm nghề thuốc Bắc và người Hoa gốc Hải Nam làm nghề may mặc....

- Về lực lượng lao động, Cần Thơ có dân số trẻ, nguồn lao động dồi dào. Năm 2005, tổng số lao động trên địa bàn thành phố 699.835 người, trong đó, lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế: 487.375 người; lao động dự trữ: 212.460 người. Tháng 08-2009, thành phố Cần Thơ triển khai dự án dạy nghề cho người lao động đến tuổi nhằm nâng tỷ lệ từ 35% hiện nay lên 43% vào cuối năm 2010 với số lượng 10.500 người, phấn đấu toàn địa bàn sẽ có 56.500 lao động được dạy nghề (trung và sơ cấp), dẫn đầu vùng Đồng bằng Sông Cửu Long.

Giáo dục

Hệ thống giáo dục của thành phố Cần Thơ bao gồm đầy đủ các cấp học, ngành học: mầm non, tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông. Giáo dục mầm non hiện nay đã có các cơ sở ở tất cả các quận huyện, nhưng vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu xã hội. Không có trường, thiếu lớp học nên phải học nhờ điểm trường tiểu học, học gửi nhà dân là hiện tượng phổ biến của bậc học mầm non (MN) ở thành phố Cần Thơ từ nhiều năm qua. Không chỉ thiếu trường thiếu lớp mà còn thiếu giáo viên. Trong khi ở các bậc học khác, số lượng giáo viên đang dần ổn định, thậm chí thừa ở một số môn thì thành Cần Thơ còn thiếu đến 400 cán bộ, giáo viên mầm non. Giáo dục phổ thông đã có những bước phát triển, thành phố không còn phòng học 3 ca. Cơ sở vật chất trường học có bước phát triển quan trọng. Sách, thiết bị, đồ dùng dạy học và những điều kiện khác được tăng cường đầu tư nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới nội dung, phương pháp giảng dạy, nhất là ở các lớp thay sách.

Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, tại thời điểm 30-09-2008, thành phố Cần Thơ có 255 trường học ở các cấp phổ thông, đứng thứ 11 ở khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long. Tổng số học sinh phổ thông tại thời điểm 31-12-2008 là 170.752 em, trong đó, cấp tiểu học là 85.349 em, cấp trung học cơ sở là 57.454 em, cấp trung học phổ thông là 27.858 em. Tổng số giáo viên phổ thông trực tiếp giảng dạy tại thời điểm 31-12-2008 là 8.828 người, trong đó, giáo viên tiểu học là 4.351 người, giáo viên trung học cơ sở là 3.111 người, giáo viên trung học phổ thông là 1,366 người. Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông năm học 2007 - 2008 là 90,16%, cao hơn so với tỷ lệ trung bình khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long (84,41) và cả nước (86,58%). Năm học 2008 - 2009, tỷ lệ học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông của thành phố đạt 77,3%, thấp hơn so với tỷ lệ trung bình của cả nước (83,8%).

Không chỉ ở các bậc học phồ thông, giáo dục chuyên nghiệp của Cần Thơ cũng đang gặp không ít khó khăn. Thành phố thiếu giáo viên dạy nghề trầm trọng khiến chất lượng đào tạo còn thấp. Theo thống kê, năm 2008, toàn thành phố có 535 giáo viên dạy nghề, trong đó giáo viên có trình độ sau đại học là 28 người (5,23%), đại học - cao đẳng có 370 người (69,16%). Với số giáo viên này, nếu căn cứ mức chuẩn là 25 học sinh/1 giáo viên thì thành phố thiếu đến 300 giáo viên. Với quy mô đào tạo nghề tăng hàng năm khoảng 5,6%, lực lượng giáo viên dạy nghề càng bị dàn mỏng hơn khiến chất lượng đào tạo khó đảm bảo. Không chỉ thiếu về số lượng, chất lượng giáo viên cũng thấp. Có tới 29,78% giáo viên dạy nghề chưa đạt chuẩn quy định, trong đó có 24,17% chưa đạt chuẩn về sư phạm và 5,61% chưa đạt chuẩn về yêu cầu chuyên môn và kỹ năng nghề. Để nâng cao chất lượng dạy nghề, Sở Lao động - Thương binh - Xã hội Cần Thơ cho biết từ năm 2008 đến năm 2010 sẽ phấn đấu bổ sung ít nhất 700 giáo viên nghề.

Ở bậc đại học - cao đẳng, thành phố có nhiều trường đại học hàng đầu khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long như:

- Trường Đại học Cần Thơ (tiền thân là Viện Đại học Cần Thơ 1966 - 1975), là một trường đại học lớn nhất vùng Đồng bằng Sông Cửu Long. Hiện nay trường có 9 khoa và 2 viện nghiên cứu. Nhiệm vụ chính của Trường là đào tạo, nghiên cứu khoa học (NCKH), chuyển giao công nghệ phục vụ phát triển kinh tế - xã hội trong vùng. Song song với công tác đào tạo, Đại học Cần Thơ đã tham gia tích cực các chương trình NCKH, ứng dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật nhằm giải quyết các vấn đề về khoa học, công nghệ, kinh tế, văn hoá và xã hội của vùng. Từ những kết quả của các công trình NCKH và hợp tác quốc tế, Trường đã tạo ra nhiều sản phẩm, quy trình công nghệ phục vụ sản xuất, đời sống và xuất khẩu, tạo được uy tín trên thị trường trong nước và quốc tế.

- Đại học Y Dược Cần Thơ thành lập ngày 22-12-2002 trên cơ sở tách từ Khoa Y - Nha - Dược của Đại học Cần Thơ. Năm 2009, Đại học Y Dược Cần Thơ đã có 6 khoa, 10 phòng, đơn vị trực thuộc với 368 cán bộ viên chức; trong đó gần 150 cán bộ có trình độ từ thạc sĩ, chuyên khoa I đến giáo sư. Trường đã đào tạo cung cấp hơn 6.000 bác sĩ, dược sĩ cho các tỉnh Đồng bằng Sông Cửu Long. Mới đây, Chính phủ Việt Nam đã giao nhiệm vụ đào tạo thạc sĩ cho trường Đại học Y Dược Cần Thơ. Sắp tới, Bộ Giáo dục - Đào tạo sẽ quy định cụ thể các chuyên ngành đào tạo thạc sĩ của trường này.

Y tế

Sau 5 năm kể từ khi được trở thành thành phố trực thuộc Trung ương, mạng lưới y tế Cần Thơ không ngừng được củng cố, tăng cường về cơ sở vật chất, về đội ngũ y, bác sĩ, cán bộ, nhân viên y tế. Năm 2009, Cần Thơ đã có 58/76 trạm y tế đạt chuẩn quốc gia về y tế xã, 97% trạm y tế có bác sĩ, 96% trạm có nữ hộ sinh hoặc y sĩ sản nhi, 97% ấp có cán bộ y tế, 91% có dược sĩ trung học…

Theo thông tin từ Tổng cục Thống kê năm 2008, thành phố có 83 cơ sở khám chữa bệnh trực thuộc Sở Y tế. Trong đó có 15 bệnh viện, 8 phòng khám đa khoa khu vực và 60 trạm y tế phường xã; tổng số giường bệnh là 1.600 giường, trong đó các bệnh viện có 1.300 giường, phòng khám đa khoa khu vực có 85 giường, trạm y tế có 215 giường. Cũng theo thông tin từ Tổng cục Thống kê năm 2008, thành phố có 543 bác sĩ, 605 y sĩ, 484 y tá, 237 nữ hộ sinh, 119 dược sĩ cao cấp, 536 dược sĩ trung cấp và 12 dược tá.

Tại Cần Thơ có một số bệnh viện như: Bệnh viện đa khoa Trung ương Cần Thơ (quy mô 700 giường), Bệnh viện Nhi đồng Cần Thơ, Bệnh viện Thành phố Cần Thơ 30-4, Bệnh viện Tai Mũi Họng Cần Thơ, Bệnh viện Mắt - Răng Hàm Mặt, Bệnh viện y học cổ truyền Cần Thơ, Bệnh viện Tây Đô, Bệnh viện Hoàn Mỹ, Trung tâm Truyền máu và Huyết học khu vực Cần Thơ, Trung tâm chẩn đoán Y khoa, Bệnh viện Lao và Bệnh Phổi Cần Thơ, Bệnh viện Da liễu Cần Thơ, Bệnh viện Ung Bướu Cần Thơ, Trung tâm tâm thần Cần Thơ. Ngoài ra Cần Thơ cũng sắp có một bệnh viện phụ sản 200 giường. Năm 2008 thành phố có bốn bệnh viện đạt “bệnh viện xuất sắc toàn diện”, tám bệnh viện đạt “bệnh viện xuất sắc".

Điểm tiến bộ vượt bậc của ngành Y tế Cần Thơ là ngành đã trang bị hệ thống xử lý nước thải y tế tự động tiên phong trong cả nước. Ngày 28-07-2009, Bệnh viện Đa khoa Thốt Nốt đã nghiệm thu đưa vào sử dụng hệ thống xử lý nước thải y tế hoàn toàn tự động công nghệ cao (BIOFAST) có công suất xử lý 150 m3/ngày đêm do Công ty Cổ phần Khoa học - công nghệ Petech thành phố Hồ Chí Minh cung cấp và lắp đặt. Điểm đáng chú ý ở công nghệ này là tất cả mọi người, kể cả cơ quan chức năng, đều có thể giám sát chất lượng xử lý nước thải 24/24h qua màn hình (hoặc qua mạng Internet) có hiển thị các chỉ tiêu chất lượng cơ bản của nước thải như: PH, nhiệt độ, độ màu, độ đục, COD, lưu lượng nước đầu vào và độ tích tụ của dòng bùn hồi lưu. Trường hợp hệ thống xử lý không đạt một trong các chỉ tiêu thì đèn báo động sẽ hiển thị giúp đơn vị sử dụng phát hiện và xử lý kịp thời. Thành phố Cần Thơ phấn đấu đến năm 2010 thực hiện xử lý 100% chất thải y tế đúng quy định và hoàn chỉnh hệ thống xử lý chất thải y tế trên địa bàn thành phố vào năm 2015.

Kinh tế
 

Nhận định chung

Sau khi trở thành thành phố trực thuộc Trung ương, kinh tế Cần Thơ tiếp tục phát triển. Bình quân 3 năm (2006 - 2008), kinh tế Cần Thơ duy trì mức tăng trưởng khá cao (gần 16%/năm), thu nhập bình quân đầu người đến năm 2008 tính theo giá hiện hành đạt 23,5 triệu đồng/năm (tương đương 1.383USD). Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực; tỷ trọng khu vực I năm 2007 chiếm 16,52%, khu vực II 38,33%, khu vực III 45,15%, so với năm 2005 tỷ lệ này là 17,76%, 38,16% và 44,08%.

Tuy nhiên, những năm gần đây, năng lực cạnh tranh của tỉnh liên tục giảm đi trong bảng xếp hạng cả nước. Năm 2005, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam VCCI công bố năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI), thành phố Cần Thơ xếp thứ 9/42 tỉnh, thành phố cả nước và đứng thứ 3 trong khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long. Năm 2006, Cần Thơ tụt 1 bậc so xếp thứ 10/64 tỉnh, thành cả nước. Sang năm 2007, Cần Thơ tụt tiếp 7 bậc (xếp thứ 17 cả nước) trong PCI. Năm 2008, Cần Thơ tiếp tục sụt lùi đứng thứ 22 cả nước và thứ 8 của vùng Đồng bằng Sông Cửu Long. Năm 2009, Cần Thơ phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế 16% trở lên; trong đó, Nông nghiệp - Lâm - Ngư nghiệp tăng 3 - 3,5%, Công nghiệp - Xây dựng 20,5 - 21%, Thương mại - Dịch vụ 16 - 16,5%.

Các khu vực kinh tế

Nông - Lâm - Ngư nghiệp

Rẫy hoa màu - Ảnh: Hoàng Chí Hùng

Thành phố Cần Thơ có diện tích đất nông nghiệp khoảng 115.000 ha, được sử dụng để trồng lúa, hoa màu và các loại cây ăn quả. Hàng năm, sản xuất được 1,2 triệu tấn lúa, chế biến xuất khẩu từ 500.000 đến 600.000 tấn gạo, khoảng 110.000 tấn trái cây; 90.000 tấn thủy sản và 20.000 tấn thịt gia súc, gia cầm. Sản xuất nông nghiệp chuyển dần theo hướng chuyên canh chất lượng cao, cung cấp phần lớn nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và xuất khẩu. Cơ cấu giá trị sản xuất chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng thủy sản, dịch vụ nông nghiệp, giảm tỷ trọng trồng trọt. Việc ứng dụng công nghệ sinh học, kỹ thuật canh tác tiến bộ, sử dụng giống mới tạo ra sản phẩm sạch, an toàn được chú trọng, tăng dần hiệu quả sản xuất.

Vụ hè thu và thu đông năm 2007, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Cần Thơ khuyến cáo nông dân hạn chế trồng lúa để chuyển sang nuôi thủy sản, tăng hiệu quả thu nhập trên đồng ruộng. Năm 2007, Cần Thơ có tổng diện tích nuôi thủy sản trên đồng ruộng trên 11.000 ha, trong đó diện tích nuôi tôm càng xanh gần 400 ha, diện tích nuôi cá hơn 10.000 ha; kim ngạch xuất khẩu thủy sản của thành phố đạt 274 triệu USD, chiếm 50,4% tổng giá trị xuất khẩu hàng hóa toàn thành phố. Các loại thủy sản được nuôi nhiều nhất và cho năng suất cao là cá chép, mè vinh, mè trắng và tôm càng xanh. Sau khi nuôi cá, tôm, đất được cải tạo, tăng độ phì nhiêu, vụ sản xuất lúa tiếp theo đều cho năng suất cao, chi phí giảm.

Thành phố Cần Thơ đang triển khai bước đầu dự án 4.561 tỷ đồng (90% huy động ngoài ngân sách) để thực hiện chương trình phát triển thủy sản, đưa ngành này thành ngành chủ lực trong kinh tế nông nghiệp. Theo đó, từ năm 2009 đến năm 2010, thành phố sẽ thực hiện 12 dự án xây dựng trại giống thủy sản và vùng nuôi cá tra nguyên liệu, tôm càng xanh tại các huyện, Vĩnh Thạnh, Cờ Đỏ, Phong Điền, quận Thốt Nốt, quận Ô Môn, đưa diện tích nuôi thủy sản, chủ yếu là cá tra lên 15.500 ha. Từ năm 2010 đến năm 2020, thành phố đưa diện tích nuôi thủy sản toàn thành phố đạt 26.000 ha, sản lượng đạt 418.000 tấn, giá trị đạt 3.687 tỷ đồng. Từ năm 2010 đến năm 2020, thành phố xây dựng 116 trại tôm cá giống và trại giống thủy sản cấp I nhằm cung ứng 2,3 tỷ con giống, trong đó có 240 triệu con tôm càng xanh mỗi năm. Về chế biến xuất khẩu, thành phố phấn đấu xuất 163.200 tấn, kim ngạch đạt 864 triệu USD các sản phẩm tôm đông IQF, các dạng sản phẩm HLSO, HOSO, PUD, PD và sản phẩm ăn liền như Sushi, Nobashi, Scafoodmix... Đến năm 2010, thành phố xây dựng 21 nhà máy chế biến thủy sản xuất khẩu với công suất 140.550 tấn/năm. Đến năm 2020, nâng lên 26 nhà máy, công suất 296.500 tấn/năm.

Mô hình sản xuất nông nghiệp thành công nhất của Cần Thơ là Nông trường Sông Hậu - nay là Công ty Nông nghiệp Sông Hậu. Nông trường Sông Hậu được thành lập từ tháng 04-1979 theo Quyết định số 33/QĐ-UBT của Ủy ban Nhân dân tỉnh Hậu Giang, với diện tích tự nhiên là 3.450 ha (tiền thân là Nông trường Quyết Thắng cắt ra 50%). Đến năm 1984 theo Quyết định số 47/QĐ-UBT sát nhập thêm 50% phần diện tích còn lại của Nông trường Quyết thắng đưa tổng diện tích lên 6981,5 ha. Sau này Nông trường Sông Hậu có bàn giao theo Quyết định của UBND tỉnh Cần Thơ cho Thới Lai và phần diện tích xây dựng Đài Việt Nam 2, nên diện tích hiện nay chỉ còn 6924,78 ha. Năm 1992, Nông trường chính thức được phép xuất nhập khẩu trực tiếp và được thành lập doanh nghiệp nhà nước theo Quyết định số 1106/QĐ-UBTcủa UBND tỉnh Cần Thơ. Đến 20-05-1996, Nông trường được bổ sung chức năng xuất nhập khẩu tổng hợp và chuyển đổi từ loại hình sản xuất sang loại hình sản xuất kinh doanh xuất nhập khẩu tổng hợp. Nông trường đã xây dựng cơ sở hạ tầng, đầu tư máy móc thiết bị phát triển công nghiệp hoá chế biến nông sản vùng nông thôn: như 10 phân xưởng chế biến lương thực, 4 phân xưởng chế biến và đóng hộp nông sản, 1 nhà máy chế biến thủy hải sản, 1 nhà máy chế biến gỗ… và đã thành công trong lĩnh vực kinh doanh xuất nhập khẩu, với đa phần các sản phẩm nông lâm thủy sản xuất khẩu được bạn hàng quốc tế tín nhiệm.

Định hướng phát triển nông nghiệp đến năm 2010.
- Trọng tâm phát triển nông nghiệp của thành phố đến năm 2020 là nâng cao trình độ kỹ thuật, công nghệ và tổ chức sản xuất, chuyển đổi cơ cấu sản xuất theo hướng tăng tỉ trọng thuỷ sản và chăn nuôi, ứng dụng các thành tựu của nông nghiệp công nghệ cao vào phát triển các sản phẩm chủ yếu và sản phẩm mới theo yêu cầu phát triển của thành phố.
- Xây dựng các khu nông nghiệp công nghệ - kỹ thuật cao, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ sinh học trong sản xuất giống, xây dựng các mô hình sản xuất tổng hợp, kỹ thuật canh tác hiện đại.
- Phát triển mạnh chăn nuôi heo, gia cầm, nuôi bò thịt, bò sữa theo hướng chăn nuôi công nghiệp.
- Phát triển mạnh các ngành dịch vụ - kỹ thuật nông nhiệp và nghề hoa kiểng đáp ứng nhu cầu phát triển đô thị và du lịch.

Công nghiệp - Xây dựng

Công nghiệp là thế mạnh quan trọng, giữ vai trò chủ đạo của nền kinh tế của thành phố Cần Thơ. Quy mô về giá trị sản xuất công nghiệp đang đứng đầu vùng Đồng bằng Sông Cửu Long và đứng thứ 12 trong cả nước, với nhịp độ tăng trưởng bình quân 19%/năm, đóng góp gần 32%/năm vào GDP thành phố. Năm 2008, giá trị sản xuất công nghiệp đạt trên 15.160 tỷ đồng, toàn ngành hiện có trên 5.880 cơ sở sản xuất công nghiệp, thu hút 52.700 lao động. Theo Sở Công thương thành phố Cần Thơ, giai đoạn 2006 - 2009, tốc độ tăng trưởng bình quân về giá trị sản xuất công nghiệp (GTSXCN) của thành phố khoảng 19,3%/năm. Năm 2006, GTSXCN đạt hơn 9.905 tỷ đồng đến năm 2008 đạt trên 15.263 tỷ đồng. Bên cạnh đó, giá trị tăng thêm của ngành công nghiệp cũng tăng dần qua các năm, năm 2006 là 31,44% thì đến năm 2008 đạt trên 35,1%.

Theo thống kê của Sở Công thương thành phố Cần Thơ, 11 tháng năm 2009, giá trị sản xuất công nghiệp của thành phố thực hiện trên 15.210 tỷ đồng, đạt hơn 84% kế hoạch và tăng 9,2% so với cùng kỳ. Trong đó, công nghiệp quốc doanh trên 1.535 tỷ đồng, giảm 13% so với cùng kỳ; công nghiệp ngoài quốc doanh hơn 12.452 tỷ đồng (đạt 88,3% kế hoạch), tăng 13,4% so với cùng kỳ; công nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài gần 1.223 tỷ đồng, tăng gần 3,4% so với cùng kỳ. Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu tăng so với cùng kỳ năm trước như: thủy sản đóng hộp tăng 12,72%, thủy sản ướp đông tăng 0,17%, bia đóng chai tăng 24,95%, nước uống có ga tăng 6,22%, thuốc lá tăng 1,48%, phân NPK tăng 11,44%, dược phẩm tăng 9,83%, xi măng tăng 22,21%, sắt thép tăng 11,71%, điện sản xuất tăng 12,44%, điện thương phẩm tăng 9,96%, nước máy thương phẩm tăng 23,01%. Tuy nhiên, một số sản phẩm giảm so cùng kỳ như: gạo xay xát và đánh bóng giảm 7,9%, trang in giảm 35,96%, quần áo giảm 18,09%. Ước cả năm 2009, GTSXCN đạt hơn 16.652,8 tỷ đồng, tăng 9,1% so với năm 2008, nhưng chỉ đạt 92% kế hoạch đề ra do tác động của suy giảm kinh tế.

Một số lĩnh vực công nghiệp lớn của thành phố như: chế biến lương thực, thực phẩm và đồ uống, sản xuất phân bón hoá chất, cơ khí, may mặc, vật liệu xây dựng,... Thành phố Cần Thơ đang kêu gọi đầu tư cho các dự án thuộc lĩnh vực: công nghiệp chế biến, điện - điện tử, hoá chất, cơ khí, dệt may, da giày, vật liệu xây dựng. Trong quy hoạch phát triển công nghiệp thành phố đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020, thành phố ưu tiên phát triển công nghiệp chế biến lương thực - thực phẩm, nông thủy sản; công nghiệp cơ khí phục vụ nông nghiệp, hoá chất - dược phẩm, công nghiệp điện - điện tử và tin học, công nghiệp đóng tàu, sửa chữa và lắp ráp ôtô, vật liệu xây dựng, dệt may và sản xuất hàng tiêu dùng.

Năm 2009, thành phố có 6 khu công nghiệp (KCN) tập trung đang hoạt động với diện tích trên 843,5 ha và 3 KCN đang triển khai lập quy hoạch, đưa tổng số KCN trên địa bàn lên 9 KCN với tổng diện tích 1.898 ha. Trong 6 KCN chỉ có KCN Trà Nóc I (135 ha) đã lấp đầy 100% diện tích đất công nghiệp, KCN Trà Nóc II (165 ha) đạt 97%, KCN Thốt Nốt (104 ha) lấp đầy 70%, còn KCN Hưng Phú I (226 ha) mới đạt 44%, Hưng Phú II (212 ha) chỉ 10%... Theo Ban quản lý các Khu Chế xuất và Công nghiệp Cần Thơ, 11 tháng trong năm 2009 đến nay, các KCN thu hút thêm 21 dự án đầu tư mới và 11 dự án tăng vốn mở rộng sản xuất, diện tích đất thuê hơn 23 ha, tổng vốn đầu tư đăng ký trên 268,6 triệu USD. Đồng thời, ngành chức năng đã rút giấy phép 4 dự án do quá hạn không triển khai (vốn đầu tư 26,4 triệu USD). Các khu công nghiệp Cần Thơ hiện có 185 dự án còn hiệu lực (141 dự án hoạt động, 33 dự án đang xây dựng, 11 dự án chưa triển khai), diện tích đất thuê gần 539,6 ha, với tổng đầu tư đăng ký là 1.597 triệu USD; vốn thực hiện hơn 554,3 triệu USD, chiếm tỷ trọng 35% tổng vốn đầu tư đăng ký. Tuy nhiên, theo đánh giá của các ngành chức năng, tốc độ thu hút đầu tư vào thành phố dù cải thiện so với giai đoạn trước, nhưng nạn ô nhiễm môi trường ngày một tăng do sự nóng vội trong phát triển công nghiệp. Như KCN Trà Nóc I hiện vẫn chưa có nhà máy xử lý nước thải tập trung, trong khi đây là nơi tập trung rất nhiều doanh nghiệp chế biến hành nông thủy sản - ngành nhạy cảm với môi trường.

Định hướng phát triển công nghiệp đến năm 2010:
- Công nghiệp sẽ là đầu tàu phát triển là khâu trọng yếu quyết định tạo ra bước phát triển đột phá trong tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của thành phố, mặt khác công nghiệp thành phố Cần Thơ phải làm tốt chức năng là trung tâm công nghiệp, là động lực phát triển công nghiệp vùng Đồng bằng Sông Cửu Long.

- Công nghiệp thành phố Cần Thơ coi trọng phát triển một số ngành thu hút nhiều lao động để giải quyết việc làm; ưu tiên phát triển công nghiệp chế biến nông - thuỷ sản, sản xuất hàng tiêu dùng, công nghiệp năng lượng, điện - điện tử, tin học, cơ khí phục vụ nông nghiệp, công nghiệp dệt may,... và những sản phẩm có lợi thế cạnh tranh cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu. Sử dụng công nghệ nhiều tầng vào từng địa bàn, thích hợp với trình độ lao động, từng bước đầu tư vào chiều sâu, công nghệ cao, công nghệ sạch và loại dần công nghệ lạc hậu.

Thương mại - Dịch vụ

Chợ Cần Thơ - Ảnh: Hoàng Chí Hùng

Với vị trí thuận lợi là trung tâm của vùng Đồng bằng Sông Cửu Long và hệ thống giao thông thủy, bộ thông suốt khắp cả vùng, Cần Thơ còn là nơi tập trung nguyên liệu để chế biến, trung chuyển, mua bán hàng hoá, cung cấp dịch vụ - thương mại cho các tỉnh Đồng bằng Sông Cửu Long và cả nước, đồng thời thực hiện mậu dịch với các nước trên thế giới. Hiện nay, thành phố Cần Thơ đã có quan hệ xuất nhập khẩu với gần 80 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới như Asean, Châu Á Thái Bình Dương, Châu Âu, Châu Phi và Bắc Mỹ,....

Dịch vụ phát triển nhanh theo hướng đa dạng hoá loại hình, tạo nên điểm nhấn khá ấn tượng làm sôi động kinh tế thành phố. Tổng mức hàng hoá bán lẻ trong 3 năm có mức tăng trưởng 20,68%, năm 2007 đạt mức tăng trưởng 21,97%. Về du lịch, năm 2007 lượng khách đến tham quan tăng cao hơn năm trước, trong đó khách quốc tế tăng 33%. Các ngành dịch vụ cao cấp đều có tốc độ tăng trưởng cao hơn mức bình quân. Tín dụng, ngân hàng tiếp tục phát triển với nhiều loại hình dịch vụ mới nhằm nâng cao sức cạnh tranh, phục vụ sản xuất, kinh doanh và nhu cầu của nhân dân.

7 tháng đầu năm 2009, tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu và doanh thu dịch vụ thu ngoại tệ trên địa bàn thành phố ước thực hiện 447,4 triệu USD, đạt 48,2% so kế hoạch năm và tăng 4,3% so cùng kỳ. Trong đó, xuất khẩu hàng hoá hơn 431,9 triệu USD, đạt 48% so kế hoạch và tăng 1,5% so cùng kỳ; dịch vụ thu ngoại tệ 15,5 triệu USD, đạt 53,45% so kế hoạch và giảm 4% so cùng kỳ. Đặc biệt, tình hình xuất khẩu gạo tháng 7 có nhiều tín hiệu khởi sắc, do một số thị trường nhập khẩu gạo đang mở cửa trở lại (Philippin, Malaysia, Trung Quốc, Châu Phi…). Trong 9 tháng đầu năm 2009, các doanh nghiệp xuất gần 437.000 tấn gạo, đạt 82,4% so kế hoạch năm và tăng 20,2% so cùng kỳ, nhưng giá trị chỉ đạt gần 187 triệu USD, giảm 8% về giá trị. Trong đó, xuất trực tiếp 239.000 tấn (giá trị 102 triệu USD), xuất ủy thác 198.000 tấn (85 triệu USD) và cung ứng cho xuất khẩu trên 110.000 tấn quy gạo.

Định hướng phát triển đến năm 2010:
- Đầu tư để phát triển mạnh du lịch, đưa du lịch trở thành ngành có tốc độ tăng trưởng cao, chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu GDP của thành phố. Phát triển du lịch của thành phố theo hướng du lịch xanh, du lịch sinh thái.
- Đẩy mạnh xã hội hoá du lịch, khuyến khích và tạo thuận lợi cho các thành phần kinh tế tham gia dịch vụ du lịch. Tập trung đầu tư vào các khu du lịch có quy mô lớn, khu vui chơi giải trí tổng hợp.
- Xây dựng hoàn chỉnh Khu du lịch quốc gia (hệ thống Cồn Cái Khế , Khu du lịch sinh thái Cồn Ấu, Cồn Khương, Cồn Sơn, Cù lao Tân Lộc), Vườn cò Bằng Lăng. Hình thành tuyến du lịch - du khảo Làng cổ Bình Thuỷ - Lộ Vòng Cung - Chợ nổi Cái Răng, Phong Điền.
Tổ chức xây dựng các sự kiện du lịch, tăng cường quảng bá du lịch để đạt mục tiêu “Cần Thơ - điểm đến lý tưởng, an toàn và thân thiện”, nơi hội tụ “văn minh sông nước Mekong”.

Văn hoá
 

Đình Bình Thủy - Ảnh: Hoàng Chí Hùng

Cần Thơ là vùng đất được khai phá tương đối muộn so với các vùng khác của Đồng bằng Sông Cửu Long. Văn hoá Cần Thơ vừa mang những nét chung của khu vực, vừa có những nét riêng độc đáo của vùng đất sớm được mệnh danh là Tây Đô. Đặc trưng văn hoá Tây Đô được thể hiện qua nhiều phương diện ẩm thực, lối sống, tín ngưỡng, văn nghệ.......

- Hò Cần Thơ là một trong những làn điệu dân ca độc đáo gồm 3 thể loại: hò huê tình, hò cấy và hò mái dài. Hò Cần Thơ xuất phát từ những cầu hò của khách thương hồ lúc rảnh rỗi cắm sào để tìm bạn hò và đợi con nước để rời sang bến khác. Ví như câu:

Cầu tre lắc lẻo anh thắt thẻo ruột gan.
Sợ em đi chửa quen đàng,
Rủi em có mạnh hệ, lỡ làng duyên anh

Bên cạnh đó, các loại hình dân ca khác như đờn ca tài tử, hát bội, cải lương cũng được lưu truyền và gìn giữ từ bao đời nay.

- Đất Cần Thơ xưa là quê hương của nhiều người nổi tiếng như: Nguyễn Văn Nhân, Đoàn Văn Trường, Nguyễn Văn Tuyên, Châu Văn Liêm...những nhà hoạt động cách mạng tiêu biểu trong những năm đầu thế kỷ XX, cùng nhiều tên tuổi nghệ sĩ tài hoa trên lĩnh vực văn hóa nghệ thuật như: đệ nhất danh ca Út Trà Ôn, NSND Phùng Há.....

- Hệ thống đình làng ở Cần Thơ xuất hiện muộn hơn so với các nơi khác. Nhưng về mặt tín ngưỡng, văn hoá, việc thờ cúng, sinh hoạt lễ hội của các ngôi đình ở Cần Thơ không khác mấy so với các ngôi đình ở Nam Bộ. Trong các ngôi đình ở Cần Thơ cũng thờ những vị Tiền hiền, Hậu hiền - những người đã có công mở đất, lập làng, ổn định cho cuộc sống dân cư. Một số ngôi đình nổi tiếng ở Cần Thơ là: đình Bình Thủy, thờ các ông: Đinh Công Chánh, Trần Hưng Đạo, Bùi Hữu Nghĩa...; đình Thới Bình - Tân An, thờ ông Nguyễn Thành Trưng, mà theo người thủ từ ở đây thì ông là người khởi xướng phong trào chống Pháp ở địa phương; đình Thường Thạnh thờ ông Nguyễn Trung Trực - anh hùng chống Pháp nổi tiếng ở miền Nam. Điểm đặc biệt là hầu hết các ngôi đình ở Cần Thơ đều có miếu thờ ông Hổ, miếu Thần Nông. Một số nơi còn có miếu thờ Ngũ Hành nương nương, thờ bà Chúa Xư - vị thần cai quản đất đai ở địa phương. Các ngôi đình của người Hoa thì có thờ Quan Công, như đình Thới Bình - Tân An. Điều này thể hiện sự hòa hợp giữa hai dân tộc Việt - Hoa, cũng như sự giao thoa trong văn hoá, tín ngưỡng một cách rất êm đẹp và công bằng, thể hiện được cuộc sống đan xen giữa hai dân tộc cùng cộng cư trên một vùng đất.

Giao thông
 

Hệ thống hạ tầng giao thông

Cần Thơ nằm ở trung tâm của vùng Đồng bằng Sông Cửu Long nên mạng lưới giao thông thủy, bộ của thành phố đều được phát triển. Với 5 tuyến quốc lộ đi ngang qua như quốc lộ 1A, quốc lộ 91 nối Cần Thơ với tỉnh An Giang, quốc lộ 80 đi Kiên Giang, quốc lộ  91B và tuyến Nam Sông Hậu. Các tuyến này là con đường thông thương giữa Cần Thơ và các tỉnh và ngược lại với tổng chiều dài 116 km. Ngoài ra Cần Thơ hiện có 11 tuyến đường tỉnh với chiều dài hàng trăm km nối liền với các tuyến quốc lộ.

Thành phố Cần Thơ có 2 tuyến đường thủy quan trọng đi qua là tuyến thành phố Hồ Chí Minh đi Cà Mau và tuyến thành phố Hồ Chí Minh đi Kiên Lương, đây là 2 trục vận tải chính của cả vùng Đồng bằng Sông Cửu Long, đã được Ngân hàng thế giới đầu tư với kinh phí trên 80 triệu USD đã đưa vào khai thác và phát huy hiệu quả. Thành phố Cần Thơ có 3 bến cảng:

- Cảng Cần Thơ: diện tích 60.000 m², có thể tiếp nhận tàu biển 10.000 tấn.

- Cảng Trà Nóc: diện tích 16 ha, cảng có 3 kho chứa lớn với dung lượng 40.000 tấn. Khối lượng hàng hóa thông qua cảng có thể đạt đến 200.000 tấn/năm.

- Cảng Cái Cui: có thể phục vụ cho tàu từ 10.000-20.000 tấn, khối lượng hàng hoá thông qua cảng là 4,2 triệu tấn/năm.

Định hướng đến năm 2020, cụm cảng đầu mối trung tâm tại Cần Thơ sẽ là cụm cảng chính của khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long và là đầu mối thương mại hàng hải, phục vụ trực tiếp cho trung tâm của Đồng bằng Sông Cửu Long. Dự kiến, công suất toàn cụm cảng vào năm 2020 sẽ là 7 - 8 triệu tấn/năm.

Sân bay Cần Thơ được nâng cấp từ sân bay Trà Nóc và đưa vào phục vụ vào đầu năm 2009. Giai đoạn đầu, sân bay được cải tạo nâng cấp đường hạ cất cánh (tổng chiều dài 2.400 m, rộng 45 m), đường lăn, sân đỗ máy bay, lắp đặt hệ thống đèn đêm; lề đường băng, dải hãm phanh, đường lăn có kích thước 23 m x 217 m; sân đỗ máy bay có diện tích 27.491 m2. Dự kiến trong thời gian tới, sẽ tiến hành xây dựng các hạng mục: ga hành khách trong nước và quốc tế có diện tích 19.000 m2, ga hàng hoá và các hạng mục kỹ thuật phụ trợ khác, dự kiến vốn đầu tư từ 400 đến 500 tỷ đồng. Khi đó, sân bay Cần Thơ thành sân bay quốc tế. Hiện sân bay có các tuyến nội địa Cần Thơ - Đà Nẵng, Cần Thơ - Huế. Riêng tuyến Cần Thơ - Sài Gòn đang được nghiên cứu để mở. Khi trở thành sân bay quốc tế, sân bay Cần Thơ sẽ có các tuyến đi Singapore, Malaysia, Thái Lan, Campuchia, Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc.....

Tình hình vận tải

Theo thông tin từ Tổng cục Thống kê năm 2007, khối lượng vận chuyển hành khách của thành phố là 93,4 triệu lượt người, khối lượng luân chuyển hành khách đạt 4.199,7 triệu lượt người/km; khối lượng vận chuyển hàng hoá đạt 8.268 nghìn tấn (đường bộ đạt 3.350 nghìn tấn, đường thủy đạt 4.918 nghìn tấn), khối lượng luân chuyển hàng hoá bằng đạt 1.018,1 triệu tấn/km (đường bộ đạt 431,1 triệu tấn/km, đường thủy đạt 857 triệu tấn/km).